■ ■ ■

thơ phan ni tấn,
thơ nguyên quán Việt Nam

lê hữu

 


 

"Lòng anh chật ních một quê hương..."
PNT

Chỉ là đêm văn nghệ bỏ túi thôi, nhưng quần hào các nơi đều đủ mặt. Không khí ấm cúng, thân mật. Phòng nhỏ, bài trí khá mỹ thuật, theo kiểu cách riêng. Một cái bục gỗ nhỏ đặt giữa phòng. Những tranh, tượng bày biện rải rác. Bàn ghế lỏng chỏng cái thấp cái cao, chỗ này chỗ kia, đủ kiểu. Ít chai lọ, ly tách còn vương vãi đâu đó trên mặt bàn. Tất cả, thoáng nhìn có một chút "bùi bụi", một chút bề bộn cố ý, có vẻ ít được sửa soạn, hoặc dọn dẹp chưa xong sau một ngày xúm xít làm việc để tạo một phòng triển lãm tại khu hội chợ sách... Như vậy có khi mà lại hay, lại tạo được cái khí hậu tâm lý thoải mái tự nhiên và gần gũi giữa mọi người, và một phong cách riêng nữa, rất là "Mimi Studio"... Cũng chẳng cần ai giới thiệu ai với ai, vì chẳng có ai xa lạ, chẳng có ai là khách khứa, kể cả người đến từ nơi xa nhất là Phan Ni Tấn (PNT).

Chương trình cũng có vẻ tùy tiện, chẳng có sắp đặt gì trước, hết nhạc rồi đến thơ, hết thơ rồi lại nhạc, rồi trở lại ngâm vịnh thơ phú... Phần trình diễn của PNT là những ca khúc mới sáng tác, hầu hết phổ từ thơ các thi sĩ bạn, nói trước là "giọng tôi khàn khàn, không được hay lắm, xin chịu khó nghe..." Nhiều tiếng vỗ tay tán thưởng sau mỗi bài hát... Đã lâu lắm không gặp, nhân lúc nhạc sĩ xin tạm nghỉ giải lao vì khản giọng, gác cây đàn sang bên, bèn lại gần hỏi han ít câu, "Rằng hay thì thật là hay, nhưng sao chỉ thấy nhạc, thế còn thơ PNT đâu, phải cho nghe cả thơ nữa chứ?" "Người đến từ Toronto" chỉ cười cười, nói thơ lúc này rẻ rúng quá! Thơ thì lúc nào mà chẳng rẻ rúng, đâu phải chỉ có lúc này... Nói là nói vậy, nàng thơ đã không phụ bạc thì thi sĩ cũng đâu có dễ gì bỏ được nàng. Thơ PNT vẫn thấy xuất hiện đâu đó trên các tạp chí văn học, vẫn những bài thơ rất là PNT, đến không cần phải ngó tên tác giả vẫn nhận ra thơ chàng. Lại hỏi, "Tay nhạc tay thơ, tay nào là tay phải, tay nào là tay trái?" PNT cũng chỉ cười cười, "Vợ cả vợ hai, hai vợ đều là... vợ cả."

Thực hiếm có ai sử dụng được thành thạo cả hai tay đến như vậy. PNT yêu cả hai vợ một lúc thiệt tình. Và chàng cứ phải làm công việc lấy thơ ghép nhạc để tạo thế quân bình, để hai cô vợ có thể sống chung hòa bình và cùng lúc sánh đôi được bên chàng cho vui vẻ cả làng. Nhạc chỉ là một nửa PNT, nửa kia là thơ. Nếu chỉ nghe nhạc mà chẳng nghe thơ thì cũng chỉ như nghe một nửa PNT. Phải ghép hai nửa lại mới ra chân dung chàng nghệ sĩ. Bài này xin chỉ lạm bàn về cái nửa sau, là cô "vợ hai". Cái nửa trước, những người yêu nhạc của anh chắc cũng biết mặt quen tên và dễ nhận ra hơn.

Có một lúc nào đó, trong phần diễn ngâm thơ, một người đọc lên cho mọi người cùng nghe những câu thơ khá thú vị. Thơ kể chuyện ăn nhậu, nhưng nghe lại không có vẻ phàm tục mà lại... thắm đượm tình quê hương.

Hãy nhúng dùm ta xấp bánh tráng
tiện tay em cuốn lại quê nhà
thêm chút rau thơm cùng ngò quế
cho ta ăn bằng nỗi thiết tha...

Thơ không nói rõ thực đơn ăn nhậu gồm những món gì, sao lại có rau thơm, bánh tráng. Gỏi cuốn, bì cuốn, hoặc... thịt bò nhúng dấm chăng?... Cuốn miếng bánh tráng mỏng mà sao như cuốn lại quê nhà. Ngậm cọng rau thơm trong miệng mà sao như ngậm một miếng quê hương. Ắn uống thoải mái, ngon lành thì phải là ăn ngấu nghiến, ăn nhồm nhoàm chứ, sao lại "ăn bằng nỗi thiết tha". Dẫu người diễn đọc không chịu nói tên tác giả những câu thơ ăn nhậu ấy, người nghe vẫn có thể đoán được, nhưng còn ngờ ngợ, nên yêu cầu cho nghe tiếp...

Em rót dùm thêm chút nước mắm
cho mặn lòng ta miếng gió quê
miếng gió mát tay người Cần Giuộc
ru ta thơ ấu ngủ bờ đê

Đến đây thì rõ quá! Còn ai vô đó nữa. Tất cả đều hướng cái nhìn về phía PNT, không phải chỉ vì Cần Giuộc là quê chàng (tất nhiên rồi) mà còn vì "miếng gió quê" nữa. "Miếng gió" được lập lại đến hai lần, "miếng" này nhất định chỉ có ở thơ PNT. "Miếng" gió nghe gần gũi, thân thiết hơn là cơn gió, làn gió, hơi gió, ngọn gió. Nói "miếng gió quê" nghe thuận tai và "chan chứa tình quê" hơn là làn gió quê, ngọn gió quê. Chỉ có tiếng sáo diều vi vu trong gió, và miếng gió quê làm mát tay người Cần Giuộc mới "ru ta thơ ấu ngủ bờ đê", để đánh một giấc say sưa, ngon lành được. Cũng ít có ai dám đưa... nước mắm vào thơ. Nước mắm trong thơ PNT nghe mặn mòi (chứ không... nặng mùi) và nồng nàn mùi vị của "quê hương tôi nước mặn đồng chua".

Những "miếng" và "miếng" trong thơ PNT

Nghe được trong đêm ấy một khúc hát thể điệu dân ca của PNT. Thời gian trôi lướt qua, xác xơ miếng trăng tà. Bến cũ cây già. Tôi về nghe mưa khóc hoài con sáo bay xa... (Con Sáo Kiên Giang). Hỏi tác giả: "Tưởng 'miếng' chỉ ở trong thơ, hóa ra lại còn có ở trong nhạc nữa sao?" Tác giả lại cũng chỉ cười cười, "Đâu chẳng có." Quả đúng vậy, nhạc, thơ gì cũng đều có "miếng". Đâu phải chỉ "miếng gió quê, miếng trăng tà" không thôi, còn rất nhiều, rất nhiều "miếng" khác được tìm thấy trong những dòng thơ, dòng nhạc (hay "miếng thơ, miếng nhạc") PNT. Chỉ nói riêng về thơ, hễ có thơ là có "miếng", "miếng" ở cùng khắp trong thơ. Nhà thơ sử dụng miếng võ "miếng" rất đỗi tài tình, độc đáo, tạo thành ngôn ngữ thơ rất PNT. Thử đọc chơi ít câu thôi để thấy không chỗ nào là không có "miếng":

Bản tình ca ai hát sao mà ngọt

bàn tay xưa xóa miếng yêu đầu

(Lời Đêm)

"Miếng yêu đầu" thay cho những "thuở ban đầu, cuộc tình đầu, tiếng yêu đầu..." vẫn thường nghe, thường thấy. "Miếng" nghe vẫn ngọt ngào hơn, đằm thắm hơn.

Lòng em anh ơi tịnh như trang giấy

vì vướng miếng đời mà động bụi bay

(Đêm, Bức Họa)

"Miếng đời" nghe cũng đâu khác chi "đời cơm áo", cũng đắng cay, cũng chua xót vậy.

Nghiêng chai rót hết đêm cùng cạn

miếng bè, miếng bạn, miếng tình thân

(Miếng Bạn Miếng Bè)

"Miếng" ở đây nghe lại thật hào sảng và thân tình, như dốc cạn hết nỗi niềm bầu bạn trong chén rượu đầy vơi.

Sẽ biếu chị nửa miếng thanh xuân

giấu trong ngày xưa thuở còn nhỏ dại

(Thư Gửi Chị Khuất)

Sao không là miếng nguyên vẹn? Chỉ nửa miếng thôi thì chắc gì đã đủ để vớt vát, để níu kéo lại một thời xuân sắc đã phôi phai với rất nhiều hối tiếc.

"Miếng" còn là ánh trăng, là cánh sao trong câu lục bát nên thơ:

Đói lòng ăn miếng trăng tơ

xôn xao cành gió động tờ mây trôi

(Đường Hành Hương)

. . .

Trên trời sáng miếng đêm thâu

soi tôi óng ánh mối sầu đợi ai

(Cuộc Đợi)

"Miếng" cũng nằm rải rác trong câu ngũ ngôn cuồng ngạo:

Nuốt từng tia nắng quái

bụng no ứ miếng đời

đến bên bờ đá dựng

thả mấy nhành thơ rơi

. . .

vác cây đàn cổ gẩy

miệng ngậm miếng trăng tà

(Thị Cuồng)

Do đâu nhà thơ sính dùng "miếng" đến như vậy. "Miếng" ở đâu ra nhiều quá vậy? Theo nghĩa thông thường, miếng là phần nhỏ được tách ra khỏi nguyên khối, có nghĩa tương tự mảnh, mẩu, mảng... (miếng đất, miếng vườn, miếng bánh, miếng da, miếng giấy, miếng thuốc lào...), hoặc một lượng thức ăn thức uống vừa đủ để cho vào miệng (miếng thịt, miếng cá, miếng cam, miếng xoài, miếng nước, miếng sữa, miếng canh, miếng cháo, miếng cơm manh áo, miếng đỉnh chung...). Nam bộ có "cười miếng chi" (nghe hay hơn, dễ thương hơn "cười mím chi"), "cho qua hun miếng coi" (nghe hay hơn "hun cái coi"). Ca dao có "tiếc gì một miếng trầu cay...". Tục ngữ có "ăn miếng trả miếng", "miếng ăn là miếng nhục", "miếng khi đói, gói khi no", "không được tiếng cũng được miếng", "miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời". Vũ Bằng có "miếng ngon Hà nội", Chính Hữu có "áo anh rách vai, quần tôi có hai miếng vá"...

Như vậy thì "miếng" đã có từ lâu lắm rồi chứ đâu phải mới bây giờ, nhưng thực tình chẳng có chỗ nào "miếng" được tìm thấy nhiều cho bằng ở trong thơ PNT. Những ví dụ không sao kể xiết: miếng củi, miếng cắn, miếng vui, miếng buồn, miếng lưng trần, miếng nước non, miếng hồn (không phải điếng hồn), miếng gió quê, miếng trời xanh (có "miếng đất" thì phải có "miếng trời", tại sao không?), miếng trăng xanh, miếng trăng vàng, miếng trăng tà, miếng trăng tơ (chỉ thiếu miếng trăng non, trăng già nữa là đủ bộ) miếng ngày, miếng đêm thâu, miếng sáng trăng (chưa thấy miếng tối trời), miếng chiều xanh (chưa thấy miếng chiều tím, chiều vàng), miếng tang thương, miếng tả tơi (chắc là miếng vá), miếng vàng phai, miếng mặn mòi, miếng yêu đầu (chưa thấy miếng yêu cuối), miếng ăn sầu (không phải miếng ăn... trầu), miếng... v.v. và v.v... Chắc phải còn sót rất nhiều miếng. Nhà thơ quả là tay phù thủy ngôn ngữ. Bất kỳ thứ gì là mảnh đều có thể thay thế bằng miếng: mảnh hồn, mảnh đời, mảnh trăng vàng... biến hóa thành miếng hồn, miếng đời, miếng trăng vàng. Khung trời xanh, khoảng trời xanh, mảng chiều xanh... nghe sao hay bằng miếng trời xanh. Làn gió quê, cơn gió quê, ngọn gió quê... nghe sao hay bằng miếng gió quê. "Miếng" so ra gợi hình hơn, gợi cảm hơn, ngon lành hơn, nghe tới là phát chảy nước miếng, chỉ muốn hả miệng cắn một miếng cho đã thèm. "Miếng" nghe ra hiền hòa, mộc mạc, chơn chất (như tấm lòng nhà thơ), và cũng trần trụi gọn ghẽ, giản dị dễ hiểu, không cầu kỳ kiểu cọ, không õng ẹo uốn éo, không làm duyên làm dáng, không tô điểm màu mè. Chữ gì ghép vào "miếng" nghe ra cũng có vẻ thân thiết, gần gụi, dẫu có là miếng nhỏ miếng lớn, miếng dày miếng mỏng, miếng ngon miếng dở, miếng vui miếng buồn...

Nhưng tại sao lại là "miếng"? "Miếng" trong thơ PNT thực ra là gì? Sao lại đeo đuổi, gắn bó với nhà thơ đến thế? Cứ xét cả về nghĩa đen nghĩa bóng, nghĩa rộng nghĩa hẹp của từng câu từng chữ trong thơ thì "miếng" đây hiểu ra chính là miếng quê hương, là nỗi niềm hoài hương PNT gửi vào trong thơ vậy. "Miếng" đây cũng là mảnh tình quê, là mảng trời quê hương, là mẩu tâm sự của kẻ xa quê. "Miếng" đây cũng là mảnh vườn, thửa ruộng, luống cày, liếp rau... "Miếng" đây cũng là... bụi chuối buồng cau, là bụi tre khóm trúc, là "cây đa bến cũ, con đò năm xưa" vẫn mong đợi ngày chàng trở lại... "Miếng" đây cũng là "con sông xưa, thành phố cũ", là giếng nước bờ ao, là tiếng chày giã gạo, là cụm khói lam chiều, là cụm mây lững lờ, là đêm "trăng sáng soi liếp dừa", là hương thơm của "lúa chín vàng đầy đồng", là mùi ẩm mục ngai ngái của từng gốc rạ mới cắt..., là hình ảnh là âm thanh là mùi vị của cây cỏ đất trời, của hương đồng gió nội. "Miếng", như vậy chỉ có thể phát xuất từ tình tự dân tộc, từ trái tim nặng trĩu tình yêu quê hương. Từng "miếng" ấy góp lại như trò chơi ghép hình, để sau hết nhìn thấy rõ được bức tranh toàn cảnh đầy hương sắc của quê mình.

Quê hương trong thơ PNT

Đâu có riêng gì PNT, đã rất nhiều người viết về quê hương. Cũng như tình yêu đôi lứa, nguồn thơ ấy chẳng bao giờ cạn. Tuổi đời càng chồng chất, tình quê càng đậm đà. Càng xa quê lâu năm, nỗi nhớ càng thêm se sắt. Cũng là nói về quê hương vậy, thế nhưng ở PNT, quê hương nghe vẫn cận kề gần gũi hơn, đằm thắm thiết tha hơn, chỉ vì tiếng thơ PNT, tự khởi đầu, đã là tiếng thơ về nguồn, là tiếng suối nguồn róc rách, tiếng sông hiền hòa xuôi chảy qua những miền đất nước, thấm vào từng mạch đất quê hương...

PNT làm thơ tự lúc nào, ít có người biết. Trước đó anh chỉ được biết đến như một kẻ hát rong, một "chàng phiêu lãng ôm đàn tới giữa đời". Chỉ nhớ lời bình phẩm "đúng là tay nhạc sĩ làm thơ" của các bạn thơ anh, khi bắt gặp không phải những câu nhạc đầy chất thơ mà là... những câu thơ đầy chất nhạc.

. . .

cuối biến khúc Elisa thả xuống

dấu lặng tròn đọng dưới đáy hồn anh

(Para Elisa)

Đâu phải chỉ đem thơ vào nhạc, PNT còn đem nhạc vào thơ nữa. Cũng đâu phải quê hương chỉ có trong nhạc PNT, quê hương còn ở cùng khắp trong thơ anh nữa.

Quê hương ở mỗi địa danh, mỗi nơi chốn thân quen, mỗi con phố, mỗi thôn xóm, mỗi làng quê, có khi là một thành phố biển "miền quê hương cát trắng".

Qua cầu Xóm Bóng mưa bay

nhịp xe thổ mộ sầu lay lất đời

ghé Tháp Bà đứng nhìn trời

ngó vô Cầu Đá nhớ người viễn du

. . .

Cái ngày bỏ biệt Nha Trang

đèo cao Rọ Tượng cao ngang tầm sầu

hay tại lòng tôi mưa mau

thấy Nha Trang khóc dưới cầu Hà Ra

(Nha Trang, Vết Tôi)

Cũng có khi là một tỉnh lỵ heo hút, "bụi-mù-trời" và "buồn-một-thuở" ở miền cao nguyên đất đỏ.

Gió chướng thổi qua cầu Mười Bốn

cầu già như một bộ xương khô

trăng soi lạnh cả vùng sông nước

mạn ngược xuồng ai cố chống vô

. . .

Khóc mùi một trận đi, quê núi

vuốt ngực trôi xuôi những nỗi niềm

trả hết về xưa cho gió xóa

để hồn ươm vạt nắng vàng im

(Quê Núi)

Chiếc cầu bao nhiêu tuổi không biết, chỉ nghe nói "già như một bộ xương khô" là cũng đủ hình dung cũ kỹ biết chừng nào. PNT xa quê đã lâu, quê hương tưởng đã mịt mù tăm tích, thế nhưng ở mỗi địa danh, mỗi nơi chốn mà gót chân "chàng phiêu lãng" đã từng ngược xuôi xuôi ngược, hình dáng quê nhà đến nay vẫn còn đậm nét trong tâm trí, tưởng như đã có lần về thăm chốn cũ, hay chỉ mới xa quê hôm nào đây thôi. "Trả hết về xưa cho gió xóa", thế nhưng liệu gió có xóa được không, hay gió chỉ thổi về làm nhức nhối lồng ngực, làm se sắt buồng tim.

Trải ra đây một miếng chiều

tôi ngồi tựa gốc đìu hiu Đồng Xoài

mùa xuân đã mọc hiên ngoài

thương em còn ngủ giữa hoài niệm anh

(Mọc Ở Đồng Xoài)

Ở đây còn có thêm một địa danh, và lại thêm một "miếng chiều". Những câu thơ đọc lên tưởng chừng đang sống giữa mùa xuân quê nhà.

Quê hương còn ở mỗi chén cơm chén nước, chung trà chung rượu mời mọc nhau trong những ngày đầu xuân nơi xứ lạ quê người.

Mời em một chén quê nhà

một ly non nước làm quà đầu năm

(Mâm Cỗ)

Quê hương còn ở cả những bữa nhậu giữa các bằng hữu. Hễ rượu vào là thơ ra, thơ gửi gấm tâm sự kẻ tha hương, thơ chất chứa mối sầu ly hương day dứt không nguôi.

Rót chơi vài ngọn gió bay

cho phôi phai nỗi tháng ngày hoài hương

(Rót Hệ Lụy)

Rót chơi thôi nhưng uống là uống thiệt tình, để nghe men rượu ngấm, để khi tỉnh ra lại giật mình mới thoáng chốc đó mà lìa quê đã bao năm, như dòng sông ra biển đi mãi không về...

Tiếng rượu rót tiếng nguồn róc rách

tiếng dòng sông ra biển không về

ôi chớp lửa cuộc người thoáng chốc

muời lăm năm mê mỏi lìa quê

. . .

lè nhè gặm câu thơ nhớ nước

túy lúy vô hà tức thị phương*

. . .

Có ai nói đã ba giờ sáng

đang ngà say nghe thoáng giựt mình

ta chợt nhớ chợt thèm háo hức

tiếng gà xưa gáy thuở bình minh

(Viễn Khách Hành)

Quê hương còn ở một góc chợ, một góc phố, những nhà cửa, những đường xá trong một khu phố Tàu khi bắt gặp tình cờ "quê người thoáng một nét quê hương".

Xuống phố Tàu Đông một buổi chiều

tự dưng trong dạ thấy buồn thiu

thì ra góc phố sao mà giống

cảnh cũ quê xưa muốn thiếu điều...

(Phố Tàu)

"Buồn thiu" chứ không phải "buồn tênh, buồn xo, buồn rầu...", mới nghe ra cái buồn hiu hắt. Câu thơ bỏ lửng ngang đó nhưng ai nghe cũng hiểu thấu, ai nghe cũng muốn... thiếu điều.

Quê hương còn ở những chuyện trò to nhỏ, những kể lể tâm tình giữa cha và con về hình ảnh làng quê một thời nào xa lắc, một dòng sông nước bạc, một vầng trăng huyền hoặc như là cổ tích, ở nơi chốn nào mịt mù, xa thẳm.

Con sinh nơi xứ lạ quê người

xa quê cha biết mấy trùng khơi

con đâu biết dòng sông quê nội

có vừng trăng ai xẻ làm đôi...

(Thơ Đầu Năm Cho Con Trai Đầu Lòng)

Bầu trời nào cũng chỉ một bầu trời, vừng trăng nào cũng chỉ một vừng trăng, thế nhưng những đêm trăng sáng ngước mặt nhìn trời, thấy trăng viễn xứ phương này lại mơ màng nhớ bóng trăng soi phương nào, vì nhà thơ lúc ra đi còn quyến luyến mang theo một nửa vừng trăng quê nội.

Quê hương còn ở nỗi niềm tâm sự trong những cánh thư từ phương xa gửi về quê nhà kể về những nỗi nhớ thương dằng dặc, những năm chờ tháng đợi mỏi mòn.

Em ở bên nhà đâu có biết

lòng chị phai từng chiếc lá rơi

(Cây Đàn Trong Miệng Ngậm)

Quê hương còn ở nỗi nhớ mênh mang về một không gian tịch lặng, những khi chiều xuống êm đềm vẫn nghe phảng phất hương thơm dịu dàng quen thuộc của hoa trà, hoa bưởi, hoa cau thoáng nhẹ đưa trong gió...

Anh vẫn nhớ một chút chiều thinh lặng

qua mùi thơm của gió thoảng hương trà

đã nhiều năm sau một lời biện biệt

dòng sông đời dài quá đỗi chia xa

(Para Elisa)

Quê hương còn ở những phút giây để lòng mình lắng xuống giữa một vùng sông nước lững lờ, một khoang đò nhỏ, một bóng trăng soi, thả hồn lâng lâng theo câu hò tình tứ vẳng trên sông trôi êm đềm.

Câu thơ đậu trong điệu hò

hồn tôi đậu giữa lòng đò trăng soi

(Trong Khi Chờ Thanh Xuân)

Quê hương còn ở nhịp võng đong đưa và những lời mẹ ru êm ái, ngọt ngào.

Ru đời mấy nhịp bâng quơ

ru con tận tụy ầu ơ... sớm chiều

ru đời có tiếng suối reo

ru con mẹ tiếp lời theo võng này

lời quê đồng vọng chân mây

ca dao là nhịp ru đầy giấc con

(Lời Ru)

Quê hương còn ở những câu lục bát mượt mà, thật đằm thắm, thật gần với ca dao.

Cái sầu bay lả bay lơi

bao giờ rã cánh hụt hơi thì về

(Có lần Nằm Ở Bệnh Viện York-Finch)

. . .

Lòng còn thơm ngọn gió quê

thổi đâu từ thuở bờ tre mới trồng

(Năm Mới)

. . .

Nước đi xanh biếc một dòng

hẹn trăng ra biển bỏ buồn cho thơ

(Bỏ Buồn Cho Thơ)

Những câu thơ lục bát thẳng cánh cò bay, mênh mông bát ngát mà hồn hậu dịu dàng, hệt như tấm lòng hào sảng phóng khoáng mà đơn sơ chơn chất của nhà thơ.

Chiều rơi từng vạt mong manh

chân đi vừa chạm khúc quanh chiều tàn

(Đường Hành Hương)

. . .

Trèo lên trên ngọn trời mây

thu trăm năm lại một ngày vào thơ

(Hóa Thân)

. . .

Chụm môi thổi tắt tháng năm

anh về thắp ngọn nến săm soi trời

chợt nghe chim hót mấy lời

tay anh nhặt được một đời của em

(Sinh Nhật Của Cây Đàn)

. . .

Vàng lên một cõi hao gầy

câu thơ vừa chớm đã đầy nắng soi

lạ lùng chưa thế gian ơi

hồn tôi là những giọt rơi khẽ khàng

(Giọt Trong)

Sau hết, quê hương còn ẩn hiện chập chờn trong dáng dấp nàng thơ của PNT. Ai dám bảo vóc dáng ấy, nhan sắc ấy lại không phảng phất nét đẹp nghìn năm văn vật của "quê mình".

Đôi khi thơ hóa thành nhân dáng

đứng xinh như trúc mọc đầu đình

(Đành Mượn Câu Thơ Làm Tri Kỷ)

Đọc PNT, có lúc thấy quê hương hiện ra trước mắt thật gần gũi, thấy quê hương bàng bạc, ẩn hiện trong mỗi dòng chữ, mỗi trang thơ. Đọc PNT, ta nghe những tình tự dân tộc như con nước tràn về, như sóng vỗ miên man, như đồng lúa rì rào, như điệu hò văng vẳng, như sáo diều dìu dặt, như bản đàn réo rắt, như lời ru êm của mẹ ngọt ngào... Tất cả những thanh âm quyện lẫn vào nhau mà ta nghe được ở trong thơ chính là lời đồng vọng mênh mang tưởng là xa xăm mà thật gần gũi, là lời của hương đồng gió nội thổi dạt về từ chốn xa quê nhà.

Tiếng thơ PNT là tiếng lòng u uẩn, là tiếng thở dài nhè nhẹ, là mối sầu dằng dặc, là nỗi nhớ da diết không nguôi về một hình bóng xa khuất chốn quê nhà. Những hình ảnh trong thơ không nhiều lắm, có khi chỉ là con đò nhỏ, là mái chèo nhẹ khua nước đêm trăng, là chiếc cầu tre lắt lẻo, là khoảng không gian chiều tịch lặng, là bóng trăng soi mơ màng..., nhưng cũng đủ làm người đọc chạnh lòng, cũng đủ nhắc nhớ về nguồn cội, về một "quê hương khuất bóng hoàng hôn..."

Rượu, bằng hữu, "thơ của người chứng"

"Văn là người", như ta vẫn nghe nói. Ở PNT, ta thấy thơ cũng là người nữa, thơ sao người vậy, như chàng tự vẽ mình trong bức "chân dung tự họa".

Nói đừng cười nha em đài em các

hết nửa đời anh ở núi ở rừng

nên anh quê mùa tánh tình chất phác

nói tới yêu đương thì lại nhát gừng

. . .

Bây giờ qua đây lòng anh vẫn vậy

vẫn cứ như gương một tấm sạch boong

hồn anh đơn sơ như là trang giấy

sống hổng gì hơn ngoài một tấm lòng

(Thuở Còn Ở Vậy)

"Sống hổng gì hơn ngoài một tấm lòng", đó là PNT, là "trước sao sau dzậy", là "có sao nói dzậy người ơi", là luôn luôn phơi trải lòng ra với mọi người, là dễ hiểu tại sao anh có nhiều bạn bè và bè bạn thảy đều thương quý anh. Cả đến những người gặp gỡ nhà thơ lần đầu cũng đều cảm thấy gần gụi anh ở cái phong cách giản dị, thong dong và thoải mái ấy. Trong thơ anh, ta cũng đọc thấy tình bằng hữu, thấy mối thâm tình đối với bạn bè, thấy tấm lòng đối với người thân, quen. PNT vốn quý bạn, và người có cái tâm "thoáng" như anh chắc là chẳng có khi nào biết đến những giận hờn trách móc, cũng chẳng yêu người này ghét người kia. Anh nhìn ra những cái tốt ở mỗi bạn bè.

Thương bạn hiền như cơm gạo lức

tấm lòng chẳng biết uốn quanh co

(Đãi Bạn Đường Xa)

Trong những cái đam mê của PNT, có mê thơ, mê nhạc, mê bạn bè... Bằng hữu phải kể là nguồn an ủi lớn trong cuộc đời anh, từ khi còn ở quê nhà cho tới lúc xa quê, từ khi còn phòng không chiếc bóng cho tới lúc đã yên bề gia thất. Hạnh phúc không chỉ là mái gia đình êm ấm, hạnh phúc còn ở những lần gặp gỡ, hội ngộ bạn bè, những "tha hương ngộ cố tri", hay chỉ mới sơ giao mà tựa hồ có mối duyên tri ngộ.

Bây giờ qua đây mỗi khi thù tạc

lòng thật bình yên ở giữa bạn bè

(Tứ Trụ)

. . .

Ngồi quanh những bạn bè xưa cũ

và những bè bạn mới quen thôi

gom chung bàn chật, không gian chật

đêm đổ tràn ra giọng nói cười

(Miếng Bạn Miếng Bè)

Tình bằng hữu thể hiện rõ nét nhất ở những câu thơ "rượu vào thơ ra". Được biết Phan-gia-trang, chốn ẩn cư khiêm tốn và hiền lành của gia đình nhà thơ nơi xứ tuyết, đã từng lắm phen là nơi chiêu hiền đãi sĩ, nơi quần hùng năm châu bốn biển đi ngang về tắt vẫn thường khi xăng xái tạt vào, xốc áo ngồi xếp bằng cùng trang chủ chén thù chén tạc. Tửu lượng PNT thực sự chẳng lấy gì làm cao, chỉ chút chút làm vui cùng bằng hữu, mới sương sương đã "lè nhè gặm câu thơ nhớ nước...", thậm chí có lúc lại tỏ vẻ ngại ngùng mỗi khi bè bạn mời mọc ép uổng nâng ly nâng chén, nhưng lại có những phút cao hứng và có vẻ thích cái không khí đồng ẩm, đối ẩm làm ra vẻ "tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu". Dường như trong những phút ấy, khi men rượu ngấm, khi lòng lắng xuống, những chuyện trò càng thêm hưng phấn, những tâm sự càng dễ bộc bạch, và cũng dễ... "nghe thơ thẩn nhỏ từng câu" (Viễn Khách Hành). Hơi thơ ra vẻ đầy khẩu khí, nhưng chẳng qua chỉ là mượn rượu giải sầu đấy thôi, đến khi tàn cuộc thì cũng là tàn mộng, lại "tỉnh ra buồn quá phận con người".

Long trọng uống từng hơi hảo tửu

thiệt lòng ta hào sảng quen rồi

. . .

đêm bồn chồn mấy cơn gió nổi

rượu ngang xương mới dứt vòng đầu

. . .

Đánh giặc rừng xanh vài ba trận

về thành ngất ngưởng ngón ăn chơi

cuộc rượu đất trời say cũng chết

tỉnh ra buồn quá phận con người

(Cũng Người Phố Núi)

Bằng hữu ngồi quanh, rượu rót tràn trề. Ở đây là bạn, là nhạc, là thơ, là rượu..., là tất cả quyện lẫn vào nhau dễ gây nên chất men hưng phấn để chỉ nghe thấy những "rót và rót"...

Mầu rượu rót hoài không thất sắc

rót vào ta đỏ chói linh hồn

rót thành thơ giang hồ đề tặng

rót ra đời ấm bạn lòng hơn

. . .

mùi rượu đỏ rót nồng con mắt

rót mềm môi đã giọng lười ươi

(Viễn Khách Hành)

Rượu rót đến mềm môi, đến say lúy túy, đến không rõ là rót rượu hay rót thơ, rót hệ lụy xuống văn chương hay là rót câu lục bát xuống thềm dân gian (Rót Hệ Lụy). Bạn cũ bạn mới gì cũng dễ dàng thân mật qua những câu chuyện vãn, chuyện xưa chuyện nay, chuyện văn chương văn nghệ, chuyện nhớ nước nhớ non bên chung trà chén rượu.

. . .

Ly bạc màu cụng với bạn ta

góp vui lại thành ly thân mật

ly mới quen sắc cũng đậm đà

(Viễn Khách Hành)

Không hẳn là sau những cơn say chỉ còn tiếng thở dài "tỉnh ra buồn quá phận con người", người đọc thơ PNT còn nhận ra, thơ anh có lắm khi còn là những lời đùa cợt, hồn nhiên và dí dỏm, hệt như tính cách nhà thơ, vẫn thích cười ngạo giang hồ, vẫn nhìn ra được những góc cạnh khôi hài ở mỗi sự vật trong bất kỳ cảnh ngộ nào, ngay đến cả những thời kỳ đen tối nhất, nghiệt ngã nhất, khi thân xác còn đang bị giam hãm tù đày, còn đang phải trải qua những nỗi nhục nhằn, những cơn khát đói.

Mặc cóc là cậu ông trời

tao mà tóm được thì đời nào tha

(Cóc)

. . .

Chúng bỏ tao đói suốt ngày

thì đành nuốt sống chú mày cầm hơi

(Thằn Lằn)

Chỉ là những lời bông đùa nhẹ nhàng không ác ý, không chút hằn học, oán ghét, căm hận. Hơn thế nữa, thơ còn toát lên tính nhân bản trong nỗi sẻ chia những khổ đau của đồng loại. Những cảnh tượng vẫn gặp ở một trại tù: cảnh người tù trốn trại bị hành hạ, cảnh người tù tử nạn trong lúc lao động khổ sai, cảnh đào huyệt chôn cất người bạn tù, hay cảnh đôi vợ chồng trẻ ngậm ngùi chia tay nhau sau những phút thăm nuôi ngắn ngủi trong nỗi buồn thương, tiếc hận...

Tóc xanh em thả cho đời

mắt còn gửi lại những lời nhớ thương

đứng sau hàng kẽm gai mòn

tôi thương nức nở đôi con mắt buồn

(Thăm Nuôi)

Cứ như thế, bằng những sự việc được ghi nhớ, được kể lại trong thơ, thơ PNT đã là thơ của người chứng. Từ những biến cố lịch sử đến những điều mắt thấy tai nghe, như câu thơ đánh dấu "ngày dài nhất" của Banmêthuột, một thị trấn miền cao nguyên, dẫn đến ngày tàn chiến cuộc tháng Tư năm bẩy mươi lăm.

Mùng Mười lịch sử chao nghiêng

tháng Ba sông núi đảo điên cùng người

(Mùng Mười Tháng Ba)

Những hồi ức về một ngày vui, về một thời tuổi trẻ, những khuôn mặt bạn bè, những mối tình như gió thoảng, rồi tới những ngày ở lính, những lần đụng trận khốc liệt, những năm tháng lao tù..., tất cả đều được ghi chép lại rành rọt trong thơ. Thơ PNT, như thế cũng có thể được gọi là "hồi-ký-thơ", như là tựa một tập thơ của tác giả được xuất bản trước đây vậy.

Từ ngày "lịch sử chao nghiêng", thơ PNT cũng đã đổi giọng. Điều này cũng dễ hiểu. Quê hương như người tình cũ đã xa biệt. Quê hương chỉ còn là những trang thơ kỷ niệm. Thơ không còn là những lời tình tự, thơ chỉ còn là những lời nỉ non, kể lể.

Thơ tôi từ đó bâng khuâng

ngân nga giọng kể xa gần núi sông

(Hồi Ký Thơ)

Quê cũ chỉ còn là mảng trời kỷ niệm, chỉ còn trong mắt nhìn đau đáu trông vời về chốn xưa. Trái tim PNT là trái tim nặng trĩu những hồi tưởng, nặng trĩu những hoài niệm quá khứ .

Thương quê lòng những dạt dào

mực trong cây bút lại trào máu ra

Thơ PNT là vậy. Thơ hiền như đất, như người "quê mình", thật dung dị, không làm duyên làm dáng, không cầu kỳ kiểu cọ, không cố tình đeo đuổi những cách tân mới mẻ, lạ lùng, đến bắt nàng thơ phải soi mặt trong tấm gương dị dạng.

Người đọc đôi lúc có cảm tưởng như PNT làm thơ khá dễ dãi, như thơ đến với anh thật tự nhiên, dễ dàng. Dẫu có đúng, không hẳn lúc nào cũng như vậy. Nếu có những phút ngẫu hứng mà phóng bút, thơ như một bức ký họa, thì cũng có những khi nhà thơ phải dụng công chắt lọc đến từng câu, chữ, thậm chí đến từng con chữ. Nhớ có lần, từ nhiều năm trước, trong một dịp chuyện trò cùng PNT về tập nhạc mới nhất của anh đang chuẩn bị cho ấn hành, anh nhíu mày lộ vẻ băn khoăn, tỏ ý muốn thay đổi một chữ (hay chỉ một nét chữ, một nguyên âm) trong cái tựa của tập nhạc. "Trên Vừng Trán Quê Hương", thay vì "Trên Vầng Trán...". Chữ "vừng", theo anh, nghe có vẻ "rộng" hơn, mênh mông hơn, thênh thang hơn là chữ "vầng". "Chữ nào tốt hơn?" anh hỏi. Tôi cười, không trả lời, nghĩ đến câu chuyện "thôi, xao" của người xưa. Cái nhíu mày lộ vẻ băn khoăn ấy, đã khiến tập nhạc đến nay, sau gần ba muơi năm, vẫn chưa ra đời... Tập nhạc ấy, cũng như rất nhiều bài thơ bài nhạc khác cùng chung số phận, chắc đã chìm sâu dưới lòng biển đông sau chuyến hải trình đầy sóng gió đưa nhà thơ đến được bến bờ tự do... Trong bài nhạc cùng tên với tập nhạc ấy, tôi nhớ có một câu: "Mẹ đã già như cành củi mục". Tôi yêu những cái "như", những cách ví von đầy hình tượng của PNT. "Cầu già như một bộ xương khô". "Thương bạn hiền như cơm gạo lức". "Buồn như hạt giống gầy bỏ xó mốc meo". "Tôi ngoan như tiếng sáo diều, lại hiền như khói lam chiều bay lên." Già như không thể nào già hơn, buồn như không thể nào buồn bằng, ngoan đến thế là ngoan quá chừng, hiền đến vậy là hiền quá sức.

Từ ngày bỏ nước ra đi, PNT làm thơ nhiều hơn. Thơ như người bạn thiết, như nguồn an ủi, vỗ về. "Thơ tôi như bạn lúc mày lúc tao," anh nói về thơ mình như vậy. Thơ viết về quê hương, về bằng hữu, về những mảng đời trôi dạt, về những con người những sự việc, về những kỷ niệm xa lơ xa lắc... Sau hết, thơ còn là tiếng nói mạnh mẽ để khẳng định một điều, những người Việt tha hương, như PNT, như bao đứa con lưu lạc xứ người, dẫu có xa nhà bao năm, dẫu có phiêu bạt nổi trôi chân trời góc biển, vẫn không quên được nguồn cội, vẫn cứ nhớ về quê mẹ, vẫn cất dấu trong đáy tim hình dáng quê nhà, như PNT đã từng "thật thà khai báo lý lịch" nàng thơ của mình trong câu cuối bài lục bát đóng lại tập Hồi Ký Thơ năm nào:

Thơ tôi nguyên quán Việt Nam

Lê Hữu

■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■

Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách

Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập