| ■ ■ ■ | |
cơ sở phê bình luận vị laiđặng phùng quân |
Hãy tưởng tượng một khoảng thời gian trống... bây giờ là năm 2042, tác gia thọ đã một trăm tuổi. Một trăm năm của đời người, ông nhìn lại. Thế kỷ của khoa học văn chương còn lại gì ? Bao nhiêu sách vở trong thư viện? Ở vào thời đại hậu vi tính, mọi dữ liệu đã được tồn trữ bất hoại, mọi thông tin tràn ngập trên mạng, văn chương có biến đổi? Quá trình nhận thức của đọc và viết có biến đổi? Nền văn minh sách vở nhường bước cho văn minh siêu bản?
Quyển sách có tồn tại? Câu hỏi đã được đặt từ hơn nửa thế kỷ trước khi người ta nhìn về tương lai của quyển sách cùng với cách cấu trúc của những bản văn liệu có biến đổi, khi những hệ thống tương tác như Web, MOO và MUD có ảnh hưởng tới sự phát triển và tiến hóa của những quy tắc mẫu bản. Người ta cũng đã hình dung quang cảnh những quyển sách in, những thư viện và tiệm sách, những cơ quan phát hành cổ truyền sẽ nhường bước cho những cơ chế và lọai điện tử, thuyết thọai theo tuyến trao chức năng lại cho những kiểu thông tin đa hiệu, siêu bản. Thật ra quan niệm "cái này giết chết cái kia" như lối nói của Hugo (ceci tuera cela) từng được nêu ra như khi phát kiến nhiếp ảnh tưởng sẽ thủ tiêu hội họa, điện ảnh ra đời thủ tiêu kịch nghệ, truyền hình thủ tiêu điện ảnh, máy đánh chữ tưởng sẽ thay thế bút viết, cửa kéo tự động thay thế cửa có bản lề.địện tóan thay thế quyển sách. Một quan niệm như thế phát xuất từ chỗ không phân biệt những phương tiện sản xuất văn hóa với phương thức sản xuất văn hóa. Sự tiện lợi của mạng lưới thông tin đa hiệu, sự phổ biến và bảo quản tư liệu qua điện toán giúp cho con người gìn giữ được quyển sách vĩnh cửu [1]. Những hiệu năng mới có thể làm phong phú cấu trúc quyển sách - bởi quyển sách gắn liền với chữ viết và thị giác.
Trong Triết học và Văn chương nói về quyển sách :
"vẫn đồng nhất với chính nó (Husserl đi từ mối tương quan giữa tính lý tưởng và thực tại trong mọi đối vật văn hóa (tác phẩm văn chương) trên tính đồng nhất này). Nhưng quyển sách để là quyển sách, không phải một tập giấy đóng và in đen, phải được nhiều người đọc và hiểu (với những ấn bản cùng nguyên mẫu !) và để đọc quyển sách, con người phải sống, nghĩa là sinh ra, lớn lên và mất đi; đời sống của con người trong chủ yếu của bản đọc này không sáng tạo điều gì mới lạ nữa và thời gian của người-đọc-sách là thời gian tuần hòan. Thực hiện tri thức tuyệt đối, nghĩa là thống nhất khái niệm và thời gian, quyển sách có cơ cấu vòng tròn: khái niệm không còn là một tương giao nữa, nhưng đồng nhất với thời gian trong sự tận cùng của lịch sử."
Quá trình tiến triển của văn chương cũng diễn ra một chu trình như vậy. G. Genette lấy ví dụ tương tự như đứa trẻ đắc thủ ngôn ngữ không phải do một sự mở rộng từ vựng đơn giản mà do một dẫy những phân chia nội tại không làm biến đổi quá trình đắc thủ tòan diện : ở mỗi giai đọan nắm được một ít từ đối với đứa trẻ là tòan bộ ngôn ngữ để sử dụng chỉ mọi sự vật, tăng thêm chính xác mà không có chỗ gián đọan nào cả, con người cũng vậy, chỉ đọc một quyển sách đối với y là tòan bộ "văn chương" theo cái nghĩa sơ khởi của từ này, rồi khi đọc được hai quyển, hai quyển này góp phần vào tòan bộ lĩnh vực văn chương của y mà không có chỗ gián đọan nào giữa chúng. Văn chương có xu hướng phân chia nhỏ ra hơn là mở rộng. Tu từ học cổ điển ý thức cái hệ thống như vậy khi đề ra lý luận về những thể lọai, như sử thi, bi kịch , hài kịch.chia xẻ tòan bộ lĩnh vực văn chương. Cái thiếu sót trong lý luận này là chiều kích thời gian, cái ý tưởng để cho một hệ thống có thể tiến hóa. Sự tiến hóa của văn chương đã biểu thị cái phong phú qua những giai đọan phát triển của chủ nghĩa Hình thái Nga, Phê bình thông diễn, Phê bình cấu trúc, Phê bình luận Mới. Lịch sử văn chương trở thành lịch sử của một hệ thống, nghĩa là tiến hóa của chức năng (lý luận Hình thái Nga gọi là biến đổi của chức năng [2]), mặt khác như Jakobson nhận xét là biểu đồ văn chương của một giai đọan không những chỉ ra "sản xuất văn chương của một giai đọan nhất định mà còn chỉ ra bộ phận của truyền thống văn chương trong giai đọan này vẫn có sinh lực hay được phục hồi", điều đó có nghĩa là sự chọn lọc một xu hướng mới trong nhũng cái cổ điển cũng như lý giải lại theo tân trào cũng là một vấn đề cơ bản cho những nghiên cứu văn chương đồng đại, đặt định trong viễn tượng lịch đại của những biểu đồ đồng đại kế tục. Chẳng hạn, trong khung cảnh văn chương hiện đại, Cervantes là người đương thời với Kafka. Một thời đại có thể biểu hiện qua cái được đọc cũng như cái được viết, cho nên Jorge Luis Borges đã phát biểu trong những năm 1950s là "nếu cho tôi đọc bất kỳ trang sách nào viết hôm nay như người ta sẽ đọc nó vào năm 2000 thì tôi cũng biết được văn chương của năm 2000".
Sự biến đổi chức năng văn chương hàm ngụ một lịch sử của những quan hệ giữa văn chương và toàn bộ đời sống xã hội. Sự ra đời của điện ảnh chẳng hạn làm biến đổi một vài chức năng của văn chương cũng như cho nó một số phương tiện mới, phát sinh vi tính ảnh hưởng sâu sắc đến sự hiện diện của văn chương, thậm chí có thể thủ tiêu chức năng chuyên chở tri thức của quyển sách. Khi điện toán trở thành một hình thái của đời sống, như bất kỳ hình thái sinh họat khác, chẳng hạn lái xe, gọi điện thọai, mở truyền hình.khả năng có thể đặt ra là có thể hội tụ giữa khoa điện tóan và lý luận văn chương, mà lý luận văn chương là nói đến lý luận về ý nghĩa, về nhận thức bản văn. Khả năng đáp ứng của khoa điện tóan liên hệ đến quá trình biểu hiện nhận thức và diễn trình ngôn ngữ tự nhiên , nghĩa là nói đến trí óc nhân tạo (AI: artificial intelligence). Liệu AI trong diễn trình ngôn ngữ tự nhiên (NLP: natural language processing) có thể viết ra những thảo chương thực hiện những đối thọai hỏi/đáp, chú giải, tóm lược văn bản, thảo luận những vấn đề tâm lý, thuyết thọai từ những viễn tượng khác biệt về những nhân vật khác biệt? Liệu một thực hiện NLP có khả năng tạo lại khuôn mẫu những nghiên cứu văn học?
Quyển sách trong mối quan hệ vòng (nhà văn-tác phẩm-người đọc) hay (bản viết/bản đọc) hay (bản viết-bản phê bình-bản đọc) [3] đặt để vị thế của phê bình. Nhưng phê bình là gì? Tại sao lại đặt vấn đề phê bình thuần túy?
Một khái niệm về phê bình văn chương đều mang tính cách xu hướng chỉ có thể xác định trên cơ sở lý luận. Nhưng ngay trên cơ sở lý luận cũng không mang tính thống nhất [4]. Wellek nhận xét "khá lạ là về mặt thực tiễn không có tư liệu nào về lịch sử của từ "criticism" hay cả "critic" ngọai trừ mục viết về kritikós của Gudeman trong thời cổ đại". Đứng trên phương diện ngữ nghĩa lịch sử, Wellek phân tích từ kritikós (bắt nguồn từ krités, tiếng hy lạp có nghĩa là quan tòa, krinéin, phê phán) có nghĩa là một nhà phê phán văn chương đã có từ thế kỷ thứ tư trước Công nguyên để phân biệt với grammatikós, nhà ngữ pháp, tuy nhiên không còn được nói tới về sau, ngay cả từ criticus cũng hiếm thấy trong văn chương cổ la tinh. Trong thời Phục hưng, từ này chỉ dùng cho những nhà nghiên cứu cổ văn. Tuy nhiên Julius Caesar Scaliger (1484-1558) được coi như nguồn gốc của một khái niệm mới của phê bình, qua những nhà phê bình của thế kỷ 17. Kể từ đây có một lịch sử tiến hóa của những từ critica,critic, critique, critick, criticism,criticismo cho đến Kant. Trong từ điển Pháp, Ý , Tây ban nha từ này trở thành đặc ngữ để chỉ triết học phê bình của Kant.
Ba tác phẩm lớn của Kant mang tên Phê bình : Kritik der reinen Vernunft, Kritik der praktischen Vernunft, Kritik der Urteilskraft. Những lý giải về triết học phê bình của Kant chỉ nhằm giải thích những vấn đề Kant đã khai phá và không chú trọng đến cơ sở khởi nguyên, khu biệt giai đọan trước và sau phê bình. Từ phê bình krinein hy lạp có nghĩa là khu biệt, phân rời. Vấn đề cơ bản của Kant là làm thế nào tri thức tổng hợp khả hữu đồng thời lại có tính tiên nghiệm. Nhưng chính Heidegger là người đã nhìn ra khởi nguyên cách đặt vấn đề của Kant khi hỏi : Tại sao luận thuyết về phương pháp, lý giải và trình bày tri thức tổng hợp tiên nghiệm này lại gọi là phê bình? Trong giáo trình mùa đông những năm 1927-28 tại Đại học Marburg đưa ra lý giải hiện tượng luận tác phẩm "Phê phán lý trí thuần túy" của Kant, ông nhận định cơ sở siêu hình học như thể khoa học không chỉ là một cơ sở của triết học siêu nghiệm hay hữu thể luận nói chung mà đồng thời cũng là một định giới hạn và hạn chế khả năng của tri thức tiên nghiệm của lý trí thuần túy, đó là "phê bình".Kant đã chỉ ra đặc thị này trong chương ba nhan đề "Cấu trúc của lý trí thuần túy" của phần Phương pháp luận siêu nghiệm để khu biệt phê bình là việc điều tra khả năng tri thức tiên nghiệm với siêu hình học là việc trình bày tòan bộ tri thức này :
"Triết học về lý trí thuần túy giờ đây hoặc là một dự bị (sửa sọan) nhằm điều tra quan năng lý trí đối với mọi tri thức thuần túy tiên nghiệm, gọi là Phê bình, hoặc thứ nữa là một hệ thống lý trí thuần túy (khoa học), tòan bộ tri thức triết lý (chân xác cũng như biểu hình) xuất lộ từ lý trí thuần túy trong mối liên lạc hệ thống, gọi là Siêu hình học."[5]
Điểm chủ yếu Heidegger muốn nói đến ở đây là bác bỏ những lý giải về Phê bình của Kant như một nhận thức luận của những khoa học tự nhiên tóan học mà không nhìn ra Phê bình này liên quan đến hữu thể luận.[6]
Trong hội luận tháng 9 năm 1966 tại Centre Culturel International de Cerisy-la-Salle, Gérard Genette đưa ra một tham luận về Những lý của phê bình thuần túy/Raisons de la critique pure [7]. Không phải tình cờ mà Genette đặt một tiêu đề đối lại với Phê bình lý thuần túy/Critique de la raison pure của Kant. Phê bình như Kant đã chỉ ra là công cuộc điều tra những khả năng nhận thức, đề ra cơ sở hữu thể luận của lý thuần túy. Một phê bình thuần túy có khả hữu? Phê bình là mối quan hệ giữa lý và khả năng xây dựng những nguyên lý; ngược lại có thể điều tra những nguyên lý của công cuộc điều tra thuần túy không? Đâu là mối quan hệ giữa triết lý và văn chương?
Khi đi tìm hiểu thuyết hủy tạo là một trong những lý luận phê bình chủ đạo của nửa sau thế kỷ hai mươi, không thể không đặt mối quan hệ giữa văn chương và triết lý. Có phải những nhà phê bình văn chương thường bị triết học bức xúc phần nào vì bị từ khước những lạc thú văn chương (như vân động cảm tính của ngôn ngữ, những sự cố của hài kịch, thăng giảm của thuyết thọai) để nhường bước cho những trừu tượng của tư duy thuần túy, những tiến triển của luận lý khô khan? Có phải trên quy mô rộng lớn của sự vật, thực tiễn văn chương chỉ tô điểm hương vị cho miếng thực phẩm vĩ đại là công trình triết lý? Trong viễn tượng đàn áp đó, lý luận hủy tạo của J. Derrida đã xây dựng một cơ sở phong phú cho thực hành văn chương.
Những bản viết của Derrida có thể xếp vào hai phạm trù: bản viết triết lý và bản viết văn chương, tuy khó có thể phân lọai vì những tác phẩm về sau khai phá mọi lĩnh vực, nhưng mối quan tâm đã được ông bày tỏ là hướng về văn chương, về thể viết gọi là văn chương. Tuy nhiên ảnh hưởng của lý luận hủy tạo trên bình diện phê bình văn chương Anh-Mỹ lại bắt nguồn từ nhũng bản viết triết lý của Derrida. Jonathan Culler nhận diện trong bài viết Tương lai của phê bình/The Future of Criticism là phần lớn những phát triển lý thú và cách tân nhất trong tư tưởng hiện đại không phải thực hiện nơi những nhà triết học mà chính nơi những nhà phê bình văn học và xâm nhập vào đời sống trí thức Mỹ qua lĩnh vực nghiên cứu văn học. Những người nghiên cứu văn học tại Mỹ, thày và trò, đọc và thảo luận những nhà tư tưởng quan trọng của Pháp (không phải thuộc lĩnh vực phê bình văn học), như Sartre, Lévi-Strauss, Lacan, Althusser, Derrida, Foucault, Lyotard cũng như của Đức như Gadamer, Heidegger, Adorno, Habermas. Trong sách Luận về hủy tạo/On Deconstruction, Culler khẳng định phê bình văn chương hủy tạo tiên quyết chịu ảnh hưởng từ việc đọc những tác phẩm triết học của Derrida. Hủy tạo là một khái niệm triết lý, không phải là một kỹ thuật (như phân tâm học) hay một phương pháp (như hiện tượng luận). Trong những bài viết của Derrida, mối quan tâm chính vẫn là quan hệ triết học/văn chương khi ông nhận định một cấu trúc đề kháng đối với khái niệm tính triết lý ngự trị và bao hàm chúng, như những giá trị của ý nghĩa, hay của nội dung, của hình thái hay dấu chỉ, của ẩn dụ/hóan dụ, của chân lý, của biểu tượng. Thực tiễn văn chương như khi Derrida phân tích những tác phẩm của Sollers hay Mallarmé trong vấn đề khái quát nhất của chân lý, trong mối quan hệ với tính văn chương,theo ông nhận xét đã có tiến bộ nhất định qua nửa thế kỷ kể từ khi phái Hình thái Nga đề xuất. Vấn đề tính văn chương xuất lộ cho phép tránh được những giản lược hay hiểu sai trồi lên dưới dạng những hình thái duy xã, duy sử, duy tâm lý.Tuy nhiên không phải như một số người nghĩ, hủy tạo là sự phục thù của văn chương đối với triết học, thủ tiêu triết học. Derrida xác định những bản văn của ông không thuộc vào sổ bộ "triết học, cũng không thuộc sổ bộ "văn chương". Đó là hình thái bắt chéo X , động tác kép, giao điểm, để có thể thông tin với những bản văn khác. Cho nên khi phân giải bản văn Mimique của Mallarmé, ông viết bản văn này có thể đọc như một lọai sách chỉ nam văn học, nếu muốn nói lên một điều gì đó, chắc hẳn trước hết là không có văn chương, trong bất kỳ diễn biến nào cũng không có yếu tính của văn chương - những bản viết hàm chứa trong chính vận động của chúng, "luận chứng và hủy tạo thực tiễn của biểu hiện điều gì được tạo bởi văn chương" (la manifestation et la déconstruction pratique de la représentation qu?on se faisait de la littérature). Trong cuộc đối thọai dành cho Richard Kearney, Derrida đề cập những công trình của Blanchot, Bataille, Beckett để nói đến ngôn ngữ văn chương có thể như một vô sở cứ , cái khác của triết học, đến những giới hạn của những khái niệm luận lý, đến ngôn ngữ triết học vẫn hiện diện trong văn chương theo một nghĩa nào đó, nhưng đã tha hóa với chính nó ở một khỏang cách, thể hiện trong những bản viết của ông đặt để vấn đề viết như một trong những nhân tố then chốt trong hủy tạo siêu hình học. Ông nói đến những tiềm tàng trong những bản văn để hình thái hóa - xác định vị thế hữu thể luận của văn chương - không yếu tính, không biên giới - khởi điểm Phê bình của Kant.
Phê bình thuần túy là một khái niệm đề xuất từ Albert Thibaudet và Gérard Genette đã khôi phục lại trong hội luận về phê bình nói đến ở trên, khi ông đi tìm hiểu một phê bình thực sự hiện tại, nghĩa là "đáp ứng chính xác những yêu cầu và nguồn lực của hiểu biết và sử dụng văn chương của chúng ta ngay nơi đây lúc này". Nhưng hiện tại có là cái mới? Không hẳn. Nhà văn và nhà phê bình gặp gỡ trong cùng một điều kiện khó khăn, đối diện với cùng một sự vật, như Barthes chỉ ra, đó là ngôn ngữ. Nhưng ngôn ngữ nào?[8] Trong cuộc bút chiến phân định rõ rệt giữa phê bình mới và cũ ở nửa sau thế kỷ hai mươi, điểm nổi bật là hai chức năng của phê bình, phán xét và thẩm định tác phẩm nhằm hướng dẫn đại chúng, thể nghiệm nhận thức những điều kiện hiện hữu của tác phẩm. Ngôn ngữ của nhà phê bình là một thứ siêu ngôn ngữ, nói như Barthes "diễn ngôn trên một diễn ngôn". Đối tượng của phê bình văn chương trong xu hướng mới tựu chung ở cơ sở nghiên cứu, không phải cái văn chương như một tòan bộ, mà ở tính văn chương (literaturnost) như Jakobson chỉ ra là cái làm cho một tác phẩm trở thành tác phẩm văn chương. Trong khi phê bình cổ điển giới hạn trong những khuôn sáo cũ, phê bình mới mang theo những thiết bị (priem - như Hình thái luận Nga chỉ ra là biến lệc/otklonenie và biến dạng/deformirovanie) biến đổi tác phẩm thành khó và lạ lẫm (ostranenie). Đối với nhà phê bình mới, không có một Racine tự tại, một Nguyễn Du tự tại mà những thiên tài này hiện diện trong những bản đọc, cung hiến cho nhiều ngôn ngữ, không giản lược vào trong sự hóa thạch của quá khứ.
Phê bình thuần túy như Genette dẫn lại lời của Thibaudet là "phê bình không nhằm vào những con người, những tác phẩm mà nhằm vào những bản thể và chỉ thấy trong viễn tưởng của con người và tác phẩm một cái cớ để suy niệm những bản thể" [9].
Một trong ba bản thể mà Thibaudet nhận ra là thiên tài, cái tột bực của cá thể, tuy nhiên cái bí quyết của thiên tài là làm nổ ra cái cá tính, như Genette luận ra trong cái nghịch lý này là tìm ra một ý tưởng quen thuộc với văn chương hiện đại, tác giả, nghệ nhân của một quyển sách, nói như Valéry chắc chắn tuyệt đối không là ai cả, bởi một trong những chức năng của ngôn ngữ, với văn chương như thể ngôn ngữ là triệt hủy chủ thể phát ngôn, chỉ thị chủ thể như vắng mặt. Genette viết:
"Cái mà Thibaudet gọi tên là thiên tài, ở đây có thể là sự vắng mặt này của chủ thể, thực tập ngôn ngữ bị tước đọat trung tâm, mà Blanchot nhân nói đến kinh nghiệm của Kafka phát hiện ra là "ông ta đi vào văn chương từ lúc thay thế cái hắn cho cái tôi." Blanchot còn nói nhà văn thuộc vào một ngôn ngữ không ai nói, không nói với ai, không có trung tâm, không vén lộ điều gì cả. Như vậy đối với nhà phê bình, nói đến Proust hay nói đến Kafka, dường như là nói đến thiên tài của Proust hay của Kafka, chứ không phải nói đến con người họ."
Bản thể thứ hai Thibaudet nói đến là những thể lọai, ở vào thời đại sự hòan tất văn chương nhằm thủ tiêu những biên giới bên trong của văn tự, nhiệm vụ của phê bình là đưa vào văn chương quá khứ những kinh nghiệm văn chương hiện tại, diễn ngôn văn chương được phát triển theo những cấu trúc chuyển hóa của ngôn ngữ sáng tạo, một thứ tu từ mới như Jakobson gọi là tính văn chương của văn chương.
Sau cùng là quyển sách. Genette dẫn lời Thibaudet : Văn chương chỉ hòan tất theo chức năng của quyển Sách, cho nên không có gì khác hơn để cho con người của sách vở - nghĩa là nhà phê bình - suy nghĩ chính là quyển Sách." Thibaudet muốn nhắc nhở cho những nhà phê bình nào ít nghĩ đến quyển Sách và lẫn lộn giữa những điều được nói, được ca, được đọc. Văn chương theo Genette không chỉ là ngôn ngữ, mà chính xác và rộng lớn hơn, đó chính là văn tự. Thế giới dàn trải trước mặt không phải là một cảnh tượng mà là một bản văn để khai phá và sao chép. Nói như Blanchot, một hệ thống những quan hệ không gian vô cùng phức hợp mà không gian hình học thông thường cũng như không gian của đời sống thực tiễn không cho chúng ta nắm được ngọn nguồn. Chính nơi đây Gérard Genette khi đi sâu vào cái vô tận văn chương của Blanchot đã trùng phùng với những nhà tư tưởng đương đại trong giấc mơ trở thành một nhà địa chí ở khởi điểm một tìm kiếm sau cùng không phải trên những cá thể mà trên cái tổng thể của một vũ trụ gọi tên là Cộng hòa Văn chương [10].
Ðặng Phùng Quân
[1] Quyển sách gia bội nhờ kỹ thuật in đã được Trithemius ca ngợi như thể "ars illa mirabilis et prius inaudita imprimendi et characterizandi libros". Trong thời đại điện toán, một nhà văn đã phản ứng bảo vệ cái vĩnh cửu của quyển sách khi cho rằng "không ai lại ngồi xuống và đọc một quyển tiểu thuyết trên màn ảnh nhỏ chớp giật". Điều này chỉ áp dụng cho tiểu thuyết hiện đại, tiểu thuyết phá thể, đối với lọai "tiểu thuyết đọc giải phiền","lọai tiểu thuyết đại chúng" đã không còn là quyển sách mà biến dạng dưới hình thức nghe, không cần nói tới.
[2] Boris Tomachevski viết: Một nhân tố có một giá trị đặc thù trong một giai đọan nhất định biến đổi hòan tòan chức năng trong một giai đọan khác. Những hình thái thô kệch trong giai đọan chủ nghĩa Cổ điển được coi là nguồn tài nguyên của hài kịch sang giai đọan chủ nghĩa Lãng mạn trở thành một trong những nguồn của bi kịch. Chính trong sự biến đổi chức năng liên tục này ma ??ời sống thực của những nhân tố của tác phẩm văn chương được phát hiện.
[3] X. bản dịch "Une situation critique" của Raymond Jean trong CĐ số này.
[4] Chẳng hạn trong Theory of Literature của René Wellek và Austin Warren cũng như trong Concepts of Criticism, Wellek phân biệt "lý luận văn chương" là nghiên cứu những nguyên lý ,phạm trù, tiêu chuẩn của văn chương với "phê bình văn chương" hay "lịch sử văn chương" là những nghiên cứu về những công trình văn học nghệ thuật cụ thể , trong khi J. Hrabák trong Úvod do studia literatury quan niệm như thể điều tra về yếu tính của văn nghệ, nhắm vào những quan hệ giữa văn chương và xã hội, chính trị, ý thức hệ.Peter Burger trong Theorie der Avantgarde coi khoa học phê bình phân biệt với khoa học truyền thống vì nó phản ánh biểu thị xã hội thông qua chính họat động của nó (Kritische Wissenschaft unterscheidet sich von traditioneller Wissenschaft dadurch, dass sie die gesellschaftliche Bedeutung ihres eigenen Tuns reflektiert). Literaturwissenschaft là từ Burger dùng quen thuộc trong tiếng Đức để chỉ lý luận văn chương (literary theory trong tiếng Anh) để phân biệt với "phê bình văn chương"(literary criticism).
[5] Die Philosophie der reinen Vernunft ist nun entweder Propadeutik (Vorubung), welche das Vermogen der Vernunft in Ansehung aller reinen Erkenntniss a priori untersucht, und heisst Kritik, oder zweitens das System der reinen Vernunft (Wissenschaft), die ganze (wahre sowohl als scheinbare) philosophische Erkenntniss aus reiner Vernunft im systematischem Zusammenhange, und heisst Metaphysik".
[6] X. Heidegger, Phanomenologische Interpretation von Kants Kritik der reinen Vernunft.
[7] X. Les chemins actuels de la critique, in lại trong Figures II của G. Genette.
[8] Chính trong điều kiện ngôn ngữ, phân biệt nhà phê bình với "lối viết kiểu nhật trình"(écrits de style journalistique) không đáng nói đến ở đây.
[9] J?entends par critique pure la critique qui porte non sur des êtres, non sur des oeuvres, mais sur des essences, et qui ne voit dans la vision des êtres et des oeuvres qu?un prétexte à la méditation des essences.
[10] République des Lettres. X. CĐ 2 , Cơ sở tư tưởng thời quá độ.
■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■
Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách
Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập