bể dâu
trong dòng họ nguyễn du
đặng cao ruyên
Mở đầu Truyện Kiều (Đoạn Trường Tân Thanh), Nguyễn Du (1765-1820), tự Tố Như,hiệu Thanh Hiên nêu lên thuyết "Tài mệnh tương đố":
Trăm năm, trong cõi người ta,
Chữ TÀI chữ MỆNH, khéo là ghét nhau.
Đến câu ba và bốn, tác giả hạ hai câu tự sự:
Trải qua một cuộc BỂ DẤU,
Những điều trông thấy mà đau-đớn lòng.
Qua bốn câu thơ, Nguyễn Du khái luận về "tài mệnh ghét nhau" và về cuộc đời biến đổi khôn lường như "biển xanh biến thành ruộng dâu" hay ngược lại, mà ai trải qua, trông thấy, đều không khỏi không đau đớn, xót xa trong lòng, nhất là Tố Như. Khái luận này được chứng minh cụ thể qua bức tranh xã hội Truyện Kiều, chính yếu là chuyện nàng Vương Thúy Kiều, tài sắc vẹn toàn nhưng mệnh bạc. Tuy nhiên, có thể nói, cuộc bể dâu nói đây cũng chính là cuộc bể dâu trong đời, trong dòng họ và trong quê hương Nguyễn Du, gắn liền với vận mệnh thăng trầm của lịch sử đất nước nữa. Vậy, hãy tìm hiểu hai cuộc DẤU BỂ và BỂ DẤU trong dòng họ Nguyễn Du, mà cho đến nay gia phả và sử sách còn ghi chép được.
I
.- CUỘC DẤU BỂĐời thứ 1: NGUYỄN DOÃN ĐỊCH (? - ?).
Nguyên quán xã Cảo Dương, nay là thôn Tảo Dương, xã Hồng Dương huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Trú quán xã Canh Hoạch, nay là thôn Canh Hoạch, xã Dân Hòa cùng huyện. Đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ tam danh (Thám hoa), khoa Tân Sửu, niên hiệu Hồng Đức 12 (1481), đời Lê Thánh Tông (ở ngôi 1460-1497). Làm quan đến chức Hữu Thị lang. (Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075-1919 (CNKBVN), trang (tr.) 170). Ông là ông nội của Nguyễn Thiến và viễn tổ 11 đời của Nguyễn Du.
Đời thứ 2: KHUYẾT DANH.
ĐÔI DÒNG HUYỀN THOẠI VỀ TRẠNG CẬU NGUYỄN ĐỨC LƯỢNG và TRẠNG CHÁU NGUYỄN THIẾN
Xưa, ở làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông, nay là thôn Canh Hoạch, xã Dân Hòa, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, có hai anh em nhà kia, người anh tên Nguyễn Đức Lượng, học giỏi nhưng thi nhiều khoa không đỗ và cô em gái hiếu thuận, xinh đẹp đang kén chồng. Nghĩ đến tương lai gia đình, hai anh em bàn nhau đi mời thầy địa lý tìm đất để cải táng mộ cha. Sau hơn một năm tìm kiếm khắp vùng, thầy địa lý mới chọn được một huyệt bàng của một ngôi đất quý. Một lễ cải táng hài cốt cha của hai anh em được thực hiện sau đó. (Hương Trà (HT), tr. 177). Về sau, cô em gái lập gia đình, sinh được người con trai tên Nguyễn Thiến, viễn tổ 9 đời của Nguyễn Du. (Nhị-Khê Nguyễn-thị gia-phả).
Đến năm 1514, Nguyễn Đức Lượng (1465-?) thi đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên) khoa Giáp Tuất khi đã 50 tuổi, niên hiệu Hồng Thuận 6 đời Lê Tương Dực (1510-1516). Trước tên là Hề được vua phê cho đổi tên là Đức Lượng. Làm quan đến chức Lễ bộ Tả thị lang. Sau khi mất được tặng Thượng thư. Ông là con Nguyễn Bá Kỳ, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận 4 năm 1463, đời Lê Thánh Tông, làm quan đến chức Thị lang, và là cha Nguyễn Khuông Lễ, đỗ Đệ tam giáp tiến sĩ đồng xuất thân khoa Ầt Mùi niên hiệu Đại Chính 6 năm 1535 đời Mạc Đăng Doanh (1530-1540), được cử đi sứ, làm quan đến chức Hữu thị lang, tước bá. Nguyễn Bá Kỳ là em Nguyễn Bá Ký (?-1465), đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Mậu Thìn niên hiệu Thái Hòa 6 năm 1448, đời Lê Nhân Tông (1443-1459). Ông từng được cử làm Phó sứ sứ bộ sang nhà Minh (1452). Làm quan đến chức Thượng thư, tước Quận công, Quốc tử giám Tế tửu kiêm Văn Minh điện đại học sĩ, Nhập thị kinh diên. (CNKBVN 1075-1919, tr. 92, 112, 322 và 381-382). Người đời gọi Nguyễn Đức Lượng là Trạng cậu và Nguyễn Thiến về sau cũng đỗ Trạng nguyên là Trạng cháu.
Ðời thứ 3: NGUYỄN THIẾN (1495-1557) (1).
Người cùng quê với Trạng cậu. 38 tuổi đỗ Hội nguyên, được ban Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên), khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Đại Chính 3 (1532) đời Mạc Đăng Doanh. Làm quan nhà Mạc đến chức Lại bộ Thượng thư, Ngự sử đài đô ngự sử, Đông các đại học sĩ, Nhập thị kinh diên, tước Thư Quận công, bạn thân của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông là cháu ngoại Tiến sĩ Nguyễn Bá Kỳ. Con ông là Thường Quốc công Nguyễn Quyện, danh tướng nhà Mạc. (CNKBVN 1075-1919, tr. 367). Giang sơn bấy giờ chia làm hai: Từ Thanh Hóa trở vào thuộc nhà Lê làm Nam Triều, từ Sơn Nam (2) trở ra thuộc nhà Mạc làm Bắc Triều. Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), người xã Trung Am, huyện Vĩnh Lại (sau đổi là Vĩnh Bảo), tỉnh Hải Dương, nay là thôn Trung Am xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. 45 tuổi đỗ Trạng nguyên năm 1535 (theo Liệt huyện đăng khoa bị khảo (LHDK), Tam khôi bị lục; Bạch Vân Am cư sĩ Nguyễn Công Văn Đạt phả ký; Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục; Đại Việt lịch đại Tiến sĩ khoa thực lục (TSTL): đỗ năm 50 tuổi), sau Nguyễn Thiến một khoa. Cả 5 trường thi (tức bài thi Hội và bài thi Đình) đều đỗ đầu. Làm quan đến chức Thượng thư, Thái phó, tước Trình Quốc công. 52 tuổi (1542), ông xin về trí sĩ. Nhưng vua Mạc Phúc Nguyên (1546-1561) vẫn thường sai sứ đến hỏi quốc sự. Ông mất năm Mạc Diên Thành 8 (1585) đời Mạc Mậu Hợp (1562-1592). Thọ 95 tuổi theo LHĐK, TSTL: thọ 90 tuổi. Nguyễn Bỉnh Khiêm tự Hanh Phủ, hiệu Bạch Vân Am. Tác phẩm hiện còn 2 tập thơ: Bạch Vân Am thi tập (chữ Hán) và Bạch Am quốc ngữ thi (chữ Nôm). (CNKBVN 1075-1919, tr. 375). Năm 1551, Mạc Phúc Nguyên nghe lời gièm pha của kẻ nịnh thần, nghi ngờ đại tướng Thái tể Phụng Quốc công Lê Bá Ly 77 tuổi (1476-1557), em rể vua Mạc Đăng Dung (1527-1529), và con là Thái phó Lê Khắc Thận có ý làm phản, nên sai quân vây bắt hai cha con Lê Bá Ly và thông gia Nguyễn Thiến. Sau khi thoát được sự vây bắt của vua quan nhà Mạc, trong thế bất đắc dĩ, Nguyễn Thiến phải cùng hai con là võ tướng Nguyễn Quyện, Nguyễn Miễn (3) và gia đình theo Lê Bá Ly dẫn quân trốn vào Thanh Hóa quy thuận triều Lê đã trung hưng ở đây (4). Vua Lê Trung Tông (1548-1556) ban thưởng cho Nguyễn Thiến, cho giữ nguyên chức tước cũ, đảm trách việc tuyển bổ quan lại cho nhà Lê khoảng 7 năm. Ông bị bệnh mất năm Thiên Hựu (1557) đời Lê Anh Tông (1556-1573), thọ 63 tuổi. Tác phẩm của ông còn để lại có 5 bài thơ trong Toàn Việt thi lục.
Tương truyền khi ông cùng với hai người con sắp bỏ nhà Mạc theo nhà Lê, Nguyễn Bỉnh Khiêm có gửi ông một bài thơ có nhiều câu cảm khái. Nhưng sau đó ông vẫn quyết định vào Thanh Hóa giúp vua Lê. Trong Bạch Vân Am thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm còn ghi lại nhiều bài thơ của ông. (Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam - TĐNVLSVN), tr. 636).
Lịch triều hiến chương loại chí (LTHCLC), Tập I, Nhân Vật chí, trang 266, vinh danh ông là một trong 39 Người Phò tá có công lao tài đức thời sau Lê trung hưng: "Lại xét lúc bấy giờ có những người làm tôi nhà Mạc rồi mới qui thuận, mà làm đến Tể tướng (dịch chữ Thai phụ) thì trước sau có ba người là Nguyễn Thiến, Nguyễn Phương Đĩnh, Đỗ Uông, tiếng tăm sự nghiệp của họ đều có tiếng ở đời...".
Đời thứ 4 và thứ 5: NGUYỄN QUYỆN (? - 1593) và NGUYỄN MIỄN (? - ?).
Sinh 13 con, 11 trai đều làm tướng và 2 tiểu thư giai nhân.
Nguyễn Quyện và Nguyễn Miễn đều là học trò Nguyễn Bỉnh Khiêm, văn võ toàn tài, được Bảng nhãn Lê Quý Đôn (1726-1784), nhà bách khoa nhận xét trong Lê triều Thông sử: "Nguyễn Quyện và Nguyễn Miễn đều có sức khỏe, giỏi võ nghệ, có tài làm tướng, thường xuyên thắng trận ví như bức tường thành ở phương Nam cho nhà Mạc".
■
Sau khi Lê Trung Tông (1548-1556) mất - không có con mà bấy giờ dòng dõi họ Lê cũng không có ai - Dực Quận công Trịnh Kiểm (ở chức 1539-1570) muốn tiếm ngôi vua Lê nên cho người ra Hải Dương hỏi ý kiến Trạng Trình. Ông không trả lời mà quay sang bảo người đầy tớ: "Năm nay mất mùa, thóc giống không tốt, chúng mày nên tìm lại giống cũ mà gieo mạ". Nói rồi lại sai đầy tớ ra bảo chú tiểu quét dọn chùa và đốt hương để ông ra chơi chùa, rồi bảo tiểu rằng: "Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản". Sứ giả về kể chuyện lại cho Trịnh Kiểm nghe. Ông hiểu ý mới cho người đi tìm cháu huyền tôn ông Lê Trừ, anh vua Lê Thái Tổ (1428-1433) tên là Duy Bang ở làng Bố Vệ, huyện Đông Sơn đưa về tôn lên làm vua, tức Lê Anh Tông (1556-1573), còn mình thì giữ vai Thái sư, nhưng lấn át cả vua lẫn triều đình. Khi Trịnh Kiểm mất, quyền bính trao lại cho con trưởng Trịnh Cối là người say đắm tửu sắc, tướng sĩ không mấy người phục; lại có em là Trịnh Tùng muốn cướp quyền của anh nên rước vua về Vạn Lại, rồi chia quân ra chống với Trịnh Cối. Trong khi ấy, Mạc Kính Điển (?-1580), thân vương nhà Mạc (lúc làm tướng khi nhiếp chính hơn 20 năm) đem quân vào đánh Thanh Hóa, Trịnh Cối địch không nổi, nên đem quân về hàng họ Mạc. Vua phong cho Trịnh Tùng (1570-1623) làm Thái úy Trưởng Quốc công. Trịnh Tùng trở nên hống hách, tự quyết đoán mọi việc, vua Lê Anh Tông lấy làm lo nên mưu trừ họ Trịnh. Nhưng Trịnh Tùng biết nên sự việc không thành, vua lo sợ phải trốn về Nghệ An. Trịnh Tùng sai người đuổi theo bắt về giết đi rồi nói rằng vua tự thắt cổ chết và lập Duy Đàm, con thứ 5 vua Anh Tông lên ngôi lúc 7 tuổi, tức Lê Thế Tông (1573-1599).
Từ sau khi Lê Trung Tông và Nguyễn Thiến mất, Trịnh Kiểm vừa là tướng tin cậy vừa là con rể An Tĩnh hầu Nguyễn Kim (1533-1545), người đã có công khởi xướng việc chống nhà Mạc, khôi phục nhà Lê. Vào năm 1532, ông tìm được người con rốt của vua Chiêu Tông (1516-1522) tên Lê Duy Ninh phò lên làm vua, lấy hiệu là Lê Trang Tông (1533-1548), lập hành viện ở Vạn Lại, mở đầu triều Lê trung hưng. Nhưng năm 1545, Nguyễn Kim đem binh đi đánh quân Mạc ở Sơn Nam, khi đến huyện Yên Mô bị Dương Chấp Nhất là tướng nhà Mạc trá hàng đánh thuốc độc chết (dâng quả dưa chín tẩm thuốc độc). Quyền bính giao hết cho Trịnh Kiểm.
Vì e sợ hai con Nguyễn Kim tranh giành quyền bính với mình, nên Trịnh Kiểm kiếm chuyện bức tử em vợ là tướng Lạng Quận công Nguyễn Uông. Thái úy Đoan Quận công Nguyễn Hoàng, em Nguyễn Uông sợ bị Trịnh Kiểm ám hại, đã cho người ra Hải Dương vấn kế Trạng Trình, ông nói: "Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân" = Một dãy Hoành Sơn (5) kia có thể yên thân được muôn đời. Nguyễn Hoàng hiểu ý, nên mới nói với chị mình là Ngọc Bảo xin với Trịnh Kiểm anh rể cho được vào trấn thủ phía Nam. Năm 1558, Nguyễn Hoàng rời Thanh Hóa vào Thuận Hóa (xã Ái Tử, sau gọi là kho Cây Khế, huyện Đăng Xương, tỉnh Quảng Trị), thoát khỏi sự nguy hiểm sợ bị Trịnh Kiểm hãm hại nhưng lại là mầm mống của biến cố lịch sử Trịnh - Nguyễn phân tranh xảy ra sau này vào năm 1600 và kéo dài gần 200 năm. Khi Nguyễn Hoàng (1600-1613) trấn thủ Quảng Nam bất đồng với họ Trịnh, mưu đồ lập nghiệp bá một phương và được gọi là chúa Tiên. Trải mấy đời xưng vương không chịu triều cống, ngăn chặn từ sông Linh Giang (sông Gianh) làm ranh giới phòng thủ chống chúa Trịnh, tức giữa xứ Đàng Trong với xứ Đàng Ngoài và dựng đô ở Phú Xuân từ năm 1687 (sau trở thành đế đô nhà Nguyễn và được đổi tên lại là Huế). Họ Trịnh sai quân tiến đánh nhiều lần nhưng không thắng nổi.
■
Hai anh em Nguyễn Quyện và Nguyễn Miễn văn võ toàn tài, sau khi quy thuận, được vua Lê phong làm tướng quân, tuy vẫn được Trịnh Kiểm tỏ ra tin dùng, nhưng thấy rõ trường hợp Nguyễn Uông đã bị bức tử, nên rất lo sợ và phải tìm đường chạy ra Bắc trở về với nhà Mạc (6). Lúc này, nhà Mạc thường xuyên bị quân Lê Trịnh kéo ra Bắc đánh phá. Cho nên, khi thấy hai tướng cũ trở về thì vua Mạc rất mừng, cho phục hồi chức tước cũ. Và để tỏ lòng ưu ái và tín cẩn, Mạc Phúc Nguyên (1546-1561) còn gả con gái cho hai người, phong cho Nguyễn Quyện làm An Viễn tướng quân và Nguyễn Miễn tước Phù Hưng hầu. Hai anh em đốc suất quân sĩ đánh lại quân Lê Trịnh đang lấn chiếm Sơn Nam. Nguyễn Quyện chém được mấy tướng địch khiến quân Lê Trịnh thua to, phải rút về bảo vệ Thanh Hóa. Thấy vậy, Mạc Phúc Nguyên cả mừng, thăng cho Nguyễn Quyện lên tước Thạch Quận công.
Trong 31 năm, Nguyễn Quyện cùng với 4 con trai tận lực phụng sự hai triều vua Mạc Phúc Nguyên và Mạc Mậu Hợp (1562-1592) (7). 20 năm đầu, ông lập được nhiều võ công, đặc biệt đã bắt sống 4 tướng Quận công của Lê Trịnh trong 4 năm 1571, 1574, 1575 và 1576. Uy danh ông ngày càng lừng lẫy và được coi là một danh tướng. Nhưng năm 1577, ông bị bại trận ở Hà Đô và ở núi Đường Nang huyện Quảng Xương, 2 tướng Mạc bị bắt, ông mất danh tiếng và quân Mạc lâm vào thế suy vong. Năm 1584, ông được thăng lên tước Thường Quốc công, năm 1585 lên chức Thái bảo hàm chánh Nhất phẩm. Nhưng Mạc Mậu Hợp ngày càng lún sâu vào đường xa hoa trụy lạc, không chịu nghe những lời chính trực, bỏ bê việc triều chính và binh bị. Trong khi Nam triều ngày càng mạnh, nhiều lần Trịnh Tùng đem quân ra đánh phá Sơn Nam, Hưng Hóa, có lần đánh vào cả Kinh đô Thăng Long.
Trong trận ngày 16-1-1592, Nguyễn Quyện thống suất trên 20 vạn quân chống lại trận tấn công quyết định của Trịnh Tùng tiến chiếm Thăng Long, và ông đã bị đánh bại, bị trọng thương, bị bắt giam gần hai năm rồi mất trong ngục, thọ trên 70 tuổi. Hai con ông là Bảo Trung và Nghĩa Trạch (không rõ tước gì) đều tử trận. Mạc Mậu Hợp bị bắt, bị chém, đầu được đưa về bêu ở Thanh Hóa, kết thúc thời kỳ nhà Mạc cầm quyền đóng đô ở Thăng Long. Hai người con còn lại là Nhuệ Quốc công Nguyễn Tín, Thọ Nham hầu Nguyễn Trù và 5 trên 7 người con của Nguyễn Miễn là Vân Bảng hầu, Đỗ Mỹ hầu, Nam Dương hầu, An Nghĩa hầu và Nhân Trí hầu đều lần lượt ra hàng nhà Lê. Nhưng Nhuệ Quốc công, Vân Bảng hầu, Đỗ Mỹ hầu bị tử hình năm 1593 và Nhân Trí hầu năm 1601, sau vụ bị vu là mưu phản. Thọ Nham hầu trốn biệt tích cuối năm 1593, An Nghĩa hầu cũng trốn biệt tích. Hai người con khác của Nguyễn Miễn là Tạo quận tử trận không rõ năm nào và Vị quận tử trận năm 1601 (8). Riêng Nguyễn Miễn không rõ tung tích. Chỉ duy nhất có người con thứ ba của ông là Nam Dương hầu Nguyễn Nhậm (Nhiệm) chạy trốn được vào xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh (9) mai danh ẩn tích, lập nên họ Nguyễn Tiên Điền. (Về Tiên Điền nhớ Nguyễn Du... (VTĐNND...), tr. 139-141).
Từ khi Trịnh Tùng (1570-1623) đuổi được họ Mạc, thu giang san về cho nhà Lê rồi, ngày càng kiêu hãnh quá trớn, chiếm giữ lấy quyền chính trị, hà hiếp nhà vua đến mức không chịu được. Năm Kỷ Hợi (1599), trong nước tạm yên, Trịnh Tùng tự xưng làm Đô nguyên súy Tổng quốc chính Thượng phu Bình an vương, định lệ cấp bổng cho vua. Từ đó về sau, họ Trịnh cứ thế tập làm vương, tục gọi là chúa Trịnh. Nhân họ Trịnh có con là Trịnh Xuân muốn ganh quyền với người con trưởng là Trịnh Tráng (sau là Thanh đô vương 1623-1657), vua Lê Kính Tông (1600-1619) mới mưu với Trịnh Xuân để giết Trịnh Tùng, nhưng sự việc không thành. Trịnh Tùng bức vua phải thắt cổ chết, bắt Trịnh Xuân giam mấy tháng rồi tha, lập Hoàng tử Duy Kỳ lên làm vua, tức vua Lê Thần Tông (lần 1, 1619-1643). Họ Nguyễn ở Thuận Hóa thấy họ Trịnh chuyên quyền, cũng tự xưng độc lập ở miền Nam, làm cho Nam Bắc đôi nơi và gây nên cuộc chiến tranh tàn hại cho nước nhà.
Nguyễn Quyện còn có hai tiểu thư giai nhân. Người chị được tuyển làm chính cung vua Mạc Mậu Hợp. Người em tên Nguyễn Thị Niên là phu nhân danh tướng thủy binh giữ Nam Đạo là Quận công Bùi Văn Khuê, quê huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình (nay thuộc tỉnh Hà Nam Ninh). Tháng 10-1592, Mạc Mậu Hợp mê đắm sắc đẹp của tiểu thư Niên, lại định giết chồng nàng, nên Bùi Văn Khuê phải đem thủy binh về hàng Trịnh Tùng, khiến nhà Mạc mất ưu thế thủy quân từng có. Năm 1600, Quận công Phan Ngạn nghi ngờ Quận công Bùi Văn Khuê có chí riêng nên sai quân bắn chết. Nguyễn Thị Niên khích lệ các tướng sĩ của chồng bắn chết Phan Ngạn ở Hoàng Giang để báo thù cho chồng. Theo Lịch sử Văn hóa Việt Nam - Sinh hoạt trí thức (LSVHVN), trang 22: "Hai con gái Quyện là hai giai-nhân và một đã làm chấn động lịch-sử, đặc-biệt lại gần ngang thời với Thúy-Kiều ở năm Gia-tĩnh triều Minh. Riêng Nguyễn Thị-Niên còn là một kiệt-nữ. Hai giai-nhân này nhỏ hơn Thúy-Kiều khoảng 20 tuổi. Nguyễn Du viết truyện Kiều vào khoảng sau thời nàng Kiều với Từ-Hải độ chừng 240 năm. Do sự mờ nhạt về gốc Canh-Hoạch trong gia-phả Tiên-Điền, không ai biết được rằng Nguyễn Du có hồi-tưởng về các giai-nhân trong gia-đình mình không?"
Ðặng Cao Ruyên
CƯỚC CHÚ
(1) Theo đúng âm chữ Hán phải đọc là Nguyễn Thiến, nhưng các sách đều chép là
Nguyễn Thuyến. Riêng sách Nhà Mạc và dòng họ Mạc trong lịch sử, tr. 144 lại
ghi là Nguyễn Sảnh (tức Thiến).
(2) Xứ Sơn Nam thời Lê gồm các vùng Hà Ðông, Hà Nam, Hưng Yên, Nam Ðịnh, Thái
Bình sau này. Từ năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741), xứ Sơn Nam được chia làm 2 lộ: lộ
Sơn Nam thượng (vùng Hà Nam, Hưng Yên, Hà Ðông sau này), lộ Sơn Nam hạ (vùng
Nam Ðịnh, Thái Bình sau này).
(3) HT, tr. 178, chép là Nguyễn Dật.
(4) HT, tr. 178: Năm Thuận Bình thứ 3 đời Lê Trung Tông (1551), Mạc Phúc
Nguyên nghe lời gian nịnh gièm pha, đang đêm sai người vây nhà định bắt Bá Ly.
Ly bèn cùng Thiến âm mưu quy thuận nhà Lê, đem quân bản bộ đánh chiếm kinh
thành Thăng
Long, đuổi Mạc Phúc Nguyên chạy sang Bồ Ðề (Gia Lâm ngày nay).
LTHCLC, Tập I, Nhân vật chí, mục Mạc Phúc Nguyên, tr. 218: Mạc Phúc Nguyên
nghe lời gièm pha của bề tôi yêu là Vinh Quận công Phạm Quỳnh và Phú Xuyên hầu
Phạm Dao. Ông ngờ vực, ruồng bỏ các tướng cũ, nên Thái tể Lê Bá Ly đem cả toàn
quân quy thuận [với nhà Lê] ở Thanh Hóa. Cũng sách trên, tr. 266 chép: thời Lê
Trung Tông năm Thuận Bình thứ 3 [1551] Mạc Phúc Nguyên đánh đại tướng Lê Bá
Ly, Thiến với Ly là thông gia, mới cùng âm mưu sai người dâng biểu quy thuận
nhà Lê.
TÐNVLSVN, tr. 314: Thái tể Lê Bá Ly, sau bị tôi nịnh của nhà Mạc là Phạm Quỳnh
gièm pha, ông bèn đem quân bản bộ chống lại nhà Mạc. Sau đó đem cả hai đạo
quân Sơn Nam và Sơn Tây tất cả hơn ba nghìn người thẳng vào Thanh Hóa qui
thuận nhà
Lê, đón Lê Trang tông tới hành dinh Vạn Lại, mưu tính cơ hội khôi phục.
Sách Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, bài Mối quan hệ giữa Nguyễn Bỉnh Khiêm với
vương triều Mạc, của Ngô Ðăng Lợi, tr. 62: Lúc này nước ta đã hình thành hẳn
hai triều đại chống đối nhau kịch liệt. Ở Nam triều, tập đoàn phong kiến
Lê-Trịnh đã mạnh lên nhiều, quyền lực thực tế rơi vào họ Trịnh. Còn Bắc triều
thì bọn gian thần càng ngày càng lộng hành, thậm chí cha con Phạm Quỳnh tự
tiện đem quân vây bắt cả Quận công Lê Bá Ly và Thượng thư Nguyễn Thiến. Hai
người này đã chạy về hàng Nam triều, với hàng chục tướng lĩnh tài ba và 14
ngàn quân tinh nhuệ. Ðây là một tổn thất lớn của nhà Mạc.
(5) Núi Hoành Sơn là núi Ðèo Ngang ở tỉnh Quảng Bình.
(6) HT, tr. 178-179: Nguyễn Quyện trở về với nhà Mạc là theo lời khuyên của
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, thầy dạy học cũ: "Lúc cha chết, Quyện đang cầm
quân đánh nhau với quân Mạc ở Thiên-trường, trận nào cũng thắng. Vua Mạc Phúc
Nguyên lo sợ, sai sứ đến vấn kế Nguyễn-bỉnh-Khiêm. Bỉnh-Khiêm tâu: "Quyện thực
là một mối lo lớn cho triều-đình ta. Nhưng cha hắn với hạ-thần là bạn thân,
hắn lại là học trò hạ-thần ngày trước. Hiện nay hắn đóng quân ở Thiên-trường,
chính đang buổi hiềm nghi do dự, hạ-thần xin dùng mưu dụ hắn về với
triều-đình". Bỉnh-Khiêm bèn thả thuyền xuống chơi mạn Thiên-trường, sai người
đưa thư mời Quyện đến thuyền đàm-đạo rồi nhân đó thuyết phục rằng: "Thầy suy
tính vận-mệnh nhà Lê phải vài ba chục năm nữa mới trung-hưng được... vả cha
con thầy trò mình đều chịu ơn nặng của Mạc-triều, anh cũng phải nên liệu
lượng". Quyện cảm kích, lại cùng Dật (Miễn) trở về với Mạc. (Thuyết Mạc của
Ðinh-gia-Thuyết).
(7) LTHCLC, Tập I, Nhân vật chí, mục Mạc Mậu Hợp, tr. 218: Năm Sùng-khang thứ
13 (1578) sét đánh vào cung, Mạc Mậu Hợp thành ra bán thân bất toại mới đổi
niên hiệu (6 niên hiệu trong 31 năm). Sau lại bị thong manh mắt mờ, chữa mấy
năm mới khỏi... Năm Nhâm Thìn Hồng-ninh thứ 2 (1592) bị quan quân nhà Lê đánh
gấp, ông mới lập con là Toàn lên làm vua, cho coi mọi việc, đổi niên hiệu là
Vũ-an [1/1593]. Ông tự làm tướng đốc quân chống với nhà Lê rồi thua chạy đến
ẩn ở một ngôi chùa thuộc huyện Phượng-nhỡn được 11 ngày, bị bắt, bị chém ở
Bồ-đề; đầu đem về hành tại ở Vạn-lại, đóng đinh vào mặt để ở chợ.
(8) LSVHVN, tr. 23: Nhưng các tướng... bắt được Tạo quận và Vị quận đều đem
chém mang đầu về kinh sư (Thông sử, tr. 378).
(9) LSVHVN, tr. 25-26 và 30: Nam Dương hầu Nguyễn Nhậm thấy từ năm 1593...
được Mạc Kính Cung (1593-1625) sai đi chiếm cứ Nam Xương (Thông sử, 378), đã
bị giết mùa xuân 1601. Vậy Nam Dương không thể đến thôn Lương Năng, xã Tiên
Ðiền được... Ðời đầu tiên tại Tiên Ðiền là Lệnh Thiện công, con của Nam Dương,
được phong Tham đốc tước Phương Trạch hầu năm Cảnh Hưng 22 (1761), một tặng
phong cho tổ tiên.
■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■
Nhân Văn |
Tin Văn |
Phỏng Vấn |
Ðiểm Sách |
Ðọc Sách
Thư Viện |
Thư Quán |
Nối Vòng Tay |
Biên Tập