■ ■ ■

chuyện tình

trần trị chi

 


 

1. MỜ

Hoàng ra Bắc, muốn thăm lại những nơi ngày xưa Hoàng đã sống. Căn nhà số 13B phố Hàng Nồi, Nam Định; cùng với lòng tiếc nhớ Cô Bé Áo Len Đỏ.

Di cư vào Nam năm 1954, hơn năm sau, Hoàng mới tình cờ biết cô áo len đỏ ấy là cháu của người quen với gia đình Hoàng; cô tên là Trần Thu Hà, quê ở Hải Hậu, Nam Định. Rồi năm 1978, sau khi ra khỏi tù cải tạo, Hoàng lại được biết thêm, cô Trần Thu Hà có một thời làm giáo viên ở Hà Nội. Những năm Mỹ ném bom Bắc Việt Nam, cô giáo Hà phải đưa học trò đi sơ tán gần núi Thiên Thai, thuộc vùng Hà Bắc.

 

Còn bây giờ không người nào cho được tin, cô đang ở đâu.

 

Chẳng ai, ngay cả cô giáo Trần Thu Hà, cũng không ngờ được rằng, có một cặp mắt đã theo cô, trong tấm áo len đỏ, giữa mùa đông mù sương, năm 1953. Cặp mắt đó giờ đây vẫn mong ngóng, như ngày xưa thường tìm về cuối phố, mừng thấy được một mầu áo đỏ, với mái tóc uốn quăn.

 

Nhưng khi đứng trước căn nhà số 42 phố Hàng Vôi, Hà Nội; Hoàng bỏ tuột rơi ý muốn trở về thăm lại Nam Định.

 

Chẳng còn gì nữa! Tất cả không giống như Hoàng vẫn nhớ về. Căn nhà trước mặt hoàn toàn khác; nguyên dẫy phố cũng đổi hẳn, lẫn trong một mầu lạ, vì hàng cây sấu suốt dọc đường đã biến mất. Ngay cả tên phố với lòng đường trải nhựa, dù chẳng đổi, cũng vẫn rất xa với những gì đậm nét trong lòng Hoàng, từ bao lâu nay. Phố Hàng Vôi ngày xưa dài tuột, giờ ngắn tũn; lòng đường rộng thênh, nay Hoàng chỉ xoạc có vài bước chân đã sang đến lề bên kia.

 

"Thưa bác, ở lâu nhất tại đây chỉ có gia đình chúng cháu. Trước cả đời ông cháu cơ! Nhưng chúng cháu chẳng biết gì. Ngay cái năm tiếp quản 1954, tít tìn tịt, cũng là những chuyện cháu chỉ được nghe kể lại thôi ạ."

 

Anh con trai đứng trước cửa căn nhà đối diện nói như vậy, sau khi chụp giúp Hoàng một tấm hình.

 

Vậy thì về lại Nam Định làm gì nữa. Nghe nói ngay cả tên phố Hàng Nồi bây giờ cũng đã được đổi thành Hàng Đồng rồi. Có về thăm thì dấu xưa cũng chẳng còn. Tấm phông cũ của những phập phồng đầu tiên sẽ biến mất, sẽ làm mờ đi bước chân luống cuống, non dại của một Cậu học trò Tiểu học, đầu cạo trọc, mặc áo bông...

 

Hình ảnh ấy, mỗi khi nhớ lại, bao giờ cũng đến với Hoàng như người đang mơ, lòng lẫn vào thời xa vời...

 

Mùa đông năm 1953, tại thành phố Nam Định, ngoài Bắc Việt.

 

Khói sương mù đục, nhuốm mầu u sầu vào những chiều mùa đông lạnh lẽo, từ từ tan loãng. Sắc hồng ấm áp của những xao động đầu đời trong lòng Cậu học trò, dần dần tràn ngập không gian. Ánh sáng của màn ảnh cứ tuần tự thay đổi, xoay vần từ khói sương mờ nhạt sang sắc hồng ấm áp. Cảnh buồn thì mờ tối, ảm đạm. Lòng vui thì sáng hồng, rực rỡ.

 

Năm 1953, lính Tây kéo về Nam Định nhiều lắm. Tây trắng, Tây đen, Tây rạch mặt Sénégal, Tây ngăm ngăm Ma-rốc-keng. Tây lổn nhổn khắp nơi. Tây sỗ sàng cùng đám me Tây, nguyên là phụ nữ Việt trôi nổi từ những hoàn cảnh khốn cùng, của một thời đất nước bị Thực dân Pháp xâm chiếm.

 

Súng ống, xe cộ kềnh càng, lạ mắt, lôi kéo trẻ con ồn ào, ùa theo, nhìn ngắm, chỉ trỏ. Xe nào cũng rầm rộ! Súng to ơi là to!

 

Phố xá bụi bậm, lòng đường lồi lõm. Dân tỉnh Nam ngỡ ngàng, dáo dác, sợ sệt. Họ ngỡ ngàng theo vận nước, dáo dác cho phận nhà, và sợ sệt trước nhiều cảnh lạ. Lạ, xẩy ra ngay trước mắt. Lạ, không thể có được trong đầu, cho dù cố mà tưởng ra.

 

Sinh hoạt tại thành phố đảo lộn với nhiều chuyện bất tường, diễn ra hàng ngày. Trường học phải đóng cửa, lấy chỗ cho Tây đóng quân. Lớp học phải phân tán, mượn chùa làm trường. Tiểu học Bến Ngự, còn gọi là trường Ca-rô, nơi Cậu học trò đang học lớp nhì, cũng chung số phận. Buổi sáng Cậu phải tới học tại ngôi chùa trên phố Khách; con phố của người Tầu, hai bên toàn tiệm buôn, lúc nào cũng chờ dịp kiếm bạc.

 

Nhà Cậu học trò, số 13B phố Hàng Nồi; xế cửa cũng có ngôi chùa nhỏ, được mượn làm nơi cho bọn học trò lớp dưới. Chiều chiều có Cô bé áo len đỏ, tóc uốn phi-dê, tới đón em học ở chùa này về. Cô thường tới sớm và họp với các cô khác, cũng tới đón em học ở chùa, cùng vui chơi với nhau. Các cô vẽ ô, nhẩy cò cò, ngay vỉa hè, chỗ cửa sổ nhà Cậu trông ra.

 

Chẳng biết từ hôm nào, Cậu học trò bé con chú ý tới Cô bé nhỏ, mặc áo len đỏ, tóc uốn phi-dê. Chiều nào Cậu cũng chờ Cô tới. Hôm Cô tới muộn, Cậu mong. Bữa Cô tới sớm, Cậu mừng. Cậu biết rõ giờ giấc của Cô, nhưng bữa nào Cậu cũng thấp tha thấp thỏm, đi ra đi vào, bồn chồn ngóng mong. Từ cửa nhà, Cậu phóng mắt về cuối phố, chỗ ngã ba rẽ sang phố Hàng Cau. Mầu áo đỏ sẽ đến từ phía ấy; mái tóc quăn không thể lẫn với ai được.

 

Đó là những ngày ấm áp nhất của Cậu giữa mùa đông thời nhỏ dại. Đó cũng là những ngày đầu tiên trong đời, Cậu mon men, dò dẫm, lần vào vùng hoang lạ, cuốn lôi. Những bước chân non theo lời mời gọi từ chốn âm u. Mới mẻ. Lạ lùng. Rạo rực. Say sưa. Hấp hút. Toàn thân Cậu thấm mật ngọt của lúa non. Băn khoăn. Ngại ngùng. Vội vã. Hoảng sợ. Lo âu. Đầu óc Cậu hình như chợt ăn năn với tội lỗi cội nguồn, như người đời vẫn bảo.

 

Chiều chiều Cậu vẩn vơ bên cửa sổ, kín đáo, mắt liếc trộm qua cánh cửa chớp, được cố tình khép hờ. Các cô vô tình, không biết đang bị rình, vẫn ồn ào ganh đua trong cuộc chơi. Một cô lò cò nhẩy, cẩn thận nhắm từng bước chân chim. Cô khác sắp tới lượt được vào thay thế, dập dình chờ, về phe với cả bọn. Các cô xét nét theo vạch kẻ của từng ô...

 

Những khi áo len đỏ chợt lấp kín khe cửa, Cô bé tóc uốn phi-dê gần ngay bên cạnh! Cậu rộn ràng trong lòng, phập phồng theo hơi thở. Tuồng như có dòng điện chạy dọc theo thân xác từ đầu xuống tới chân. Tay Cậu lóng ngóng. Chân Cậu bủn rủn. Và làn sóng chợt dập dình trồi lên, làm Cậu choáng ngộp. Hình như có muôn vàn bong bóng vỡ tan trong lồng ngực. Mê mẩn thoát ra ngoài, qua trái tim, thấm khắp châu thân. Cậu mềm người, gờn gợn, và gai gai. Cậu hoa mắt trong cảnh vật xoay nghiêng, đảo lộn, bập bùng tối sáng.

 

Cảm giác mân muội, thầm kín đầu đời này là một quý báu.

 

Linh thiêng lắm!

 

Không thể chia xẻ cùng ai được!

 

Hình như Cậu đang đi vào cõi chết với hơi thở ấm áp, và với thịt da rạo rực của người đang sống.

 

Rõ ràng Cậu vẫn còn sống.

 

Cái lạnh mùa đông không len qua được tấm áo bông. Nhưng buốt giá cù vào cần cổ, sau gáy. Cậu quay đầu lại, lao đao ánh mắt, lạc lẫn trong sinh hoạt của cả nhà.

 

"Anh, các chị và mẹ quanh quẩn ngay đây!"

 

Lý trí với thực tại chợt trở về như một chớp nhoáng, quét nhanh mọi bề bộn trong lòng. Nguy lắm! Cậu tỉnh hồn, phập phồng, bẽn lẽn ngó quanh. Lo quá! Cậu bối rối, ngại ngùng, ăn năn cúi xuống.

 

Hoá ra rung động là cái tội!

 

Cánh bướm vẫy vời là lời mời gọi của xấu xa!

 

Vết thương đầu của tình yêu không phải vì ngang trái của cuộc tình. Vết thương của con tim non dại chính là do bề dầy của cuộc sống, đã nhận chìm mọi sôi động tình cảm. Buồng phổi và dưỡng khí cần thiết cho đời sống hoang dã đã bị người đời ngồi bệp lên, đè dí xuống. Động tác áp chế này không biết vì sao mà có? Bắt đầu từ bao giờ?

 

Phải xô mạnh sức nặng của cuộc sống đen đúa đó đi. Nhiều người muốn thế. Nhưng mấy ai làm được thế?

 

Thế là vụng trộm được bầy ra, thay thế cho đàng hoàng, ngay thẳng.

 

Và một chiều Cậu dám bạo gan đi theo, trên đường hai chị em về nhà.

 

Áo len đỏ dắt tay cậu em nhỏ bên kia vỉa hè; Cậu giữ một khoảng cách vừa đủ, dáo dác đi theo bên này. Bộ ba im lặng, quẹo phải ở phố Hàng Cau, hướng về phố Paul Bert. Cậu ngấp nghé, chỉ sợ bị lộ, lẽo đẽo theo suốt con phố Paul Bert sầm uất, xương sống của thành phố Nam Định, tới tận chợ Rồng. Cậu e người hàng phố hiểu được lòng riêng tư của cậu, và thẹn lắm nếu Áo len đỏ hay.

 

Khi hai chị em vượt qua chợ Rồng, ra ngoại ô, với những vườn rau mờ mờ, trong hơi nước là là, thì Cậu chùn bước...

 

Vắng quá! Cả một vùng mênh mông, im ắng chỉ có ba người.

 

Tối rồi! Khoảng cách giữa Cậu và hai chị em chìm lẫn trong màn sương đùng đục.

 

Hai chị em vẫn đều bước, xa dần vào miền phẳng lặng, nhoà nhoẹt trong không gian nhờn nhợt, nhập nhoè của buổi chiều muộn, cuối đông.

 

Lạnh lẽo từ đâu ào trở lại. Cậu rùng mình, quay đầu, co giò chạy...

 

Sợ hãi chợt khởi dậy. Sợ hãi không từ câu chuyện liễu trai của Bồ Tùng Linh, Cậu được nghe người lớn kể lại. Sợ hãi đến từ những vụ việc xẩy ra hàng ngày, ngay đây. "Tây kìa! Chạy đi chúng mày ơi!"

 

Tây trắng, răng nhờn nhợt nhe.

 

Tây đen, răng trắng nhởn, môi dầy.

 

Tây rạch mặt Sénégal, mặt đen sì như củ ấu.

 

Tây ngăm ngăm Ma-Rốc-Keng, mắt đục lờ của con cá ươn.

 

Bé gái trần truồng bị bắn chết hồi đêm, xác vứt nằm tênh hênh ngay hè phố...

 

Sợ hãi ập vào tim, từ con phố Cậu đang chạy.

 

Các cửa hàng trên phố Paul Bert đã đóng cửa. Con đường dài mới đó, giờ chẳng còn ai. Lo lắng từ sâu thẳm bỗng dâng cao. Toàn thân hẫng hụt, dập dình theo nhịp đập của con tim. Cậu toát mồ hôi, đôi chân luống cuống. Toàn thân vướng víu với bập bùng, dồn dập trong lồng ngực. Dạo này, trời tối không ai dám ra ngoài đường.

 

"Đã có người bị Tây bắn chết vào ban đêm, ở gần trại lính."

 

Nhà Cậu lại gần ngay trại Commando, lính mũ đen, sát bờ sông.

 

Ám ảnh vừa mới đây chợt xuất hiện. Hồi đó đã hai lần, Việt Minh ban đêm xâm nhập vào thành phố. Những bước chân khua động, cùng những lời nói, gọi nhau giữa đêm khuya. Rồi tiếng súng chát chúa, hoặc nguyên cả băng rền vang ở chợ Rồng và giữa lòng phố Paul Bert. Trời gần sáng Việt Minh rút đi, để lại vài xác chết bên đường. Truyền đơn dán trên cửa nhà dân, cho biết, họ sẽ trở về Nam Định, ăn tết Giáp Ngọ 1954 sắp tới.

Người dân trong thành phố đi coi xác, về kháo lại với nhau. Họ bảo:

 

"Việt Minh béo tốt chứ không ốm eo như mọi người vẫn tưởng ."

 

2. LO

 

Trông anh ta cũng hơi lạ đấy!

 

Thì cũng béo tốt, trắng trẻo, hồng hào, có bụng chứ không có eo. Bề ngoài này không lạ; nhiều người từ nước ngoài về, trông vẫn thắm da, đẫy đà như thế. Nhưng quần áo anh mặc, lẫn với người trong nước, lộn cùng đám đông; và cách nói năng lại không giống như Hạnh Đào đã tưởng.

 

Không vồn vã. Chẳng bận tâm. Tự tin. Phải nói là rất tự tin mới đúng. Anh tỏ ra rất thoải mái, rất quen, rất hợp với nếp sống hỗn tạp, lổn nhổn tại Sài Gòn. Anh cứ như người trong nước, chứ không phải là Việt kiều về nước lần đầu, sau hơn hai mươi năm xa xứ.

 

Anh không cả lên tiếng, chào lại Hạnh Đào, khi hai người mới gặp nhau. Anh chỉ mỉm cười, nheo con mắt, thản nhiên nhìn.

 

Chuyện đó cũng có thể là sơ ý, do cố tật của nhiều người Việt đứng tuổi khi tiếp xúc với những người rõ ràng trẻ hơn họ. Vì thế Hạnh Đào đã lên tiếng chào lại, nhấn mạnh hơn, cả bằng lời, lẫn cách gọi luôn tên của anh:

 

"Chào anh Hoàng!"

 

"Ủa? Sao cô biết tên của tôi?"

 

Hoàng đã phải lên tiếng hỏi đấy, nhưng vẫn trịch thượng làm sao ấy. Thế này thì không đúng. Chắc chắn trước khi được mời tới đây, anh cũng được cho biết sơ về Hạnh Đào rồi; ít ra thì cũng biết tên của nhau. Nhưng chẳng hiểu sao, Hạnh Đào lại xí xóa cho anh.

 

Câu chuyện lúc ban đầu chẳng ra ngô ra khoai gì. Lời nói nhát gừng, lủng củng, nhẩy cóc. Nhưng bất chợt Hạnh Đào đổi hướng, ngước lên nhìn Hoàng, dừng mắt mình trong đôi mắt của người kia, cốt ý để cả hai cùng phải nhìn nhau, kỹ hơn. Cái trò đánh đố nhau bằng mắt này, mỗi khi Hạnh Đào dùng tới, cô đều thành công. Nhưng lần này không như những lần trước. Ánh mắt của Hoàng vừa mới phớt qua vầng trán rộng của cô, đã lơ đãng trườn lên trên, chếch qua khỏi đầu, lạc vào khoảng không.

 

Lòng Hạnh Đào rơi tuột xuống hố sâu, chớm phật ý.

 

Cái trán gồ, nhô cao ra, của Hạnh Đào nổi rõ cá tính bướng bỉnh, muốn được chiều theo. Cái trán ấy không thể nào không vương buồn, khi không được chú ý. Tâm trạng này Hạnh Đào vẫn thường có từ những năm phải đi sơ tán...

 

Tình hình mỗi ngày một gay đấy!

 

Máy bay Mỹ đã bắt đầu ném bom!

 

Nó đen xì, vượt bức tường âm thanh, im lặng lướt nhanh, bỏ xa lắc chuỗi tiếng động như sấm nổ theo sau từ cuối chân trời. Nó loang loáng, lao tới như một tên ăn cướp lành nghề. Nó nghiêng cánh bổ nhào xuống. Nó nhanh nhẹn ngóc cổ lên. Nó xé trời xanh. Nó cất cao, thẳng đứng. Nó biến vào thăm thẳm, thành một chấm đen. Nó vòng trở lại từ hướng nào cũng không ai định được. Nó ngang ngang, dọc dọc như chốn không người.

 

Hằm hằm, hung hăng.

 

Ngông nghênh, ngang ngược.

 

Tự tung, tự tác.

 

Nó là tên cướp trắng trợn, giết người giữa ban ngày.

 

Ẩm! Tiếng nổ đập vào lồng ngực, cắm phập xuống đất tạo chấn động nẩy ngược lên tim. Bom. Lửa. Hoả tiễn. Công trình đổ xuống. Đất bằng tung lên. Đời người bên dưới phải đảo lộn lại Thời Kỳ Đồ Đá, như lời người Mỹ vẫn hằm hè hăm doạ xứ sở nhỏ bé này, trên báo chí.

 

Ẩm!.. Ẩm!.. Dân các thành phố lũ lượt đi sơ tán!

 

Trốn chết.

 

Níu sống.

 

Gia đình Hạnh Đào bổ ra làm tư. Bố mẹ cùng với cơ quan, quyết phải giữ Thủ Đô Hà Nội; các anh chị lớn chia ra hai trường ở hai nơi khác nhau; cô út Hạnh Đào, mới bẩy tuổi, được ném cho một đời mới lẫn lộn với các bạn cùng lớp, sơ tán dưới gốc các cây Thị, trồng rất nhiều tại Hà Bắc.

 

Bữa ăn bánh bao nhân rau muống. Tối ngủ sắp lớp, cùng lên giường theo lời cô Bảo mẫu, trước khi đèn tắt. Đốm sáng của cái bấc dầu lạc được thổi phù; nhưng căn phòng ngủ tập thể lại sáng hẳn lên, trong ánh trăng bạc. Trăng lách qua bức tường, được cất lưng chừng, ngăn giường ngủ với bờ ao bên ngoài. Đây là lúc ếch nhái và ễnh ương nhao nhao đòi quyền sống. Đêm dài từ từ trũng xuống, não nề cùng với lòng người tan theo trăng sáng, mất tăm trong điệp khúc ai oán thâu đêm của đám côn trùng, ếch, nhái, ễnh ương.

 

Thứ hai trăng sáng; ba, đêm sáng trăng; bốn, đêm trăng vẫn sáng; năm, đêm lạc lõng; sáu, đêm mong ngóng; bẩy, đêm nhớ, lo, và khóc.

 

Ngày chủ nhật là ngày để khóc. Bắt đầu từ đêm qua, vài người bắt đầu khóc. Rồi cả lớp cùng khóc. Đến cô Bảo mẫu và cô Giáo Chủ nhiệm cũng dân dấn nước mắt, nữa là.

 

Sáng chủ nhật, cả lớp được thả ra, nhào lên bờ đê, thốc lên cây lớn, chót vót níu, bám cành cao nhất. Đàn cào cào phóng mắt ngóng từ bờ đê tới con đường dẫn vào phố huyện.

 

Chờ!

 

Huyên náo chờ từ sáng cho tới khi trời đứng bóng!

 

"Kìa!.."

 

"Kìa!... Xe ô tô!... Xe ô tô tới rồi, kìa!"

 

Trẻ con oà lên khóc. Bố mẹ tấm tức, thương. Tắm rửa. Giặt giũ. Khâu vá. Sắp cho con nắm cơm, gói lẫn với nỗi xót xa, mang theo từ nhà. Dúi vào lòng bé một gói kẹo nhỏ. Chuyển cho đứa trẻ khác túi quà, của bố mẹ nó gửi theo, vì hôm ấy không đi thăm con được. Những trẻ này, chủ nhật không có ai lên thăm, phải theo lời cô Bảo mẫu ra giếng tắm tập thể với nhau. Chúng ngoái cổ lại nhìn những đứa bạn, đang phùng mang, trợn mắt nhai và nuốt.

 

Ông bà Quốc, từ Hà Nội, cố đi thăm Hạnh Đào mỗi tháng ít ra là một lần. Cô con út có khi nào lại chả được hơn các anh chị? Tình thương con như nước trong nguồn, không bao giờ cạn. Nhưng thời gian và đời sống chỉ có hạn, phải chia đầy đủ cho các con. Bom đạn của Mỹ như mưa trời vãi xuống, gắng mà níu kéo che cho nhau, cố cùng nhau đắp điếm cho các con! Giòng nước ấy, từ trong nguồn, bao giờ cũng chẩy xuôi xuống; kể từ khi loài người có bố, có mẹ .

 

"Đêm chủ nhật nào cũng là đêm ráo nước mắt, đêm thao thức đầu tiên của cả một tuần... Đêm chủ nhật ấy, em thức khuya lắm. Tình cờ có tiếng của cô giáo Hà, chủ nhiệm lớp, rấm rứt nho nhỏ bên ngoài bức vách vọng vào... Sau này khi lớn lên em mới biết, đó là lời đối thoại của mối tình lo. Mối tình mong. Mối tình không muốn phải đành đoạn vì bom đạn."

 

Hạnh Đào đã kể lại cho Hoàng nghe những năm đầu nàng phải đi sơ tán theo trường Nội Trú số 1, tại Hà Bắc; khi hai người đã hiểu nhau hơn, sau đôi lần gặp gỡ.

 

"Cô giáo Hà?"

 

"Vâng. Cô Trần Thu Hà, cô giáo chủ nhiệm lớp một của em."

 

"Trần Thu Hà? Người Nam Định?"

 

"Vâng. Cùng quê với em, ở Hải Hậu, Nam Định . Anh biết à?"

 

"Hải Hậu?. Ờ... ờ... Không!"

 

Và lời đối thoại của cô giáo còn trẻ, Chủ nhiệm lớp cũng đã được Hạnh Đào nhắc lại .

 

Tiếng cô giáo Hà dồn dập, đứt quãng theo hơi thở:

 

"Đừng!... Đừng!. Không được đâu anh!..."

 

"Anh yêu em. Anh yêu em mà. Em ơi!"

 

"Đừng! Đừng anh.Em cũng yêu anh. Nhưng chúng mình còn nhiều cái phải lo lắm. Anh yêu!"

 

"Lo gì?."

 

"...Lo!...Lo!"

 

"Còn chờ đến bao giờ?... Mai anh đi "B" rồi. Còn gì nữa mà lo?"

 

"Anh ơi! Cố chờ!. Chờ đến bao giờ hết bom đạn. Chờ đến khi không còn phải lo. Chờ anh trở về trong chiến thắng, rồi anh cưới em."

 

"Biết bao giờ mới chiến thắng? Biết anh có trở về không mà chờ?. Cả nghìn năm nữa!. Cả nghìn năm nữa, em ơi!"

 

"Không! Anh đừng nói thế. Em mãi mãi chờ anh. Tin em đi!"

 

"..."

 

Mối tình của cô giáo Hà với người đi "B" đã bị bóp mũi, tắc thở và chết tươi. Bom Mỹ đốt sạch dưỡng khí. Tình yêu không còn gì để thở, khi Mỹ quyết tâm đem bom đạn dội lên đầu dân Việt.

 

Tám năm sau khi chia tay với người đi "B", cả nhà cô giáo Trần Thu Hà vùi thân dưới đống gạch vụn, tại phố Khâm Thiên, ngay Hà Nội. Người tình đi "B" có lẽ cũng chẳng hay là cô đã chết. Chính anh, từ ngày ấy, có tin gì gửi về đâu?...

 

Hạnh Đào kể với Hoàng về trận bom B52 Mỹ trải thảm xuống Hà Nội liên tiếp trong mười hai ngày trước Giáng Sinh 1972 như sau:

 

"Sáng hôm sau, tất tần tật dân còn ở lại Hà Nội tay cuốc, tay xẻng đổ xô về khu phố Khâm Thiên... Mọi người đào bới, moi người còn sống lẫn với thây người đã chết. Người ta chết ngay, vì bom cháy... Người ta chết chờ, vì không sao cứu ra được đống gạch đè lên thân... Nguyên cả chợ và cả con phố rền vang tiếng rên la, van nài, kêu khóc. Tất cả lẫn trong tan tành, sấp ngửa, chất đống giữa gạch vụn. Thống khổ dâng tràn trời xanh! Người ta quên đi tội ác của loài người! Người ta tưởng như vạ trời rơi xuống!... Nhà báo Lữ Phán có tặng bố em tập thơ, có bài khóc thương những cánh hoa phù dung ở phố Khâm Thiên hôm đó. Em còn nhớ được vài câu như sau:

 

        Sớm tinh mơ linh hồn em trinh trắng

        Đẹp vô ngần rạng nắng trời trong

        Chiều hoàng hôn má em hồng kỳ vọng

        Sau trận bom, phố đã vắng em rồi.

        Phố hoá mồ côi!"

 

Hoàng ngồi lặng im nghe Hạnh Đào nói. Lòng người như tờ giấy thấm, bây giờ đã loang kín dấu mực thẫm...

 

Không lẽ cô giáo Trần Thu Hà, chủ nhiệm lớp Hạnh Đào học, lại là Cô Bé Áo Len Đỏ trong sương mù của mùa đông năm xưa?...

 

Hoàng đánh rơi mất hiện tại, quên luôn Hạnh Đào bên cạnh. Dấu hỏi trong đầu quay tròn cùng năm tháng. Chuyện ngày xưa, chuyện bây giờ, cái gì mà chẳng có thể xẩy ra?...

 

Thì, cô em út của Hoàng vẫn thế; tới bây giờ cô vẫn từ chối mọi lời mời mọc. Người tình đầu của cô phải chết, chỉ vì anh ta là giáo sư dậy tiếng Anh. Những người chiếm được Huế trong dịp Tết Mậu Thân 1968, dứt khoát quyết định đơn giản như vậy. Và nấm mồ tập thể vùi nông cả ngàn nạn nhân tại Cố Đô cũng đã chôn luôn con tim rớm máu, cùng với người tình duy nhất của cô em...

 

Rồi mới hôm qua đây, có đến hai đám cưới kéo nhau lên Sài Gòn chụp hình, quanh bên Nhà Hát Thành Phố. Mấy tay lái xe cho đám cưới kháo với nhau:

"Hai chú rể là anh em bà con với nhau. Họ đều là người Trung Quốc cả."

 

"Cô dâu khóc vì lo. Không biết số tiền để lại, có giúp đủ vốn cho ba má kiếm sống. Cô cũng còn lo vì sẽ phải sống nơi xa lạ, bơ vơ giữa đám người không nói cùng một thứ tiếng. Lo vì lạc lõng. Và lo vì lỡ làng."

 

"Sao biết?"

 

"Tôi đón họ từ dưới Long An lên. Nhà gái không đòi hỏi cỗ bàn hay đưa đón gì. Ba má và cô dâu, chỉ có ba người, lên Sài Gòn là do ý đàng trai muốn có tấm hình. Trên xe cả ba đều dấm dứt, thở dài. Cô dâu nhờ gửi lại một lời lỗi hẹn với ai, dưới miệt vườn."

 

Hoàng không muốn nghe nữa. Anh trở bước, đẩy người bạn đi. Bạn anh ở lại Việt Nam sau ngày nước nhà thống nhất; bây giờ hai người mới gặp lại nhau. Họ quen nhau từ hồi còn đi học. Ngày ấy nữ ca sĩ Khánh Ly đi chân đất, tới sân trường Đại Học Văn Khoa, hát nhạc Trịnh Công Sơn...

 

"Mẹ kiếp! Mày vào bưng kháng chiến chống Mỹ, cực khổ như vậy; để bây giờ lại như thế à?. Trường Sa, Hoàng Sa tít ngoài khơi, còn thác Bản Giốc ngay biên giới đấy! Tây chiếm, ta đánh được; Mỹ tới ta đuổi đi; Tầu đớp thì chỉ có đi đứt! Lịch sử còn ghi lại chuyện lưỡng Quảng, tức Quảng Đông, và Quảng Tây, giáp biên giới đấy!."

 

Sau câu nói, Hoàng nghiêng mặt nhìn bạn. Anh ân hận vì đã thở ra lời ai oán. Lòng người chợt trùng xuống, và tình thương bốc lên cao.

 

Nhiễu điều phủ lấy giá gương. Cùng là người Việt với nhau cả!

 

Huống chi lại là bạn thân của nhau, từ cái thuở cả hai cùng dấm dứt, dùng dằng, rồi chia tay nhau mỗi người theo một ngả.

 

3. LỠ

 

Từ hai ngã đường khác nhau, họ gặp nhau ở đây.

 

Hạnh Đào đi công tác Vũng Tầu, cùng với những người khác, bằng xe của cơ quan. Hoàng theo đường sông, đi tầu Cánh Ngầm tới Vũng Tầu, thuê phòng trong khách sạn Hải Ấu, ngay bên kia đường, chỗ con tầu cặp bến.

 

Hai người hẹn gặp nhau sáng thứ bẩy, ngoài bãi sau.

 

Trên đầu họ là bầu trời trong, cao, tràn ngập nắng vàng. Cả hai đi mãi, dọc theo bờ biển, bỏ bãi tắm đông người lùi tít lại đằng xa. Gió dìu những đám mây trắng, nhẹ như bông đi lang thang theo họ. Hình như mây chỉ cho sóng biển tràn lên, xoá sạch dấu chân trên cát vàng.

 

Dưới trần gian, không một ai lần ra được dấu tích của họ nữa. Giữa vùng hoang vu ấy, chỉ có hai người bên nhau. Lời họ lẫn với lớp sóng trắng tràn lên, thấm xuống cát vàng. Chuyện tình của người này thấm vào lòng người kia tưởng như muối mặn, trong nước biển, lắng sâu dưới cát.

 

Hạnh Đào nghe Hoàng nói; cái năm Hoàng kể, nàng đã sinh ra đời đâu mà biết. Giọng Hoàng vẫn như trong mơ; mơ về cô giáo Trần Thu Hà, mơ lại mầu đỏ, đã cuốn lôi lòng trẻ... Chuyện đầu đời đó, một mình anh, anh biết; bây giờ là hai:

 

"Mùa đông năm 1953, tại thành phố Nam Định, ngoài Bắc Việt. Khói sương mù đục, nhuốm mầu u sầu vào những chiều mùa đông lạnh lẽo, từ từ tan loãng. Sắc hồng ấm áp của những xao động đầu đời trong lòng Cậu học trò mười tuổi, dần dần tràn ngập không gian."

 

Rồi Hạnh Đào cũng kể chuyện của mình. Lời trầm của lòng ngẩn ngơ, tiếc một thời đã mất:

 

"Em yêu hoa, thích cây cối, ham leo trèo. Từ cành cây cao nhất trên bờ đê, em ngóng mắt trông về phố huyện, chờ mong bóng dáng chiếc xe ô tô của bố mẹ vẫn lại thăm em, nơi trường đang sơ tán. Có lẽ đời em đã bị bom đạn cắt mất giòng mật ngọt của tình yêu đôi lứa. Tuổi lớn lên, em đợi người tình đến. Em mộng mơ mong đợi. nhưng tất tật những người trai trẻ còn đang vướng mắc trong lưới đạn. Không như anh. Em chưa biết yêu là gì."

 

Khi đất nước hoà bình, phải chờ cả chục năm sau đời sống mới tạm ổn định. Năm tháng đó, Hạnh Đào đã bước vào lứa tuổi thản nhiên. Đám trai trẻ thoát lửa đạn trở về cũng trầy trụa quá đỗi.

 

Phải tham dự vào cuộc chiến quá sức tưởng tượng, đám trẻ tơ bị bom đạn và hoá chất đẩy lùi dần tới đường ranh bấp bênh giữa sống và chết. Họ cũng chẳng thiết sống, hay sợ chết nữa; khi hiện tại, họ đang vật vờ giữa địa ngục của trần gian. Vì thế đám trẻ tơ hồi trước, bây giờ đã quá tuổi mơ hoa với bướm, ngơ ngoáo thoát về, dật dờ bị cuốn hút vào mọi nhu cầu của đời sống khô cằn. Nhu cầu phải có vợ hay có chồng là cần nhất. Càng sớm càng tốt! Bởi vì tuổi đã muộn từ lâu rồi...

 

"Ơ hơ. Anh làm gì ở đây?"

 

"Ở đâu thì ở đâu. Anh cũng phải làm cái gì để mà sống chứ?"

 

"Vậy là anh làm ở đây à?"

 

Đó là vài câu đối thoại mở đầu, của hơn hai mươi năm về trước, khi Hạnh Đào gặp lại Đức, cậu bé cùng khu phố. Và câu chót của buổi tình cờ đó là lời mời của Đức:

 

"Chiều mai, anh gặp lại em?"

 

"Ờ... ờ... để xem có bận gì không?"

 

"... nếu trời không mưa?"

 

"Nếu trời không mưa. Ừ! Nhưng ở đâu?"

 

Chiều hôm sau trời không chiều lòng người. Nhưng mưa với nắng là chuyện của những người yêu nhau, thường hay mơ với mộng. Đằng này thì khác. Vì thế có tiếng sáo huýt ở ngoài đường, bên cửa sổ. Và vì thế mới có lời trách nhẹ, để dò xem ý tứ của nhau:

 

"Anh chờ em mãi!"

 

"Thì anh đã hẹn, nếu trời không mưa, cơ mà."

 

"Nếu trời không mưa!. Chỉ là bước lùi, để em dễ nhận lời."

 

Hạnh Đào yên lặng. Khoảng trống thời gian này đủ để Đức yên tâm, tiến theo điều đã định trong đầu; khô khan đến độ chỉ những người sống sót sau cuộc chiến, và cùng cảnh ngộ mới hiểu nổi:

 

"Anh muốn cưới em làm vợ!. Em về suy nghĩ. Một hai hôm nữa trả lời anh cũng được."

 

Hạnh Đào phá lên cười:

 

"Nếu trời không mưa, là một bước lùi. Em về suy nghĩ, là bước lùi thứ hai. Một hai hôm nữa, là bước lùi thứ ba. Anh cứ làm như anh đang đánh trận không bằng!. Bây giờ hết chiến tranh rồi anh ơi!"

 

Hạnh Đào ngừng lại một chút để dứt cười, và để Đức lấy lại bình tĩnh sau chuỗi cười vừa qua của mình; rồi nói tiếp, cũng dứt khoát như trên sân khấu của vở kịch, viết về một mùa xuân đã lỡ:

 

"Khỏi phải nghĩ ngợi lôi thôi gì hết. Em trả lời anh luôn. Em đồng ý lấy anh đấy!"

 

Ngừng kể chuyện xưa, Hạnh Đào dừng lại, đưa chân khoắng một lớp sóng lớn, dâng nước biển ngập nửa bắp chân nàng. Hoàng yên lặng chờ, vì đoán chừng thế nào Hạnh Đào cũng lên tiếng tiếp:

 

"Tuổi lớn lên, em đợi người tình đến. thì trai trẻ còn đang vướng mắc trong lưới đạn. Thời gian chẳng bao giờ cho ai chờ đợi lâu. Lứa tuổi chúng em đành lỡ những chuyện tình. Lỡ chuyện tình thì gọi là Tuổi Tình Lỡ vậy!... Như thế, dù sao cũng còn một cái gì để ấp ôm."

 

Hoàng vẫn kiên nhẫn chờ; có lẽ Hạnh Đào sẽ còn gì để nói cho hết:

 

"Không như anh, em chưa biết yêu là gì cả... Dù bây giờ, đã có chồng, có con..."

 

Lời Hạnh Đào về cuối ngắt quãng, lẫn với sóng vỗ, nên Hoàng nghe không được chắc.

 

Bát ngát từ ngoài khơi lẫn trong gió cuốn, đưa lời thầm thì của biển cả mơn trớn vành tai Hoàng. Rõ ràng Hoàng có nghe, văng vẳng từ khoảng không, lời Hạnh Đào nói: "Không như anh, em chưa biết yêu là gì cả... cho đến ngày nay. chưa biết yêu là gì cả... cho đến hôm nay. Anh ơi!"

"Đào!. Đào ơi!"

 

Hoàng bàng hoàng đứng lại, từ lồng ngực thoát ra lời gọi.

 

Sóng nước kéo theo cát, dưới chỗ đứng, rút ra biển rộng. Đôi bàn chân Hoàng lún sâu dưới cát ấm, ngâm mềm với vị mặn của tình ngàn khơi.

 

Hạnh Đào nghe tiếng gọi, cũng dừng bước, xoay hẳn người, nhìn lại. Trong ánh mắt có lớp sóng chao lên. Một cơn gió thoảng rung rinh bờ môi, mở ra nụ cười hiền, làm nền cho lời nói trong, tách khỏi tiếng rầm rì của biển cả:

 

"Anh!... Anh sai rồi!"

 

"Không. Anh sai làm sao được. Anh hiểu chứ!. Anh hiểu lòng lỡ làng của người vẫn còn chờ mong."

 

"Anh nói gì?. Anh sai rồi! Tên em không phải là Đào. Phải có chữ Hạnh nữa. Hạnh nhân là hạt của cây Hạnh Đào, Bố em bảo vậy. Em có tên kép. Bố em rất ghét ai gọi sai, tên cô con gái út của bố. Phải có chữ Hạnh nữa mới đúng. Anh nhớ đấy!"

 

Hoàng đứng giữa khoảng gió thoáng của biển khơi, dưới bầu trời trong, cao, tràn ngập nắng vàng. Đôi bàn chân của anh mỗi lúc một lún sâu hơn, dưới cát; và bây giờ đã quá mắt cá chân. Biển vẫn tràn lên, đưa vị mặn thấm vào cát mịn, xen vào kẽ các ngón chân.

 

Sóng thì lúc nào mà chẳng có? Và tiếng rì rào vẫn là lời của biển nói với mọi người, muôn đời, một lời nói đều đều như nhau. Nhưng quả thực Hoàng có nghe được một lớp sóng khác, từ vành môi của ai đó mở ra, riêng với anh. Và Hoàng thực lòng nghĩ, hàm răng khẽ hờ ra đó không chỉ là lời gọi thầm, trong giấc mơ...

 

Bởi vì, Hoàng đứng đó, tỉnh như sáo sậu. Bên cạnh anh, Hạnh Đào đang khoắng chân đùa với từng lớp sóng. Trẻ như là một đứa trẻ!

 

Hình như mây trắng trên trời đã chỉ cho sóng biển tràn lên, xoá sạch dấu chân trên cát vàng, khi hai người tới nơi vắng vẻ này.

 

... Và dưới trần gian, không một ai lần ra được dấu tích của họ nữa...

 

Trần Trị Chi

 

■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■

Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách

Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập