từ viết đến phê bình

nguyễn vy khanh


 

1.

Vào thập niên 1960, khi hãy còn tuổi học sinh trung học, những trang viết của Tam Ích, Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, ... đã đem chúng tôi đến với văn chương, với thiền, siêu hình thuần lý lẫn phi lý, tổng hợp, Apollinaire, Nietzche, Camus, Sartre,... Một loại gió tự do cá nhân từ Ấu châu hiện sinh. Cá thể là chính, là khởi điểm đồng thời là trạm tới của mọi giá trị. Ý nghĩa cuộc đời chỉ có thể có từ kinh nghiệm cá nhân mỗi người, và tự do lựa chọn, như một số nhân vật của Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mu và Nguyễn Đình Toàn. Nay không còn khuôn mẫu văn hóa chung, phổ quát, trừu tượng, nay chỉ có chủ thể mà không còn khách thể!

 

Ngôn ngữ trở thành âu lo chính, trở thành sống chết, quan trọng, chứ không phải không có cũng chẳng sao. Văn chương với ngôn ngữ như hình với bóng; có văn chương, ngôn ngữ mới sống và trưởng thành. Ngôn ngữ trong một hoàn cảnh nào đó, có thể đem đến tự tin, nói như J.P. Sartre, văn chương một thời đại vong thân khi tự nó không dứt khoát làm chủ mà còn lệ thuộc những quyền lực đời hoặc một ý thức hệ, khi văn chương tự xem như phương tiện, công cụ thay vì phải là mục đích vô điều kiện. Thành ra văn chương khoác chiếc áo siêu hình, như từ chối hiện thực, đời thường. Đi xa đến những tưởng là vô nghĩa, phi lý, trong thực tế là những tư duy thâm sâu, và chính ngôn ngữ và sáng tạo trong ngôn ngữ đã đem lại tính cách văn chương cho văn, thơ,...

Văn nghệ trở thành phương tiện hành động, phản kháng, trong một cuộc đời phi lý, như chiến tranh, như những cái chết bạn hữu. Cái học ở trường là thứ văn học cao quý, cổ điển, vượt không gian thời gian,... nhưng đối với thế hệ chúng tôi đã ... trật đường rầy. Tự Lực văn-đoàn là văn chương về một thế giới đã mất, nhất là không thể tìm thấy ở miền Nam sau 1954. Người tuổi trẻ nhận ra văn chương không phải là chốn trốn tránh sự thực, thực tại, mà là phải đáp ứng nhu cầu hôm nay và là để thuyết phục. Tiếng bom, những viên đạn lạc, những người bạn nằm xuống vì lựa chọn chiến tuyến hoặc nạn nhân vô tình. Còn nhớ ngày đầu đi học lại sau trận tấn công Tết Mậu Thân 1968, lớp đệ nhị chúng tôi chỉ còn độ 15-20 khuôn mặt ngơ ngác vì hơn 30 người bạn đồng lớp không có mặt ngày đó, sau mới biết một số bị tử thương vì nhà ở giữa hai lằn đạn, vài tên bỏ học ra đời hoặc đi lính. Nhóm chúng tôi trong có LVS (tức Thượng Văn của Nhân Văn ở San Jose) chủ động tưởng niệm thằng bạn thân đã chung nhau in tập thơ, người viết lúc đó vẽ bìa không tệ đã được hân hạnh họa chân dung tên bạn vừa nằm xuống. Rồi những đứa học trò nay trở về đô thị như những người lính mệt mỏi, lạc đường. Những tờ báo in ronéo, những mặt giấy vàng võ như khuôn mặt cuộc chiến, cái máy in ì ạch vẫn chạy tối đa, người thì lấm mồ hôi và mực in, v.v.. Những ĐVK (hãy còn làm thơ, gần đây trên Văn Phong ở D.C), NVN,... lên đường với những vần thơ bị bắn xẻ. Những vội vàng ghé đô thành với bạn văn nghệ. Những tập truyện nóng hổi đạn bom, máu và mồ hôi hành quân, như Những Sợi Máu Giăng Ngang của Nguyễn Minh Nữu từ Ban-Mê-Thuột (của Văn Phong hôm nay!). Chiến tranh còn đó thành không thể không phản kháng, hành động. Những LĐĐ, NVT, ... chúng tôi, đã đi đến dấn thân - hoặc tưởng là như vậy, để gạt bỏ những sợ hãi bất tường của đời thường - cái hãi sợ mà Heidegger từng nói đến, đưa cá nhân đến đối đầu với hư vô và sự phi lý trước cái phải lựa chọn! Cuộc kiếm tìm cái nhân cách, một cái tính cách hiện đại hóa, thời thượng, .. Khởi từ ý tưởng định mệnh khó hiểu, cái số mệnh nghịch thường với con người, với tự do chân chính. Con người luôn bị định mệnh đe dọa, vậy thì viết là để xác định tự do vì hãi sợ không có thật!

Phản kháng, dấn thân, đứa làm lãnh tụ sinh viên tranh đấu, đứa vô bưng, đứa làm văn chương xám. Lại những buổi trưa nhễ nhại mồ hôi trong những căn phòng tiền chế xây vội trong khuôn viên phân khoa vốn là trại lính. Những bạn học mới, có tên ở Côn-đảo mới về. Nhưng văn chương dấn thân có phải là văn chương không hay chỉ là quái thai biến thể của diễn văn chính trị Nếu hiểu văn chương là một cuộc tra vấn không ngừng, trong thực tế vẫn không hẳn đã là lối thoát. Dù sao, việc viết ở giai đoạn này là như sống, là để chiêm nghiệm cái sống, cuộc đời, để chứng minh đang sống đây, sống tích cực, sống với tư duy, tức không như cây cỏ. Một đồng cảm hay lãnh cảm với xã hội, chiến tranh. Thì cũng là một thái đô, lựa chọn! Đến với văn chương như là một cách bày tỏ quan điểm của mình trước thực trạng xã hội - như Cao Hành Kiện sau này đề cập đến trong tiểu thuyết Linh Sơn!

Văn học thế kỷ XX có cái thị kiến to lớn, loại viễn kiến, có tham vọng sâu xa, đụng đến cái sâu thẳm: nền văn học này vì thế có hai đặc điểm trội bật là chính trị và siêu hình, triết lý. Sống trọn nửa thế kỷ qua, cá nhân người viết đã sống và chung đụng cả hai tính cách đó, một cách liên tục và luân vũ, với tư cách người đọc và người viết. Người viết khi trẻ đã từng thử nghiệm một số thể loại nhưng rất vô thức, không cố tình. Một tập tiểu thuyết thời 18, 19, viết xong đưa cho một nhà văn nổi tiếng là cởi mở về tiểu thuyết "hiện đại" đã bị trả về, rằng không thể xuất bản vì không có đối thoại, ít tình tiết. Đúng vậy, toàn tập là chuỗi độc thoại của một thanh niên lớn lên giữa bốn bức tường của một thị trấn thời chiến và nội loạn - "tác giả" nó rõ nghèo kinh nghiệm sống; độc thoại và ảnh hưởng hình như của Con Đường của Nguyễn Đình Toàn. Có thể phản ánh cái nhịp sống trì chậm cũng như tình yêu bắt đầu nếm, chính ở sự chờ đợi một người-khác không bao giờ đến hoặc không biết lúc nào và cái-gì sẽ đến! Lúc đó dĩ nhiên chúng tôi chưa biết đến cái bút pháp lạnh lùng khách quan ít suy tư của A. Robbe-Grillet nhất là trong Dans le labyrinthe !

Từ những ngày tuổi trẻ tôi cũng đã bắt đầu và ở lâu với thể loại nghị luận; với thời gian trở thành một thể loại mà người viết có thể một mặt tổng hợp mọi kinh qua, mặt khác bộc lộ tâm tình, tư tưởng. Một loại ngôn chí, thì cũng đâu khác chi nhữnng bài sở từ, đường thi hay tiểu truyện. Tình cảnh của một tập thể dù muốn hay không cũng tự chính trị hóa, trong mọi sinh hoạt, kể cả văn chương đã ảnh hưởng chăng Có thể nói công việc nghị luận, nghiên cứu hay quan sát sinh hoạt văn học cũng là một cách làm văn học, vì tập thể, vì tương lai, mà nội dung cũng có thể tải những tâm tình, nguyện vọng của một thế hệ, của những người chứng. Đưa đến tính cách thời gian của văn học, nhất là văn học ở ngoài nước, vì những công việc văn chương này luôn hàm ý phê phán quá khứ và hiện tại, luôn như tìm cách rọi ánh sáng vào bóng tối ám của bạo lực, của một tập thể chuyên quyền, như tìm cách nói lên tiếng nói bị vùi dập, bị đẩy vào câm lặng tuyệt đối!

2.
Những thập niên cuối thế kỷ XX đã chứng kiến nhiều tang thương của văn chương. Nhiều thể loại đã biến dạng hoặc mới như thi ca, tiểu thuyết, kịch, truyện phim, phim bộ TV, ... hoặc vì quan niệm, lý thuyết về viết thay đổi, hoặc một cái nhìn về thế giới và con người đã đổi. Thời thượng nay là toàn cầu hóa, về thương mãi mà cả văn nghệ truyền thông! Trước khi đi tới những đảo lộn đó, thi ca, tiểu thuyết ... là những thể loại riêng biệt và có những giá trị chuyên biệt!

Nay là thời văn chương thử nghiệm và là thời của văn bản. Thơ đến gần văn, ở khía cạnh có cá tính khí cụ, trò chơi của ngôn từ, khởi hành cuộc phiêu lưu ngôn ng khởi từ tham vọng làm chủ con ch, dù vẫn biết ngôn từ là cạm bẩy và hình ảnh trong thi ca là ảo ảnh, không tưởng, chủ đề chỉ là phỉnh gạt. Vì trong lời tự nó đã có chủ đề, có hình ảnh, cũng như tự nó là phủ định nội tai. Biên giới gia các thể loại đã thay đổi hay nói khác đi cái biên giới đó đã bớt hiển nhiên, nhiều thể loại hôm nay thiên về vận, nhạc tính,... trong khi đó, thi ca lại biến dạng hoặc tỏ ra bất lực. Một mặt thi ca đa dạng, biến thái, một mặt tính cách "diễn văn" từ thời Trung cổ, nay bị tính cách email, liên mạng làm biến dạng, khiến tranh luận, diễn văn mất tầm quan trọng! Những thử nghiệm về thơ như liên văn bản, Tân hình thức (Khế Iêm, Hà Nguyên Du,...) , thơ truyền cấu (Khải Minh), thơ họa, thơ âm thanh, thơ khối, thơ tiêu điểm -như nhiếp ảnh, thơ con toán, con hình, một thế giới hỗn mang, tưởng tận thế không chừng. Điệu mới (lại lyric!), hình thức mới! Nhng thế hình thức, tuyên ngôn lạnh phải chăng nhắm phá phách và cả hư vô hóa người đối thoại và người đọc, hạ "văn bản" thành một tia phản chiếu của thực tại! Họ thử nghiệm, con người mới nội lực, quá trình vận động, vì có người trong họ nghĩ phải bỏ nhng lối đã mòn, phải biết chối bỏ, dị ứng, cải cách, vượt hàng rào những phạm trù cũ quen,... đi tới một loại văn chương điện toán, văn bản đa tác giả, điện toán, OULIPO (1), tân tiểu thuyết mới, phi chủ đề, phi cả văn chương. Hypertext, một thể loại phần mảnh mà Les Pensées của Pascal vẫn thường được nhắc đến như một báo hiệu trước cho một thể loại trở nên triết lý nàỵ Ngôn từ có hồn thành ngôn ng điện toán, với code, với công thức máy móc, như html. Có thể sống động nhưng vô hồn như người đẹp vô duyên. Những thử nghiệm hình thức này nói lên khía cạnh thiếu sót của con người, trong khi đó song hành những khuynh hướng tâm linh, nhắm vô hạn.

 

Phải chăng đời sống kỹ thuật, văn minh dẫn đến những đổ vở, về văn hóa và những giá trị nhân bản Từ khi con người tìm ra công thức bom nguyên tử, từ những chế độ phát xít, ... nhân danh con người để tàn diệt đồng loạị Hậu hiện đại ra đời ở thập niên 1960 như thế. Nhưng rồi chiến tranh lạnh có lúc cũng hết lý do và những chế độ cộng sản nhân danh nhng mục tiêu mỹ từ như chống phong kiến, thực dân, tư bản, ... hóa trang che giấu tham vọng, nay càng lộ rõ chỉ là cái vỏ che giấu một loại chế độ bè đảng, mafia. Tiến bộ, kỹ thuật đã dần giết nhân tính và môi trường sống. Mặt khác, từ nay con người có thể cũng không cần đến tôn giáo, siêu hình, ý thức hệ, tin tưởng nơi tiến bộ, ... mà không phải rơi vào thất vọng và nhàm chán. Cả có thể hạnh phúc một mình, không gia đình, xã hội, hạnh phúc en solo, trước ở việc đọc sách, nay lan ra xã hội thành nếp sống! Cứ như thời Trúc Lâm thất hiền đời Tấn mà thật ra không phải thế!

 

Sau những kinh nghiệm bạo động và chua cay của lịch sử ở những thập niên cuối thế kỷ XX, con người đặt nghi vấn văn chương có còn chức năng gì trong cuộc đời, cho con người hôm nay. Ở một thời đại rất máy móc, rất vật chất, con người vắng mặt, mà lại đặt vấn đề văn chương, một phạm trù rất không-vật-thể, với trường phái hậu hiện đại, văn chương rất vật thể! Khi tột cùng là cái phi lý, lãnh cảm, con người mới cảm thấy cần tôn giáo, siêu hình! Như vậy sau thức tỉnh hiện sinh, khắc khoải siêu hình sống chung với những thử nghiệm vô-thể khách quan với thiên nhiên rồi đến thử nghiệm tiếp xúc thiên nhiên hòa hợp môi trường sống. Cuối thế kỷ XX, tâm linh mạnh hơn, phải chăng văn chương không phải thuần vật lý! Triết lý, tâm linh, để thay đổi đời thực và thế giớị Cuộc chiến tâm linh, siêu hình cũng ác ôn không thua gì cuộc chiến với bom đạn, đưa đến ảo tưởng trí thức về văn hóa là trung lập, là ngoại cuộc, vì con người trí thức không thể đứng ngoài, hắn còn phải tỉnh thức cơ mà, còn phải tránh nhng cạm bẫy của thỏa hiệp, đầu hàng. Nhưng cũng vì thế mà trí thức trở thành một hiện tượng văn hóa, hay quá độ thành "khủng bố trí thức" của những Lukács, Sartre, Aragon, Mao,... những kẻ quen "nhân danh". Tư tưởng duy nhất, một chiều, khủng bố, ... từng sống mạnh ở thế kỷ qua, người ta lôi kéo quá khứ và lịch sử lại, cắt mảnh nào coi được, đánh lừa được, rồi chắp nối, hiện đại hóa, rồi công bố cho bá tánh hình ảnh một anh hùng, trí thức hay tư tưởng lớn, theo hình ảnh Jésus, Phật, .. .

Yếu tính của văn chương nằm ở khả năng tưởng tượng, ở phẩm chất "tiểu thuyết" mà phẩm chất này có được do ở quyền lực của tưởng tượng. Nhà văn có cái quyền lực sáng tạo một thế giới theo cái nhìn của hắn, có thể bắt nguồn từ thực tại, đời thật, nhưng thế giới sáng tạo đó nhiều khi thật hơn cả đời thật ngoài kia, thế giới mà tư duy con người có thể bay bổng, lội bơi,.. Có thể dị thường, siêu thực, viễn kiến, không giống ai hôm nay! Văn chương được gọi là một nghệ thuật tái dựng cuộc đời, dựng thế giới mới,.. Có bi có hài. Thứ nữa, văn chương phải có tính truyền thông, đạt đến, của thời đại chúng ta, thời hypertext, liên mạng, ...!

Văn chương một mặt đòi hỏi sự trung thành của người đọc và đa dạng, nhiều cách giải mã, cách đọc. Nhưng tôi chỉ là một cá thể, dù độc đáo, chỉ còn biết hy vọng trong tầm nhìn, lột trần những bản văn, bài thơ, thấu suốt sứ điệp, tâm sự tác giả. Viết nghị luận trở thành một loại khoái lạc cộng đau khổ, chủ thể phê bình hóa ra có cái đói của một tâm hồn lạc lỏng háo của-ăn tinh thần. Củng có thể tâm hồn y là của một kẻ viễn hành l thứ, chuyên mua vé một chiều! Văn chương bắt phải luôn khai phá, tra vấn, nhìn xa, để vững bước, suy nghĩ về lý do có mặt và về nhng lý do khiến chúng ta không ngừng tạo hình về một thế giới ngày mai phản ánh những đa dạng chúng ta cần có về chúng tạ Viết là để nói rằng, làm chứng rằng, một kiếp người, một hiện hu đã có, một cuộc sống đã từng có.. Viết là bằng chứng hùng hồn có mặt, trong cái tối đa phức tạp của phiêu lưu con người, một tương tác với hiện thực, đòng cảm với biến động, hỗn mang.

Ngoại trừ thi ca, các bộ môn văn nghệ thường được xem có sứ mạng, khiến con người tốt lành hơn, biến đổi thế giới, tàn diệt cái ác để đưa thế giới đến một tương lai tốt đẹp hơn, "thẩm mỹ" hơn, văn hóa hơn! Lịch sử đã chứng minh văn chương có sức mạnh sống còn, mà nhng tuyên ngôn đảng cộng sản ... không thể có. Thành ra phải tiếp tục như vậy!

3.

Sau chuyện viết và sáng tác, nay nói về phê bình. Gần đây có tiếng nói lo âu cho tương lai của văn hóa Việt Nam, rồi cho văn học hải ngoại, nhưng ai cũng nhìn nhận tình trạng bế tắc của lãnh vực phê bình văn học, bế tắc hơn nữa khi có nhà văn nhà thơ phải vén tay áo đóng vai "phê bình". Có chăng một biên giới gia bộ môn phê bình và sáng tác Nhà phê bình và giới sáng tác nhất là thơ có khi như hai ghetto trí thức bất khả cảm thông, đưa đến nhng nghi ngờ và khẳng định đáng tiếc!

Phê bình văn học Việt Nam cả thế kỷ nay là bộ môn tương đối nghèo nàn nhất. Nhiều văn thi sĩ nhìn người làm công việc phê bình như một kẻ thất bại về sáng tác: Vũ Ngọc Phan vốn là dịch giả, Hoài Thanh làm thơ nhưng mấy ai đã có dịp thưởng thức thơ của ông, v.v. Hoặc giả khi nhà văn trở qua "ngành" phê bình liền bị phê phán là viết tùy bút, như nhà văn Võ Phiến,...

Cách chung, phê bình giúp hiểu tác giả, thời đại, phong trào, khuynh hướng, báo hiệu những thay đổi; mặt khác, đi vào tâm điểm của tác phẩm, tìm ra tâm sự, lý tưởng gửi gấm của tác giả, khám phá ra nhng hình thức của bản văn, những quy luật điều khiển văn, ý, hiện tượng. Nhà văn, nhà thơ nắm cái thực họ nhắm, còn nhà phê bình đi chung quanh hoặc thử đi vào với lý thuyết này nọ. Có khi nhà phê bình phải xây dựng lại câu chuyện, tiểu thuyết, cá nhân hóa nhng khám phá, nắn lại "sự thực", tìm ra cái ẩn số ý tại ngôn ngoại, khởi từ những nguyên lý, "điểm mốc". Nhà phê bình cũng như độc giả, đến với tác phẩm là giúp nhà sáng tạo văn thơ khám phá ra tư duy hay ý nghĩa của ngôn từ y dùng nhưng không từ tiên thiên lý thuyết như Mác-xít khiến văn nghệ trở thành minh họa, khiên cưỡng. Tính lý tưởng và hiện thực chủ trì bởi chế độ khiến văn nghệ mất tính đẹp! Dĩ nhiên không được thiên kiến, không thể thiếu thẩm mỹ quan, ghen ghét, tức không được hạn chế mình trong những khuôn khổ hình thức, giới hạn. Phê bình phải chăng góp phần tạo nên kiến thức văn học

 

Do hoàn cảnh và trăm lý do, tác phẩm văn chương có thể chứa đựng nhiều ý nghĩa, ngay cả khi có vẻ vô nghĩa hoặc quá vị nghê thuật. Vai trò nhà phê bình đi tìm cho ra, vạch ra những ý nghĩa đó, cái đã có cũng như cái có thể thiếu hay chưa nói hết. Và tùy ở không gian và thời đạị Văy phê bình tức là có nhiều cách khác nhau để đọc, để nghiên cứu một tác phẩm, một tác giả. J-P Sartre đọc Beaudelaire khác André Gide. Đỗ Long Vân đọc Hồ Xuân Hương khác sách giáo khoa. Nguyễn Vy-Khanh đọc khác Đoàn Nhã Văn đọc Gió Lửa và Tâm Thanh đọc Sông Côn Mùa Lũ, v.v. Đọc J-P Sartre hay Marcel Proust viết về Flaubert hay Michel Butor về H. Balzac, Phạm Công Thiện về G. Apolinaire, Lê Tuyên về Chinh Phụ ngâm, Tam Ích về Hoàng Công Khanh, .. . hình như hấp dẫn hơn đọc chính các tác giả và tác phẩm đó, một cách đọc lại lần thứ hai hay thứ X ! Tác phẩm trở thành sở hu của người đọc và các thế hệ đến saụ Đoạn- Trường Tân-Thanh hai thế kỷ qua đã có biết bao cách hiểu khác nhau, cảm thông hay ngộ nhận, Nguyễn Du nào còn đó để mà biện hộ, mà ông cũng chẳng cần lắm, có chăng chút âu lo "bất tri tam bách dư niên hậu / thiên hạ hà nhân khấp Tố-Như" ! Hay ngờ vực như J.L. Borges "nhà ngươi đọc ta, có chắc đã hiểu tiếng của ta" (La bibliothèque de Babel). Văn chương phải chăng là cái đọc được trong cái bất khả tư nghị, cái khả dĩ vượt lên trên cái đọc được Qua một cảnh tượng, một biến cố, một tâm trạng, một số nhân vật!

 

Nửa đầu thế kỷ XX, là thời của phê bình giáo khoa và cổ điển. Lối phê bình này dựa trên nguồn gốc lịch sử và ảnh hưởng, cũng như dùng tiểu sử tác giả. Nhiều nhà phê bình và văn học sử Việt Nam đã đi con đường này : Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh, ... Đồng thời lối này dựa trên chủ quan người phê bình thường dựa theo thị hiếu hợp thời ở một giai đoạn. Các nhà phê bình nửa thế kỷ sau, như Serge Doubrovsky, chỉ trích lối phê bình cũ này : nhà phê bình ấn tượng dài dòng lắm lời nhưng chỉ đi chung quanh và đứng ngoài tác phẩm, ông ta lại lý luận biện hộ rằng không thể đi vào tác phẩm, chỉ sờ nắn, nâng niu. Nhà phê bình ấn tượng là một học giả làm việc gia các thẻ phiếu, ông đi tìm nguồn gốc và ảnh hưởng. Cảm xúc nếu có sẽ đến sau. Trực quan và uyên bác vốn là hai nguồn sa của phê bình cổ điển. Nhưng phải có bà vú tốt lành, không thiếu sa bất chợt. Vì có ngày nhà phê bình chợt nhận thấy tác phẩm có mặt! Hóa ra ngây thơ và ba phải! Vì đã lấy cái hiển nhiên làm tư tưởng Platon và xem những vô vị nhạt nhẽo làm những chân lý ý thức được!

 

Nửa sau thế kỷ XX các trường phái phê bình văn chương có ba nhóm tiêu biểu: phê bình xã hội của Lucien Goldman, phê bình phân tâm của Serge Doubrovsky và Charles Mauron, và phê bình dự phóng của Roland Barthes. Cả ba đều xuất phát và có liên hệ với khoa học nhân văn. Thứ na, cả ba chống lối phê bình gọi là cổ điển, giáo khoa. Serge Doubrovsky đề nghị tân phê bình, khởi đầu trong cuốn Pourquoi la nouvelle critique Critique et objectivité xuất bản lần đầu năm 1966. Tân phê bình nhắm cái toàn diện, chi tiết chỉ có giá trị nếu tạo nên toàn thể, và chỉ có ý nghĩa khi ở trong cấu trúc lớn đó. Ngoài ra cũng theo Doubrovsky, triết học đã nhập vào văn học, và phê bình văn học là tham dự vào lý thuyết. Khác khoa học, triết học không là một chân lý khách quan, chỉ là một sự tìm kiếm không ngưng nghĩ, nhưng có thể sai, bất cập hay chủ quan - thì chỉ việc xóa làm lạị Chính mối tương quan gia bản chất của tác phẩm, hiện tượng, với chủ quan nhà phê bình làm nên triết học.

 

Thuyết phê bình cấu trúc xem tác phẩm là một tổng thể toàn diện. Phê bình trước hết là tìm trong tác phẩm đối tượng, những cấu trúc hiển nhiên, tức một cách cấu kết, xây dựng, hay lý lẽ nội tại, như rằng mọi chi nhành chỉ hiểu được trong một toàn thể chúng tạo nên, mọi tình tiết chỉ có ý nghĩa nếu thuộc về toàn bộ. Một hiện tượng luận văn chương, một đọc hệ thống, vì đọc luôn là liên hệ (một chơi ch tiếng Pháp lire=lier)! Vấn đề nền tảng trong công tác phê bình là ý nghĩa của tác phẩm. Văy ý nghĩa này từ đâu đến Không từ tác giả của nó, cũng không từ người dìễn trên sân khấu hay người đọc. Tác phẩm thực vậy là phương tiện cho ý nghĩa, và phương tiện khi đã hoàn thành sứ mạng phải nhường chổ lại cho ý tưởng như là mục đích tối hậu, là ý nghĩa của sự hiện diện tác phẩm, của bút pháp, ngôn từ.

 

Theo R. Barthes, mọi phê bình tác phẩm dù cố khách quan tới mấy dều cũng bao hàm một thử nghiệm dự phóng! Nếu mọi phê bình cần phải xử dụng những hệ thống tham chiếu thì chính sự tham khảo này bắt phải có lựa chọn mà Barthes gọi là sự đánh cuộc chí tử. Đánh cuộc vì dù là một quan điểm ý thức hệ cũng bao hàm một dự án cá nhân; và chí tử vì kết luận đầu sẽ đè nặng lên phần điều nghiên còn lại. Lý thuyết hậu-cấu-trúc gỡ phá văn chương là cách phát hiện bút pháp, loại diễn văn (ý tưởng) trong khi tìm hiểu một tác phẩm . Như chiến-tranh là vì tự vệ, là chống những quyền lực tiêu cực. Barthes có những điểm khá gần với thuyết gỡ phá văn chương. Theo Barthes, đọc là đọc lại, và những chi tiết cũng như nội dung của sách như đã xem qua, thấy qua, văn bản như đang được viết lại, một loại sáng tác bao trùm sáng tác (2)! Một cách viết lại, một loại diễn văn quay quanh phân tích văn bản người khác! Đưa đến hậu quả đọc như một trò chơi, với nhng nước cờ ! Tức phải công nhận đọc là đọc lại, đọc nhiều lần, nhiều cách, bởi nhiều người. Chính đọc lại này đưa ra khỏi thứ tự thời gian nội tại có trước có sau và tìm thấy cái thời gian huyền hoặc không trước không sau (3). Trong cái thời gian này sẽ không có đầu cũng chẳng có đoạn kết, văn bản dàn dựng hiện diện luôn luôn, người đọc đến với văn bản bằng nhiều cách, với hành trang khác nhau. Vì văn bản lúc nào cũng như đã đọc, văn bản trở thành luôn luôn đọc lại. Và vì đọc, đọc lại nhiều như thế, người đọc thành công nhìn thấy văn bản trong một khung bảng ý nghĩa!

 

Tất cả những lý thuyết phê bình rồi ra như những trò chơi không chỉ ở ch nghĩa mà nhất là ở lý luận, ở tư duy cũng như ràng buộc bởi yếu tố thời gian và nhân tâm. Văn chương luôn là cái làm lại, lập lại hoặc phải làm lại! Chính những lý thuyết đọc sách và phê bình đã chứng minh văn chương có vai trò trong cuộc sống ở cuối thế kỷ XX đầu XXI này! Nhà phê bình thường nổi bật ở vào những thời điểm có những biến cố chính trị, xã hội hoặc lý thuyết phê bình, khuynh hướng văn học mới: mác xít, hiện tượng luận, hiện sinh, cấu trúc luận, ... Nhưng mặt khác, nhà phê bình, lý thuyết phải có cái nhìn vượt thời gian, nhưng đồng thời ghi nhận tác phẩm trong khuôn khổ môi trường con người ! Đây là lý do khiến nhiều nhà phê bình tỏ ra hụt hơi, lỗi thời, nếu cứ tiếp tục như cũ - như Phan Cự Đệ, Trần Trọng Đăng-Đàn,... trong nước.

 

Như vậy phê bình là đi vào trong tác phẩm, là việc nên, phải làm! Nói theo hiện tượng luận hiện sinh, tác phẩm tự cấu thành qua Tôi, nhà phê bình. Động tác phê bình khiến người đọc khác biết được tác phẩm. Cái tôi khi tôi đọc một tác phẩm cũng là cái tôi của tác giả tác phẩm đó. Tác giả đọc và nghĩ qua tôi, nhà phê bình. Không đúng sao, vì tác phẩm thường là một phương tiện lưu tr tư tưởng, tình cảm, cách mơ và sống, ước muốn cứu cái Tôi khỏi cái Chết. Đây là một lối cắt nghĩa khía cạnh tự sự của tác phẩm. Mỗi tác phẩm đầy dấu vết kẻ viết ra nó, cô giáo Trâm của Vòng Tay Học Trò (1966) có bao nhiêu phần trăm là tác giả Nguyễn Thị Hoàng Nếu không sao có người tự nhận là nhân vật Minh của cuốn tiểu thuyết đó, viết lại "sự cố" vòng tay theo cái nhìn của anh ta: đó là trường hợp Mai Tiến Thành và Tiếng Nói Học Trò do cùng nhà Kim Anh xuất bản năm sau, 1967! Khi Tôi đọc, tác phẩm gợi lại cho tôi nhng tư tưởng, tình cảm và cái sống của tác giả ! Vậy hóa ra phê bình là đi tìm mình! Nhất là khi nhà văn sáng tạo viết phê bình dù phê bình tác phẩm người khác, là một kinh nghiệm kiểm thảo, soi gương, một cách nhìn lại mình, tìm lại bóng ma của chính mình; một cách viết lại, đọc lại mình, tự định nghĩa, vừa xử án vừa bị liên can.

 

Hình như Jorge-Luis Borges có câu nói mà các nhà viết về phê bình hay trích dẫn lại: "Một người kia có dự án phác họa một thế giớị Thời gian qua, ông đã vẽ đủ người, vương quốc, vịnh tàu bè, ốc đảo đầy cá... Đến lúc lâm chung, ông mới nhận ra cả mô hình ông khởi thảo không gì khác hơn là chân dung ông ta tự họa. Nhà văn hay thơ thường cô đơn, tự ngã, rút vô cõi riêng, tự xem mình là lỗ rốn, trung tâm mọi sự, trong khi nhà phê bình dựa trên ước muốn chia xẻ, đi ra. Có thể đây là lý do nhiều nhà sáng tác không muốn làm công việc phê bình !

 

4.

Trở lại văn học VN, viết phê bình, đôi khi cả văn học sử, dễ thất bại, dễ rơi vào dễ dãi của thù tạc, phục vụ phe nhóm và trận chiến trước mặt nhiều khi không hẳn là cần thiết! Riêng chúng tôi viết như sống, tự do, không thế lực đằng sau, không mưu đồ trước mắt, không nhân danh cũng không xử dụng văn chương cho mục đích ngoài cõi; viết với cái nhìn, với kinh nghiệm, với cả phê phán, tưởng rằng, nghĩ rằng,.. Có thể cái tôi hôm nay có tương đối, có đáy giếng nhìn lên, bị mây mưa kéo màn hay có khi chỉ là màn lệ của đời, của kinh quạ Nhiều cái hôm nay như thế, tự nhiên như thế, sẽ đưa dến cái tổng hợp cho ngày mai. Viết trong một cách thế nào đó, là tiết lộ sự thực, sự thực lịch sử, tâm tình hay đạo đức, cứ lời đã là chứng nhân, là đang thành sự thật. Dù người làm văn nghệ và cả phê bình không hẳn dễ làm nhân chứng khách quan, nhưng chính họ là nhng kẻ làm nên phần nào lịch sử !

 

Theo thiển ý, sẽ không lối thoát nếu người viết cứ phải quẩn quanh theo hình thức, vì chính cái hồn làm cho văn chương sống, sinh động. Vả lại, hình thức thường có một thời! Thơ văn hiện nay chưa tới đích hiện đại đã chạy theo hậu hiện đại thành ra nếu không chết non thì cũng dở dở ương ương. Khi theo đà của người mà hậu hiện đại dù chưa sẵn sàng, tức để cho vật chất xâm chiếm văn bản, thì cái hồn mất dần theo tỷ lệ nghịch! Anh nhà quê đòi toàn cầu hóa văn chương, nghe rùng rợn! Đây là một nhức nhối dễ gây tranh tranh luận và không thể có đồng thuận! Thế giới văn học Ấu Mỹ hôm nay là kế thừa của nhng khuynh hướng trào lưu quá nhiều và đa dạng từ 1, 2 thế kỷ qua. Họ thừa mứa đến bội thực trường phái và gia tài, do đó làm mới hoặc khác không dễ vì đã có như đủ hết rồị Thơ chẳng hạn, hình như thi ca Tây phương hôm nay ngưng đọng không lối thoát vì ngôn từ như đã đạt giới hạn, người ta hết còn tin thi ca có thể còn quyền lực bí hiểm nào chưa từng có. Thi ca như bất khả thi! Thì Beaudelaire cuối cùng bị á khẩu, Rimbaud đến phải từ bỏ sự nghiệp thơ, đó sao Thơ hôm nay bị động, trở về nguyên nghĩa, ý nghĩa,... nói hậu hiện đại không bằng nói thi ca đang hiện đại tuyệt cùng ! Thế giới văn nghệ Ấu-Mỹ đang đối đầu với cái chót cùng của hiện đại và hậu hiện đại, của cái tiền phong, vượt tất cả để hoà đồng với thiên nhiên, với môi sinh, với sự sống còn của giống người, tức đương đầu với chính văn minh kỹ thuật mình đã tạo nên, Trong thực tế, mốt này cũng chỉ là hình thức khác của tìm về quá khứ! Thành ra cái gọi là hậu hiện đại trong thực tế là một trộn lẫn hoài cổ và nổ lực sáng tạo, một pha trộn tư duy triết lý với tâm linh, ngay cả phiên dịch cũng trở thành một lối làm thi ca! Từ thuở tạo thiên lập địa, lời (Verbe) đã là chúa tể, thi ca trước nay không thể tách rời ngôn từ, dù đề cao hay phủ định, cũng từ trong ngôn từ mà rạ Ngôn từ, tài sản riêng của con người và là phương tiện mà cũng là cùng đích. Ngôn ng trở thành ám ảnh lớn cho thi ca chẳng hạn và thi ca phải chịu một khủng hoảng nội tại : ở vần! Thơ nay rơi vào nhng phó sản như đã nói ở trên, nay mất vần, biến thể thành tản văn, đoản văn, thành suy niệm triết lý, siêu hình hoặc thành siêu tiểu thuyết (métafiction), như bên văn xuôi có Italo Calvino! Các trường phái, lý thuyết có thay đổi nhưng lúc nào thi ca thành công cũng là gạch nối gia chủ đề, ngôn từ và thế giới, với cái hồn bao trùm hay tiềm ẩn.

 

Với chúng tôi, người Việt, di dân hay lưu vong, có một nền văn học với những tác phẩm có hồn Việt, dù viết bằng tiếng Việt trước 1975 hay tiếng Việt ở trong nước, dù viết bằng tiếng nước tạm dung! Những tác phẩm có hồn Việt nhưng sẽ, hy vọng, hàm chứa cả nhng biến thiên của văn học thế giới, của một thế giới đang hình thành, luôn chuyển động. Tác giả chúng không thể không mang tâm thức mới. Suốt cả thế kỷ qua, nhiều tác giả ít nhiều chịu ảnh hưởng từ ngoài, dùng kỹ thuật, theo trào lưu ở ngoài, nhiều tác phẩm nay không ai còn nhắc đến, nhưng có những thành công là nhng tác phẩm ngầm chứa chất ngoại nhưng tinh túy hoặc trong tổng thể, toát một hồn Việt-Nam, một tác phẩm Việt Nam, do người Việt viết. Nhiều cuốn mà tuổi trẻ chúng tôi thời thập niên 1960 thán phục, thì nay chỉ còn lại tiếng vang vọng xưa xa đã là nhng thử nghiệm thời thượng, nhất thời mà thôi; ngay "tác giả" chúng có người cũng ngượng ngùng nhắc đến. Nay chỉ nhng nhà văn học sử là còn nhắc đến! Những ấn phẩm và người viết giật lùi tưởng rằng đó là hoài niệm, là cả dân tộc, cả thời thượng,... thật ra chỉ là thoái hóa, không cần thiết. Một nền hay một mảng văn học có nhiều tác giả và ấn phẩm không hẳn đã tỉ lệ thuận với tính văn chương! Có thể nói cả thế kỷ XX, nhà văn nhà thơ Việt nam không dành nhiều chỗ và thời gian cho tính văn chương, toàn là chạy theo tranh đấu xã hội và chính trị, hết chống hủ tục (Đoạn Tuyệt, Nửa Chừng Xuân, Con Đường Sáng, Tắt Đèn, ... ) đến chống thực dân, chống Cộng, đến "cởi trói" Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp,... hay tiếp tục chống Cộng như ở hải ngoại hiện nay! Dĩ nhiên cần một môi trường văn hóa thuận lợi - một hiện tượng bình thường, vì văn học hải ngoại cũng như trong nước hiện nay đều là nhng sinh hoạt bất bình thường! Trong nước với sự xuất hiện của Trần Mạnh Hảo, Trần Dăng Khoa,.. đã có những phàn nàn "vắng bóng các ngự sử" hay "thiếu không khí, đất đai và màu m cho phê bình". Ngoài nước người cùng chiếu tâng bốc nhau, dàn cảnh tung hứng, cả tự phỏng vấn,... như bên văn nghệ trình diễn!

 

5.

Nhà phê bình hay sáng tác đều có liên hệ đến ngôn ng. phê bình là chính ngôn ng, đưa ra ánh sáng cái lưng thể, đa thể của ngôn ng : ch viết, bản văn, thi ảnh, văn ảnh, ẩn dụ, thi trung hu họa. Tác phẩm là một toàn bộ cấu trúc ngôn ng và qua toàn bộ hàm xúc này, tác giả làm nên một ý nghĩa, một tổ chức. Nhà phê bình làm công việc nối kết ẩn dụ với hiện thực, tâm lý, ý nghĩa thật, qua ngôn ng của tác phẩm. Qua ngôn từ và cách dùng văn, nhà văn bày tỏ cách thế sống của y, cho thấy nhng mối liên hệ gia y với thế giới. Nhà phê bình qua phân tích sẽ xác định lại nhng liên hệ và cách thế của tác giả. Nhà phê bình làm "gián điệp nhị trùng", lưng hóa cái tượng trưng của ngôn ng !

 

Trước nay đã có nhng lý thuyết phê bình văn học căn cứ trên thân thế tác giả, quanh nhng tác giả lớn,... Từ vài thập niên, tác phẩm đã là đói tượng chính của phê bình, tiểu sử tác giả chỉ là phụ. Nhà phê bình đảm trách phân tích một cái sống tưởng tượng - nhưng có thể rất thật nếu tác giả có tài, chứ không phải là cái sống hiện thực đời thường. Nhà phê bình nhìn tác phẩm ở một ví trí thật sự của ông ta miễn có mục đích tìm hiểu tác giả. Như vậy phê bình phải chăng là sáng tạo Sáng tạo trong cách lối nhìn tác phẩm, đọc tác phẩm. Có sáng tạo, công việc phê bình mới có ý nghĩa, với ý niệm văn chương, với ngôn ng của phê bình, một sáng tạo khác của tác phẩm. Sáng tạo từ tác phẩm như thế, với tư duy, cảm xúc, ấn tượng, tài năng riêng. Nhà phê bình dĩ nhiên là người có một tâm hồn bén nhạy, có tư duy, có thế mới đi đén sáng tạo, viết để được đọc, nhắm đến độc giả, chứ không phải để làm quảng cáo chào hàng cốt bán ấn phẩm - vì sách in ra chưa hẳn đã là tác phẩm! Phê bình là tiếng nói khác của tác phẩm chứ không phải là câu kết của một lần xuất bản. Vậy, có tác phẩm mới có phê bình sáng tạo, nếu không, chỉ có nhng sinh hoạt thương mại hoặc ái hu !

Bài đây ghi lại nhng ý tưởng rất tổng quát, có tính cách lý thuyết, không hẳn đã là chỉ đạo hoặc lối cách viết của chúng tôi! Biết đã có nhng nhà nghiên cứu phê bình trong ngoài nước và luôn có nhng cây bỉnh bút mới, giáo khoa hay tài tử, cá nhân tôi vẫn tin mình có con đường và thái độ, cảm nhận văn nghệ có thể đóng góp, đối thoại với người đương đại, và biết đâu có thể để lại dấu chứng cho kẻ đến sau, thiển nghĩ nhắm nhng người đọc mới, bất kể tuổi tác, mới nghĩa là không sáo mòn, cóp nhặt. Nhắm con người và lịch sử con người hơn là lịch sử xã hội, chính trị. Hiểu, cảm, và khiến người đọc cảm! Nếu hàm chứa càng tốt nhưng không là cùng đích của công việc nghiên cứu và lưu truyền tôi đã chọn! Theo thiển ý, một nhà phê bình phải có trí, tâm và lý. Trí tức kiến thức, học vấn giúp khả năng nhận định và phán đoán, tâm tức lương tâm, tự trọng và liêm sĩ là nhng thứ tạo nên nhân cách, và lylà hoàn cảnh sinh lý và cuộc sống, có cân bằng nội tại thì phê phán mới chính đáng! Ba yếu tố đưa đến thẩm mỹ quan ! Góp cái nhìn sẽ khác nhng nhóm hay tập thể chỉ biết tán dương người cùng phe và phê phán thẳng tay nhng ai không cùng thuyền. Hy vọng và hy vọng!

Nguyễn Vy Khanh
5-5-2001

Chú:

(1) Tạp chí Magazine littéraire số 398 (mai 2001) hồ sơ đánh dấu 40 năm khuynh hướng Oulipo - viết tắt của Ouvroir de littérature potentielle, một nhóm tìm kiếm những tiềm năng khả thể của văn chương và cách tân hình thức ngôn ng.

(2) Roland Barthes. S/Z. Paris: Seuil, 1970 (Collection Points Essais), p. 10

(3) Ibidem p. 20. 

 


Trang chủ đề: Một Thế Kỷ Văn Chương
[ vào ]

 

 

■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■

Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách

Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập