■ ■ ■

truyện ngắn trần trị chi
trong văn bản hậu thuộc địa

thượng văn

 


 

Một

Sau cái chết của Thượng Đế, mọi chuyện đều được phép, kể cả việc tuyên bố tác giả đã chết. Ngày nay nhắc lại Roland Barthes là việc khá lỗi thời, là chuyện đã được nói đến từ thập niên 60 của thế kỷ trước. Tôi biết có người, như Seán Burke,gần đây hơn, đã từ Barthes, Foucault, Derrida, đã lập luận về sự tái sinh của tác giả. Điều nhiều người đã nói là thế này: cái chết của tác giả đánh dấu sự ra đời của độc giả. Trong mối quan hệ giữa Thượng Đế với thế giới do Ngài tạo ra và trong mối quan hệ giữa nhà văn (một Thượng Đế khác) với văn bản, tác phẩm (một thế giới khác), độc giả (và một phần khác, nhà phê bình) phải chăng cũng là một Thượng Đế đối với văn bản, tác phẩm?

 

Hai

Milan Kundera, trước câu hỏi cho rằng quyển The Joke của ông là một bản án chống lại chủ nghĩa Stalin, đã xác định tác phẩm là một câu chuyện tình. Ở một lần khác, ông phê phán việc phán xét tác phẩm của ông trên ý nghĩa chính trị là đọc sai ý của tác giả. Câu chuyện, một mặt, là một cố gắng giành lại quyền lên tiếng nói tối hậu cho việc giải thích ý nghĩa tác phẩm; mặt khác, độc giả (nhà phê bình) tin rằng việc giải thích tác phẩm thuộc về mình (không còn trong tay tác giả, hay tác giả đã chết).

 

Câu chuyện còn mang một ý nghĩa khác: nhà văn vốn dĩ lo ngại bị xếp loại. Và tệ hại hơn hết có lẽ là bị xếp vào loại nhà văn chính trị hay nhà văn chụp bắt thời đại, nơi chốn và cảnh ngộ mình. (Ở một mặt khác, có lẽ vinh dự hơn trong tư cách nhà văn, phải là mối bận tâm vượt ngoài thời gian, bao trùm lên nhân loại).

Milan Kundera lên tiếng trễ hơn ông Trần Trị Chi.

 

Mười truyện ngắn trong tập Gia Phả dưới mắt nhìn của nhiều người có thể chỉ là tuyển tập của nhiều chuyện tình. Nhưng qua cuộc nói chuyện với ông Phạm Điền trên đài Á Châu Tự Do, ông Trần Trị Chi nói rõ việc lựa chọn "đề tài thuộc về tình cảm sẽ nhẹ nhàng đi vào lòng người đọc hơn những đề tài khác." Như thế chuyện tình chỉ là một cái cớ. Cũng trong cuộc phỏng vấn đó, ông không che giấu mục tiêu chính của tập truyện, điều gửi gấm trong đó của ông, là "không nên chấp nhận cách nhìn lịch sử Việt Nam qua con mắt của ngoại nhân."

 

Cách nhìn vấn đề qua lịch sử không thể thoát ra ngoài cách đánh giá lịch sử theo một nhãn quan chính trị nào đó. Liệu tác giả Trần Trị Chi có đi vào lối mòn lịch sử của những tác phẩm văn chương mà yếu tố chính trị đặt trên lằn ranh quốc / cộng vẫn làm chia trí không phải chỉ riêng người cầm bút ở hải ngoại? Lằn ranh đó không phải đã sản sinh ra chiều hướng văn chương thân cộng và chống cộng theo cách phân chia đơn giản của một số người. Ở hải ngoại nó sinh ra hai khuynh hướng văn chương chính trị và phi chính trị. Ông Trần Trị Chi đi xa hơn thế. Ông đặt vấn đề đối với tình trạng một Việt Nam thời hậu thuộc địa.

 

Một cách nào đó, Gia Phả của Trần Trị Chi khiến chúng ta phải nhớ lại Người Mỹ Thầm Lặng của Graham Greene. Người Mỹ Thầm Lặng là câu chuyện kể của một phóng viên người Anh hiện diện ở Việt Nam trong buổi suy tàn của chế độ thuộc địa Pháp và vào buổi đầu của sự can dự của Mỹ vào Việt Nam. Cho đến nay người ta vẫn không ngừng ngợi khen cái viễn kiến chính trị của tác phẩm văn chương đó. Cái nhìn của Graham Greene tuy vẫn không ra ngoài mối liên hệ tiêu biểu giữa cái tôi (thực dân) và kẻ khác (bị thực dân) nhưng ít nhất cái tôi đó đã không còn giống như những cái tôi thực dân trước kia. Cái tôi đó biết rằng "chúng ta đã dạy cho họ những trò chơi nguy hiểm" bằng "tư tưởng của chúng ta." Những chủ nghĩa và thể chế (isms and ocraties) nhập cảng vào thuộc địa là nơi người ta "chỉ muốn đủ gạo ăn. Họ không muốn bị bắn. Họ muốn một ngày như mọi ngày khác. Họ không muốn người da trắng chúng ta kề cận để nói cho họ điều họ mong muốn."

 

Gia Phả ngược lại thể hiện cái tôi (bị thực dân) trong mối quan hệ với kẻ khác (thực dân). Gia Phả còn là cái tôi nhìn lại mình, cái tôi giữa chúng ta, cái tôi đi tìm lại cho mình cái căn cước dân tộc bị đánh mất. Trên văn bản hậu thuộc địa, người ta thấy một Trần Trị Chi không chỉ đi tìm lại quá khứ bị lãng quên, bị xuyên tạc. Ông định giá lại quá khứ đó.

 

Trong truyện ngắn dài nhất có tên Gia Phả (67 trang trong tổng số 280 trang sách) Trần Trị Chi viết, "Chừng nào những mụn nhọt của lịch sử không được khơi ra để ngay thẳng nhìn nhận, chừng đó chúng ta không thể cùng một lòng để cùng nhau thoát khỏi đổ vỡ, tang thương." (trang 157). Ông không chỉ nhìn lại vấn đề tôn giáo trong buổi đầu Pháp đến Việt Nam mà còn phê phán, ". Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam đã chỉ sao chép những gì sẵn có của người ngoại quốc về chính sách cũng như nội dung giảng dạy." (trang 158)

 

Quá khứ mà Trần Trị Chi đi tìm lại đó không tách rời khỏi hình ảnh gần gũi của chiến tranh của "Bom Mỹ đốt sạch dưỡng khí. Tình yêu không còn gì để thở, khi Mỹ quyết tâm đem bom đạn dội lên đầu dân Việt." (trang 177)

 

Không dung thứ quá khứ, Trần Trị Chi cũng không buông tha hiện tại. Chuyện vượt biên được ghi lại như là chuyện "Lịch sử tội ác loài người phải ghi đậm nét những hành động thú vật của bọn người Thái Lan này." Nhưng truy nguyên ra, ông viết tiếp, "Và chuyện dài người bóc lột người từ thuở xưa, cũng không nên bỏ sót hành động nhẫn tâm của những người Cộng sản cầm quyền tại Việt Nam hồi đó" đã "mở cửa biển, xô dân ra khơi." (trang 68)

 

Hiện tại đó còn là chuyện nóng bỏng khác của đề tài lãnh thổ. Ông viết, "Mẹ kiếp! Mày vào bưng kháng chiến chống Mỹ, cực khổ như vậy; để bây giờ lại như thế à?. Trường Sa, Hoàng Sa tít ngoài khơi, còn thác Bản Giốc ngay biên giới đấy! Tây chiếm, ta đánh được; Mỹ tới ta đuổi đi; Tầu đớp thì chỉ có đi đứt!" (trang 180)

Trần Trị Chi đã tung hoành như thế trong chữ nghĩa. Ông không đưa ra một giải pháp chính trị nào cả bởi ông không phải là một chính trị gia. Ông cũng không viết lại lịch sử bởi ông chỉ là một nhà văn kể chuyện tình.

 

Ba

Chuyện tình ông kể lại cho chúng ta luôn luôn mang hình ảnh sâu đậm hơn của người phụ nữ. Ngay cả hình ảnh tiêu biểu ông lựa chọn để nói lên sự tàn khốc của chiến tranh cũng vậy. Đó là "Bé gái trần truồng bị bắn chết hồi đêm, xác vứt nằm tênh hênh trên hè phố." được ghi lại sau một loạt hình ảnh của "Tây trắng, răng nhờn nhợt nhe. Tây đen, răng trắng nhởn, môi dầy." (trang 170). Tại sao đó phải là bé gái? Và cớ gì phải trần truồng?

 

Peter Hulme là người đã giúp chúng ta lưu ý đến bức tranh được vẽ từ cuối thế kỷ XVI của Stradanus mang tên "Vespucci khám phá ra Mỹ châu." Trong tranh Vespucci đứng trước một Mỹ châu tượng trưng bằng một người phụ nữ trần truồng vừa được khám phá. Đó không phải là bằng chứng duy nhất về mối liên hệ giữa nữ giới và thuộc địa. Đó cũng không phải chỉ là đề tài được nhắc đến trong văn bản của kẻ đi chinh phục thuộc địa mà còn được dùng về sau trong văn bản chống thực dân của kẻ bị trị.

 

Qua tác phẩm của Ania Loomba về "Chủ nghĩa thuộc địa / hậu thuộc địa" tôi biết được cách dùng chữ như "Mẹ Việt Nam" hay "Đất Mẹ" không phải chỉ riêng của người Việt mà còn được dùng tại nhiều thuộc địa khác trên thế giới.

 

Trong văn bản hậu thuộc địa của Gia Phả, Trần Trị Chi mở ra trước chúng ta cảnh đời của các nàng Kiều thời đại như trước đây ông Tưởng Năng Tiến đã từng viết. Một nửa số truyện ngắn trong Gia Phả được viết trong lần tác giả về thăm quê nhà như Đào Phai, như Truyện Kể Từ Thành Phố. Bên dưới chuyện tình trong Gia Phả là "thân phận truân chiên của người đàn bà Việt Nam" là mối lo ngại của tác giả theo như ông nói về "tuổi vào đời của người phụ nữ Việt Nam bị hạ thấp xuống nhiều lắm, chừng 15 tuổi."

 

Bốn

Tất cả mười truyện ngắn trong Gia Phả được viết theo tiêu chuẩn của tác giả, nghĩa là "ngắn, gọn, rõ nghĩa và thay đổi cấu trúc theo từng truyện để tránh nhàm chán." Người đọc có thể thấy rõ cố gắng này của tác giả khi đọc Gia Phả.

 

Ở đây, tôi muốn nhắc đến Jean-Paul Sartre. Không phải một Sartre triết gia. Không phải một Sartre nhà văn. Không phải một Sartre kịch tác giả. Nhưng là một Sartre nhà phê bình văn chương. Trong bài viết mang tên "Francois Mauriac và Tự Do" Sartre phê bình quyển Thérèse Desqueyroux của nhà văn Francois Mauriac, người được giải Nobel văn chương năm 1952, và còn là một thành viên trong Hàn lâm viện Pháp từ năm 1933. Sartre viết, "Đặc trưng nghệ thuật của ông là trước tiên tự đồng hóa mình với nhân vật rồi sau đó thình lình bỏ mặc cô ta để phán xét cô từ phía ngoài, như một quan tòa." Câu điển hình được Sartre trích dẫn thế này trong Thérèse Desqueyroux:

 

"Cô nghe chuông đồng hồ gõ chín tiếng. Cô còn đủ thì giờ bởi vì vẫn còn quá sớm để nốc viên thuốc có thể bảo đảm cho cô ngủ chừng vài tiếng đồng hồ; không phải cái thói quen của người đàn bà cẩn trọng và tuyệt vọng là như thế, nhưng đêm nay cô không thể làm gì được mà không có sự trợ giúp này."

Sartre đánh dấu hỏi, "Ai là người phán xét Thérèse là một người đàn bà cẩn trọng và tuyệt vọng? Người đó chắc không phải là Thérèse."

 

Sartre phân biệt giữa cái "cô ta - chủ thể" với "cô ta - khách thể" Ông cho rằng người viết chỉ có thể lựa chọn một trong hai. Người viết như ở đây, Francois Mauriac, không thể vừa là nhân vật chính, ở đây, Thérèse, (nàng nghe chuông đồng hồ, nàng phán đoán vẫn còn quá sớm để uống viên thuốc ngủ) rồi đột nhiên người viết không còn đóng vai nhân vật chính nữa mà lại nhìn, phán xét cô ta từ bên ngoài (người đàn bà cẩn trọng và tuyệt vọng).

 

Người ta tìm thấy trong Gia Phả điều gì đó tương tự giữa Francois Mauriac với Trần Trị Chi. Truyện "Một đám cưới ngày ấy" khởi đầu bằng nhân vật xưng tôi làm bạn với một người tên Viễn trong trại tù cải tạo. Viễn kể lại chuyện tình xưa của anh với Hoàng Cung. Đột nhiên ở giữa câu chuyện của Viễn, nhân vật tôi xen vào, "Dĩ nhiên quý bạn đọc cũng như tôi, khi được nghe Viễn kể đến đây, chúng ta đều đã thoảng thấy phảng phất một chút hương vị ngọt ngào của tuổi mới lớn." Rồi cách đó vài trang, cũng ở vào giữa lúc nhân vật Viễn còn tiếp tục kể chuyện, nhân vật tôi lại xen vào, "Tôi đã đi quá xa. Nguyên do lạc đề có sự góp phần của anh Viễn. Xin trở lại với quý bạn đọc." Trần Trị Chi đã tới lui như thế ông vừa là tôi, vừa là Viễn, vừa là Hoàng Cung từ trong ra ngoài. Như Francois Mauric, ông không tôn trọng qui luật mà Sartre viết ra thế này, "người viết tiểu thuyết có thể hoặc là nhân chứng hay kẻ đồng lõa nhưng không bao giờ cả hai trong cùng một lúc."

 

Cái lý do thật sự cho thất bại của Mauriac, theo Sartre, là vì nhà văn này đã đóng vai trò Thượng Đế trong thế giới do chính ông tạo ra. Ông viết, "Nếu bất cứ ai hỏi ông làm thế nào ông biết được Thérèse là một người đàn bà cẩn trọng và tuyệt vọng, có thể ông sẽ trả lời bằng sự ngạc nhiên to lớn, Có phải tôi đã tạo ra nàng?" Sartre nhấn mạnh "nhà văn không phải là Thượng Đế."

 

Gia Phả là tiếng nói chống lại phán xét này. Trần Trị Chi là Thượng Đế của thế giới, của con người (nhân vật) do ông tạo ra.

 

Năm

Bên trên tôi thử đặt ra câu hỏi phải chăng nhà phê bình cũng là Thượng Đế. Tôi đã thử đóng vai trò Thượng Đế đặt Gia Phả của Trần Trị Chi vào văn bản hậu thuộc địa. Điều quan trọng hơn, có lẽ ông Trần Trị Chi cần nghe thêm tiếng nói của nhiều Thượng Đế khác nữa.

 

Thượng Văn

 

■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■

Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách

Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập