một thế kỷ văn chương

thượng văn


 

WebEncyclo là một trong nhiều website ngày nay chuyên biệt về loại bách khoa tự điển. Như Encarta của Mỹ. Như Britannica của Anh. Điều khác biệt, WebEncyclo của Pháp hàng tuần vẫn đều đặn gửi đến độc giả một tài liệu đặc biệt về một đề tài nào đó. Bài Một Thế Kỷ Văn Chương, tháng Ba năm nay, của giáo sư thạc sĩ về văn chương hiện đại Marie-Gabrielle Slama, đã bắt đầu bằng nhận xét của Jean Ricardou, một trong những nhà văn tiền phong của trào lưu Tiểu Thuyết Mới, cho rằng nhà văn là kẻ đi tìm "cuộc phiêu lưu của chữ nghĩa nhiều hơn là chữ nghĩa của một cuộc phiêu lưu." Tóm tắt về văn chương của thế kỷ 20 có thể nào chỉ đơn giản như thế, trong một câu, cho toàn thế giới?

 

Chuyện ở Mỹ

Trước khi thế kỷ 20 thực sự chấm dứt và trước khi thế kỷ 21 thực sự bắt đầu, chuyện văn chương của thế kỷ đã thực sự ồn ào ở Mỹ. Tháng Bảy, 1998, chi nhánh của nhà xuất bản Random House có tên gọi là Modern Library đã tự động lựa chọn và đưa ra danh sách 100 tiểu thuyết Anh ngữ hay nhất. Danh sách này bắt đầu bằng 10 tác phẩm sau đây được xếp hạng:

 

1. ULYSSES của James Joyce

2. THE GREAT GATSBY của F. Scott Fitzgerald

3. A PORTRAIT OF THE ARTIST AS A YOUNG MAN của James Joyce

4. LOLITA của Vladimir Nabokov

5. BRAVE NEW WORLD của Aldous Huxley

6. THE SOUND AND THE FURY của William Faulkner

7. CATCH-22 của Joseph Heller

8. DARKNESS AT NOON của Arthur Koestler

9. SONS AND LOVERS của D.H. Lawrence

10. THE GRAPES OF WRATH của John Steinbeck

 

Sử gia Arthur Schlesinger Jr. và nhà văn William Styron có chân trong số 10 giám khảo tham gia vào việc bình bầu này đã tỏ ra không hài lòng về danh sách công bố các tác phẩm được chọn lọc. Viết trên tờ The Wall Street Journal, ông Schlesinger cho rằng mọi thành viên đều tỏ ra ngạc nhiên ít nhất là hai tác phẩm đứng cuối trong danh sách năm tác phẩm đứng đầu: quyển Lolita của Vladimir Nabokov và quyển Brave New World của Aldous Huxley. Ông cho biết ban giám khảo được yêu cầu xếp hạng năm tác phẩm đứng đầu bởi vì những tác phẩm này hầu hết đều xuất hiện trong danh sách lựa chọn của các giám khảo. Họ không xếp hạng các tác phẩm còn lại trong danh sách 100.

 

Ban biên tập của Modern Library, theo báo The Washington Post tường trình, đã xếp thứ tự theo số lần tác phẩm được các giám khảo chọn trong danh sách của họ. Nếu hai tác phẩm cùng số phiếu chọn, Modern Library tự quyết định lấy tác phẩm nào được xếp trước.

 

Ông Schlesinger cũng than phiền lẽ ra quyển Darkness at Noon của Arthur Koestler không được nằm ở hàng thứ tám vì tác phẩm này gốc viết bằng tiếng Đức. Nhưng dù sao đi nữa ông cũng ca ngợi việc làm này, "bất cứ điều gì khích thích người ta đọc tiểu thuyết và tranh luận về giá trị của tiểu thuyết đều được coi là một chiến thắng văn hóa."

 

Nhà văn William Styron nhận xét là thành phần ban giám khảo được Modern Library lựa chọn "hoàn toàn da trắng, nam giới ngự trị và đi đứng không vững." Ở đặc trưng sau cùng, ông Schlesinger giải thích thêm bằng cách tính ra theo số tuổi trung bình, họ ở vào tuổi 69. Báo Newsweek nói rõ thêm có thể đó là lý do khiến chỉ có 6 quyển viết ra vào một phần tư cuối thế kỷ XX được lọt vào danh sách sau cùng. Điền này còn tạo phản ứng nơi các nhà văn trẻ hơn. Danh sách sau cùng đã dừng lại ở thập niên 60, ngoại trừ hai tác phẩm Ragtime của E.L. Doctorow và Midnight's Children của Salman Rushdie, theo nhận xét của ông Michael Bérubé, giám đốc chương trình Research in the Humanities của Đại học Illinois.

 

Theo giáo sư phụ giảng Ojars Kratins của Đại học Berkeley, đây là "danh sách vô nghĩa." và là "một trò quảng cáo buôn bán sách." Ba trong bốn tác phẩm do ông lựa chọn để giảng dạy về văn chương thế kỷ 20 không nằm danh sách này. Ông chọn quyển The Sound and the Fury của William Faulkner nằm hạng 6 trong danh sách nhưng ba quyển khác là Mrs. Dalloway của Virginia Woolf, Descent Into Hell của Charles Williams và The Female Man của Joanna Russ bị lọt sổ. Quyển Ulysses, theo ông là một lựa chọn đúng nhưng khó đọc và có rất ít người ngốn nổi cuốn này. Quyển Heart of Darkness (thứ 67) lẽ ra phải được xếp hạng cao hơn và quyển Grapes of Wrath (thứ 10) lẽ ra phải xếp hạng thấp hơn.

Nhiều tác phẩm khác được nhắc đến không nằm trong danh sách là Beloved của Toni Morrison (giải Nobel văn chương 1993) và The Godfather của Mario Puzo. Nhà văn Anh A. S. Byatt sau khi danh sách công bố có nói đến tình trạng thiếu sót các nhà văn Úc, Canada, Ần Độ, Phi châu trong danh sách.

 

Trong số giám khảo, nhà văn Gore Vidal không có tác phẩm nào nằm trong danh sách còn nhà văn Willian Styron, quyển Sophie's Choice của ông được xếp gần chót, hạng 96.

 

59 trong số 100 tác phẩm được lựa chọn do nhà Random House xuất bản theo lời của Tom Perry, giám đốc xuất bản của Random House, và Modern Library chỉ xuất bản 20 tác phẩm trong số này.

 

Ian Jackman, giám đốc điều hành của Modern Library, cho rằng phương thức lựa chọn được dùng "không hoàn toàn khoa học." Ông muốn nói đến phương thức "đếm phiếu." Ông cũng muốn đưa thêm người vào ban giám khảo để hạ thấp số tuổi trung bình xuống và biến ban giám khảo trở nên tiêu biểu hơn với xã hội ngày nay. Mọi chuyện đều quá trễ.

Nhà văn Anh A. S. Byatt là người phụ nữ ngoại quốc duy nhất có chân trong ban giám khảo. Những khuôn mặt khác còn lại là Christopher Cerf, chủ biên của Modern Library; Gore Vidal, nhà văn; Daniel Boorstin, nguyên quản thủ thư viện Library of Congress; Shelby Foote, sử gia; Vartan Gregorian, chủ tịch của Carnegie Corp; sử gia Edmund Morris; và John Richardson, nhà viết tiểu sử của Picasso; William Styron, nhà văn; Arthur Schlesinger Jr., sử gia.

 

James Wood trên báo The New Republic, số ngày 24 tháng Tám, 1998, khởi đi từ nhận xét ban giám khảo của Modern Library gồm nhiều sử gia hơn nhà phê bình văn học và nhà văn để đi đến phê bình danh sách của Modern Library đã "hạ thấp tiêu chuẩn thẩm mỹ và đề cao tiểu thuyết có 'nội dung mạnh bạo'" Bởi thế The Grapes of Wrath, Darkness At Noon, và I, Claudius được coi như hay hơn những tác phẩm khác của Theodore Dreiser, Virginia Woolf, Henry James hay Joseph Conrad. Ông này cũng cảm thấy sự vô lý của việc xếp hạng 100 quyển tiểu thuyết. Ông cho rằng "... không có một tiêu chuẩn có ý nghĩa nào để phán xét quyển Lolita (thứ 4) 43 cuốn hay hơn quyển Nostromo của Conrad." Danh sách này một lần nữa tái xác định điều ông nghĩ như là "sự yếu kém của tiểu thuyết Anh ngữ thời hậu chiến." Dường như ở đâu đó vào năm 1945 đã có một lằn ranh giới hạn đặt ra ngoài vòng luật pháp mọi tìm tòi và khám phá về mặt nghệ thuật trong 50 năm sau đó. Một vài tên tuổi của nửa thế kỷ sau này tuy có nằm trong danh sách nhưng không thấm vào đâu so với đa số tác phẩm được chọn và chỉ tạo cho ông cảm tưởng "...một thế kỷ không đủ sức tạo ra nổi 100 tác phẩm lớn cho riêng một ngôn ngữ, dù là ngôn ngữ tràn lan khắp thế giới như Anh ngữ." Ông nghĩ 30 tác phẩm trong danh sách lựa chọn có thể được coi là lớn. Điều này dẫn đến một sự thật là "tiểu thuyết lớn không thật sự cần phải tạo ảnh hưởng đến những tiểu thuyết lớn khác. Thường thì cái lớn là sự tích tụ nhiều hơn là khai mở." Thí dụ như quyển Ulysses vẫn được nhiều người ngợi khen, không thể chối cãi đây là một tác phẩm lớn. Nhưng "Ulysses thực tế là sự thừa kế của một thế kỷ của ảnh hưởng văn chương: sáng tạo lớn của Joyce về giòng ý thức là kết quả hợp lý của sự phát triển trong lãnh vực này của Flaubert, của Hamsun, của Dostoevsky và của Chekhov. Ulysses hầu như không tạo ảnh hưởng nào khác trên tiểu thuyết Anh ngữ: Joyce và Woolf đã đồng thời khám phá ra giòng ý thức. Và mặc dù tác phẩm này có tác động lớn hơn ở Hoa Kỳ (Bellow, Pynchon và DeLillo chịu ảnh hưởng của Joyce), tiểu thuyết Hoa Kỳ có thể cũng không khác nếu Joyce không hiện hữu bởi vì không có tiểu thuyết gia Hoa Kỳ nào - có lẽ ngoại trừ Henry Roth - thực sự đưa giòng ý thức lên ngang hàng với Joyce."

 

Ngày 20 tháng Bảy, 1998, Modern Library mở ra danh sách cho độc giả lựa chọn. Cuộc trưng cầu dân ý này chấm dứt vào ngày 20 tháng Mười, 1998. Mười tác phẩm đứng đầu trong danh sách 100 tác phẩm do độc giả lựa chọn là:

 

1. ATLAS SHRUGGED của Ayn Rand

2. THE FOUNTAINHEAD của Ayn Rand

3. BATTLEFIELD EARTH của L. Ron Hubbard

4. THE LORD OF THE RINGS của J.R.R. Tolkien

5. TO KILL A MOCKINGBIRD của Harper Lee

6. 1984 của George Orwell

7. ANTHEM của Ayn Rand

8. WE THE LIVING của Ayn Rand

9. MISSION EARTH của L. Ron Hubbard

10. FEAR của L. Ron Hubbard (1)

 

Danh sách đã hạ Ulysses của James Joyce xuống hàng thứ mười một và đưa Ayn Rand lên hàng đầu. Một danh sách toàn Ayn Rand (thứ 1, 2, 7 và 8) có thể nói như vậy. Điều đáng ngạc nhiên là danh sách do Modern Library chọn lựa đã không có tác phẩm nào của tác giả này.

 

Việc làm của Modern Library đã tạo ra một số phản ứng dây chuyền. Người ta đua nhau thiết lập danh sách của mình. Tạp chí The Hungry Mind Review đã đưa ra một danh sách hỗn hợp gồm cả tác phẩm giả tưởng lẫn phi giả tưởng. Mười tác phẩm đứng đầu trong tổng số 100 tác phẩm hay nhất của Mỹ (100 Best 20th-Century American Books of Fiction and Nonfiction) là:

 

Henry Adams -- The Education of Henry Adams, 1918

James Agee and Walker Evans -- Let Us Now Praise Famous Men, 1941

Dorothy Allison -- Bastard out of Carolina, 1992

Rudolfo Anaya -- Bless Me Ultima, 1972

Sherwood Anderson -- Winesburg, Ohio, 1919

Maya Angelou -- I Know Why the Caged Bird Sings, 1970

Gloria Anzaldúa -- Borderlands/La Frontera: The New Mestiza, 1987

James Baldwin -- Go Tell It on the Mountain, 1953

James Baldwin -- The Price of the Ticket: Collected Nonfiction, 1985

Edward Ball -- Slaves in the Family, 1998 (2)

Ban giám khảo lựa chọn ra danh sách này gồm có năm nhà văn Mary Moore Easter, Heid E. Erdrich, Bill Holm, David Mura, and George Rabasa được đặt dưới sự hướng dẫn của Bart Schneider, biên tập viên của The Hungry Mind Review và J. Otis Powell của The Loft Literary Center ở Minneapolis.

 

Trong danh sách sơ khởi do Modern Library đưa ra gồm tổng cộng 404 quyển, chỉ có 76 quyển (tức 19%) do nhà văn nữ viết và chỉ có 8 tác phẩm lọt vào chung kết. Giới cầm bút nữ khá phiền hà về điều này. Trên website của Feminista, ban biên tập phê phán danh sách của Modern Library đã hoàn toàn bỏ quên các nhà văn nữ nổi tiếng như Margaret Atwood, Nadine Gordimer, Zola Neale Hurston, Harper Lee, Doris Lessing, Toni Morrison và Sylvia Plath. Họ đã đi đến quyết định tự chọn lọc và đưa ra danh sách 100 tác phẩm tiểu thuyết Anh ngữ lớn của phụ nữ của thế kỷ 20. Danh sách này sắp theo thứ tự ABC, không xếp hạng. Với tiêu chuẩn mỗi nhà văn, một tác phẩm, trong số này người ta có thể nhận diện: Cat's Eye của Margaret Atwood, The Good Earth của Pearl Buck, Possession của A. S. Byatt, July's People của Nadine Gordimer, Their Eyes were Watching God của Zora Neale Hurston, Fear of Flying của Erica Jong, Lucy của Jamaica Kincaid, To Kill a Mockingbird của Harper Lee, The Golden Notebook của Doris Lessing, The Group của Mary McCarthy, Gone With the Wind của Margaret Mitchell, Beloved của Toni Morrison, Lives of Girls and Women của Alice Munro, A Severed Head của Iris Murdoch, You Must Remember This của Joyce Carol Oates, The Bell Jar của Sylvia Plath, The Shipping News của E. Annie Proulx, The Fountainhead của Ayn Rand, The Volcano Lover của Susan Sontag, Three Lives của Gertrude Stein, The Joy Luck Club của Amy Tan, The Color Purple của Alice Walker, Stories của Eudora Welty, The Return of the Soldier của Rebecca West, Mrs. Dalloway của Virginia Woolf... (3)

 

Ngày 21 tháng Bảy, Radcliffe Publishing Course đưa ra danh sách 100 quyển tiểu thuyết hay nhất của thế kỷ 20, theo yêu cầu của Modern Library. Radcliffe là chương trình học chuyên về ngành xuất bản. Học viên của chương trình này, theo Christoper Cerf, sẽ đóng vai trò lãnh đạo trong ngành kỹ nghệ xuất bản trong tương lai. Bởi thế tiếng nói của họ qua việc lựa chọn này có nhiều khả năng điều hướng ngành xuất bản của thế kỷ 21. Danh sách tổng kết của học viên Radcliffe dẫn đầu với 10 tác phẩm sau đây:

1. The Great Gatsby của F. Scott Fitzgerald

2. The Catcher in the Rye của J.D. Salinger

3. The Grapes of Wrath của John Steinbeck

4 To Kill a Mockingbird của Harper Lee

5. The Color Purple của Alice Walker

6. Ulysses của James Joyce

7. Beloved của Toni Morrison

8. The Lord of the Flies của William Golding

9. 1984 của George Orwell

10. The Sound and the Fury của William Faulkner (4)

 

Hệ thống thư viện công Madison Public Library của tiểu bang Wisconsin, Hoa Kỳ, qua cuộc tranh luận sôi nổi trong giới truyền thông, cũng cảm nhận được cái nhu cầu cần làm sáng tỏ ra nội vụ, đã lập danh sách 100 quyển tiểu thuyết hay nhất của thế kỷ 20 thu thập ý kiến của độc giả qua việc trưng cầu ý kiến trên toàn hệ thống thư viện của tiểu bang. Việc làm đưa đến kết quả với 10 tác phẩm đứng đầu là:

1. To Kill a Mockingbird - Harper Lee (1960)

2. The Catcher in the Rye - J. D. Salinger (1951)

3. 1984 - George Orwell (1949)

4. The Color Purple - Alice Walker (1982)

5. The Great Gatsby - F. Scott Fitzgerald (1925)

6. On the Road - Jack Kerouac (1957)

7. Beloved - Toni Morrison (1987)

8. The Grapes of Wrath - John Steinbeck (1939)

9. Gone with the Wind - Margaret Mitchell (1936)

10. Brave New World - Aldous Huxley (1932) (5) & (6)

 

Danh sách thứ hai của Modern Library

Rút kinh nghiệm của danh sách trước, năm sau Modern Library làm ăn thận trọng hơn. Danh sách 100 tác phẩm phi giả tưởng (non-fiction) được chọn vòng đầu từ danh sách 900 tác phẩm do Modern Library đưa ra. Đợt đầu tiên lọc ra 300 tác phẩm và đợt thứ hai cắt xuống còn 100 tác phẩm. Trong lần này Modern Library mướn giáo sư về thống kê của Đại học Chicago, ông Albert Madansky giữ nhiệm vụ xếp hạng tác phẩm. Ban giám khảo được tăng cường thêm hai tác giả trẻ là Caleb Carr và Jon Krakauer; hai phụ nữ: nhà văn Carolyn See và giáo sư về tôn giáo của Đại học Princeton, bà Elaine Pagels; và một tác giả da đen Charles Johnson. Trong số các luật lệ được đưa ra ngay từ đầu có giới hạn chỉ dành riêng cho sách viết bằng Anh ngữ và mỗi tác giả chỉ được quyền có một tác phẩm trong danh sách. Một nguyên tắc khác là thành viên trong ban giám khảo không được quyền bỏ phiếu cho tác phẩm của mình nhưng dù sao đi nữa năm thành viên cũng có tác phẩm được chọn trong danh sách sau cùng là Shelby Foote, Stephen Jay Gould, Edmund Morris, Elaine Pagels và Arthur Schlesinger Jr. Kết quả là danh sách thứ hai với 10 tác phẩm dẫn đầu là:

 

1. THE EDUCATION OF HENRY ADAMS của Henry Adams

2. THE VARIETIES OF RELIGIOUS EXPERIENCE của William James

3. UP FROM SLAVERY của Booker T. Washington

4. A ROOM OF ONE'S OWN của Virginia Woolf

5. SILENT SPRING của Rachel Carson

6. SELECTED ESSAYS, 1917-1932 của T. S. Eliot

7. THE DOUBLE HELIX của James D. Watson

8. SPEAK, MEMORY của Vladimir Nabokov

9. THE AMERICAN LANGUAGE của H. L. Mencken

10. THE GENERAL THEORY OF EMPLOYMENT, INTEREST, AND MONEY của John Maynard Keynes

 

Và cũng như lần trước, một danh sách do độc giả lựa chọn cũng được đưa ra, trong số này 10 tác phẩm dẫn đầu là:

 

1. THE VIRTUE OF SELFISHNESS của Ayn Rand

2. DIANETICS:THE MODERN SCIENCE OF MENTAL HEALTH của L. Ron Hubbard

3. OBJECTIVISM: THE PHILOSOPHY OF AYN RAND của Leonard Peikoff

4. 101 THINGS TO DO TIL THE REVOLUTION của Claire Wolfe

5. THE GOD OF THE MACHINE của Isabel Paterson

6. AYN RAND: A SENSE OF LIFE của Michael Paxton

7. THE ULTIMATE RESOURCE của Julian Simon

8. ECONOMICS IN ONE LESSON của Henry Hazlitt

9. SEND IN THE WACO KILLERS của Vin Suprynowicz

10. MORE GUNS, LESS CRIME của John R. Lott (7)

 

So với danh sách tiểu thuyết, danh sách thứ hai của Modern Library có ít vấn đề hơn. Thomas Bender, giáo sư Đại học New York, tác giả của quyển New York Intellect, cho rằng "các giám khảo đã thành công" trong việc chọn lọc và đưa ra kết quả sau cùng này. Tuy nhiên, ông ghi nhận, trong danh sách hai quyển Golden Bough (thứ 90) của James George Frazer và The Significance of the Frontier in American History (thứ 12) của Frederick Jackson Turner là tác phẩm xuất bản cuối thế kỷ 19. Theo ông, các tác phẩm về khoa học xã hội đã không được quan tâm đúng mức. Chẳng hạn, ông nghĩ cần phải đưa vào danh sách quyển Interpretation of Cultures của Clifford Geertz, quyển Lonely Crowd của David Riesman, quyển Human Condition của Hannah Arendt và quyển Cultural Contradictions of Capitalism của Daniel Bell.

Ông Morris Dickstein, giáo sư Anh ngữ của Queens College và City University of New York Graduate Center, tuy đồng ý với kết quả sau cùng nhưng vẫn nghĩ danh sách "hơi già và hơi đàn ông."

Mọi chuyện coi như tạm êm sau đó ở Mỹ. Thế kỷ 21 đến với những lo âu khác hơn là sách vở và chữ nghĩa.

 

Chuyện ở Pháp

Bài viết của giáo sư thạc sĩ Marie-Gabrielle Slama trên WebEncyclo không phải là một xếp hạng văn chương theo kiểu Mỹ, cũng không phải chỉ dành riêng cho văn chương chữ Anh. Thế kỷ văn chương của Slama là một liệt kê và phân kỳ những khuynh hướng nổi bật về văn học trên toàn thế giới với gia vị của các món ăn tinh thần Pháp. Bài viết chứng tỏ cái phức tạp và khó khăn của việc làm này. Tính chất lớn rộng và toàn diện của đề tài khiến cho việc tổng hợp dễ tạo ấn tượng vấn đề được nhìn xoay quanh tâm điểm châu Ấu, theo ý nghĩa rộng của những gì được viết ra bằng ngôn ngữ châu Ấu, hay được dịch ra ngôn ngữ châu Ấu trên toàn thế giới.

 

Trước hết thế kỷ 20 là thế kỷ toàn thắng của thể loại tiểu thuyết. Mở đầu và thống trị ngôn ngữ tiểu thuyết mới là Marcel Proust với tác phẩm đồ sộ bảy quyển À la recherche du temps perdu (1923-1927). Tác phẩm được coi là cuối cùng của tiểu thuyết cổ điển và đầu tiên của tiểu thuyết hiện đại. Bên cạnh và đồng thời với Proust, nhà văn Ái Nhĩ Lan James Joyce với tác phẩm làm mới chữ nghĩa cho thế kỷ 20 Ulysses (được viết trong khoảng thời gian 1914-1921 và được dịch ra tiếng Pháp năm 1922). Nhà văn Áo Robert Musil, được biết đến qua tác phẩm không hoàn tất L'homme sans qualités. Đó là tác phẩm được coi như rất gần với thế giới của Proust, khát khao với cái tuyệt đối, một phân tích lịch sử và xã hội của một thế giới suy thoái. Hai nhà văn khác có tầm quan trọng không kém của thập niên 30 có vũ trụ và kỹ thuật mô tả giống nhau, và cùng tìm kiếm chữ nghĩa tiểu thuyết mới là nhà văn Pháp Louis-Ferninad Céline và nhà văn Mỹ William Faulkner.

 

Chủ nghĩa siêu thực là một trong những trào lưu văn chương thẩm mỹ lớn của thế kỷ. Sản sinh trong thời chiến cùng với tạp chí Littérature phát hành năm 1919 ở Pháp là các tên tuổi của André Breton, Louis Aragon và Phillippe Soupault rồi nhà thơ Paul Eluard gia nhập sau đó. Chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hư vô của Tristan Tzara và phong trào "dada" của ông này, chủ nghĩa siêu thực đã đặt lại mọi căn bản về chữ và nghĩa.

 

Thời kỳ giữa hai thế chiến là một dấu mốc mới mang lại những lý do mới để sống và viết dù trong chiến đấu, trong cuộc chạy trốn thực thực tế và dã man hay buông trôi theo giòng tuyệt vọng.

Nền văn chương tuyệt vọng có Gertrude Stein, nhà văn sáng tạo ra từ ngữ "thế hệ lạc loài," có Hemingway, Francis Scott Fitzgerald, Stefan Zweig. Một số nhà văn khác đã trực tiếp tham gia vào chính trị và thực sự dấn thân. Cái chết của nhà thơ, nhà thoại kịch Federico Garcia Lorca vào buổi đầu của chiến tranh Tây Ban Nha là hình ảnh tiêu biểu của hình thức dấn thân này. André Malraux, John Steinbeck, John Dos Passos là một trong nhiều hình ảnh khác.

 

Thời hậu chiến, chủ nghĩa hiện sinh là từ ngữ thời thượng. Jean-Paul Sartre, Simone de Beauvoir là hai khuôn mặt tiêu biểu của hình thái hiện sinh pha trộn vừa triết học vừa văn chương này. Tuy không phải mọi người đều đồng ý Albert Camus đứng trong hàng ngũ hiện sinh, nhưng tác phẩm Etranger (1942) của ông chuyên chở một trong số những chủ đề của hiện sinh, đặc biệt về sự phi lý. Thời hậu chiến còn là mảnh đất sản sinh ra phong trào Tiểu Thuyết Mới, phong trào xuất hiện trùng hợp với "Đợt Sóng Mới" trong lãnh vực phim ảnh. Michel Butor, Alain Robbe-Grillet, Nathalie Sarraute... là một trong nhiều đại diện tiêu biểu của phong trào này. Trong một danh sách dài hơn còn có thể kể đến Claude Ollier, Robert Pinget, Jean Ricardou, Claude Simon, Marguerite Duras. Không khí mới của thổi qua lãnh vực kịch nghệ. Samuel Beckett, Ionesco, Bertolt Brecht, Jean Genet đã đóng vai trò tích cực trong việc làm mới kịch trường.

Những năm 1950-1960 là thời kỳ phủ nhận và đặt lại vấn đề. Thời kỳ của thế giới đấu tranh thoát khỏi xích xiềng thực dân đã là mảnh đất phì nhiêu của văn chương. Làn sóng nổi loạn trong văn chương Mỹ đã càn quét những ràng buộc cũ. Allen Ginsberg, Jack Kerouac, William Burroughs khởi đầu cho khuynh hướng nổi loạn này. Henry Miller, Nabokov cũng xuất hiện cùng thời kỳ trong khi Ralph Ellison, James Baldwin bắt đầu tạo sự chú ý của người đọc đến số phận của người da đen trong xã hội "trắng" Hoa Kỳ.

 

Thế kỷ 20 còn nổi bật lên hiện tượng "quốc tế hóa" tiểu thuyết. Mishima tuy được coi là chịu ảnh hưởng của tác giả ngoại quốc nhưng chắc chắn không ai phủ nhận cái gốc rễ của văn hóa Nhật trong tác phẩm của ông. Tương tự như thế trong trường hợp của Jorge Luis Borges và Julio Cortazar ở Á Căn Đình, của Salman Rushdie ở Ần Độ.

 

Thời kỳ hậu chiến sẽ thiếu sót nếu không nhắc đến văn chương goulag. Boris Pasternak (Nobel 1958) và Aleksandr Solzhenitsyn (Nobel 1970) qua Doctor Zhivago và One Day in the Life of Ivan Denisovich, đã viết chung bản tuyên ngôn văn chương lên án sự bạo tàn của chế độ cộng sản, đòi trả lại tự do cho con người và như thế, giải phóng văn chương.

Văn chương của thế kỷ 20 sẽ thiếu sót nếu không nhắc đến những sáng tác trong lãnh vực khoa học giả tưởng. Aldous Huxley, George Orwell đã dẫn đầu danh sách này. Kế tiếp phải kể đến Ray Bradbury, Isaac Asimov, Philip K. Dick, Franck Herbert.

 

Văn chương của thế kỷ 20 sẽ thiếu sót nếu không nhắc đến tiểu thuyết trinh thám. Conan Doyle nổi tiếng với nhân vật Sherlock Holmes. Agatha Christie nổi tiếng ngay từ tác phẩm The Murder of Roger Ackroyd (1926). Danh sách các tác giả của tiểu thuyết loại này thật dài, có thể kể đến là Dashiell Hammett, Raymond Chandler, Georges Simenon, Léo Malet, Gaston Leroux, Ian Fleming...

 

Một phần tư sau cùng của thế kỷ 20 còn phải được nhắc đến ba khuôn mặt lớn trong lãnh vực kịch nghệ là Heiner Muller, Edward Bond và Bernard-Marie Koltès.

 

Kể từ thập niên 70 trở đi, theo Marie-Gabrielle Slama, văn chương gắn liền với "xã hội trình diễn" (société du spectacle). Nhà văn được truyền hình và báo chí nhắc đến như bất cứ một ca sĩ hay diễn viên màn ảnh nào khác. Trường hợp của Michel Houellebecq, Salman Rushdie là điển hình. Sách vở trở thành món hàng như mọi món hàng khác và các nhà xuất bản không đi tìm những gì khác hơn một "best-seller"

 

Có thể như một số người đã cảnh báo, đây là về cái chết của văn chương hay chỉ là một biến hóa khác của văn chương trước khi bước vào ngưỡng cửa của thế kỷ 21?

 

Chuyện Việt Nam

Ông Edmund Morris, thành viên trong ban giám khảo của Modern Library, tác giả của The Rise of Theodore Roosevelt, tác phẩm được trao giải Pulitzer về Tiểu Sử và Tự Truyện của năm 1980, thú nhận nếu được yêu cầu ghi xuống 100 tác phẩm hay nhất của thế kỷ 20, ông chỉ có thể cung cấp một danh sách chừng 58 quyển. Trong đời, ông thú nhận, ông không đọc hết 100 tác phẩm "lớn" của thế kỷ mặc dù ông có thể đã đọc một số trong số này cả 100 lần. Nhưng qua nói chuyện với nhà văn A. S. Byatt, ông biết bà này đã đọc tất cả tác phẩm được viết ra kể từ quyển Filocolo của Boccaccio trở đi và bà là người sẽ cung cấp dễ dàng một danh sách tác phẩm như vậy. Ông nghĩ Shelby Foote cũng sẽ làm được điều này trong một danh sách có ít nhất 18 tác phẩm của William Faulkner.

 

Nhà văn A. S. Byatt, người được nhìn nhận có khả năng nhất trong việc làm do Modern Library chủ xướng vì bà đọc rất nhiều sách và sẵn sàng tranh luận từng tác phẩm một nếu được đem lên bàn mổ. Bà thú nhận mình là người thích thiết lập danh sách. Đó là một phần của cách trí óc con người làm việc. "Bằng danh sách, chúng ta sắp xếp quá khứ và tương lai trong đầu. Đây là những gì tôi đã đọc và nhớ, đây là những biến cố trong đầu đã tạo ra tôi là tôi bây giờ. Cũng vậy, đây là những gì tôi cần phải biết và không biết. Đây là những gì tôi có ý định đọc, cho vui hay vì giáo dục. Đây là thứ tự về tầm quan trọng theo ý tôi. Danh sách không cứ chỉ là sách, chúng có thể là thành phố hay thực phẩm hay ngôn ngữ hay giống như danh sách lạ lùng của Borges về những vật thể không liên hệ gì với nhau, những quan niệm."

 

Theo bà, "Danh sách về những tác phẩm lớn là chuyện của Mỹ nhiều hơn của châu Ấu. Văn hóa Mỹ được tôi luyện bằng những thảo luận về sự kế thừa của Mỹ từ mọi nền văn hóa khác và văn chương Mỹ vẫn đặt nặng về vấn đề căn cước của văn hóa Mỹ hơn là văn hóa Anh (hay Ấu châu khác)."

 

Nhận diện ra mình giữa thế giới rộng lớn trong những giới hạn của nó, là nỗi ám ảnh không phải chỉ của người Mỹ. Thoát thai từ văn hóa thuộc địa, văn chương chữ quốc ngữ Việt Nam là một nỗ lực không ngừng xác định bản ngã văn hóa dân tộc. Nền văn chương đó vừa kịp trưởng thành đã bị xô đẩy vào chiến tranh. Hoàn cảnh đặc thù của Việt Nam sau thế chiến thứ hai và rõ rệt hơn sau năm 1954 đã đặt chúng ta trước sự phát triển riêng biệt của hai nền văn chương phát triển độc lập với nhau giữa hai miền đất nước. Hãy gọi đó là văn chương chiến tranh hay thời thế gì đó cũng được. Hoặc có thể từ một điểm nhìn khác, đặc biệt ở miền Nam do điều kiện phát triển tự do, cũng đã có văn chương ngoảnh mặt lại với chiến tranh và thời thế, cũng đã có văn chương, trong tuyệt vọng, đường cùng, tìm cách vượt thoát chiến tranh và thời thế. Và hoàn cảnh đặc thù của Việt Nam sau 1975 lại tách rời sự phát triển đó ra giữa hai nền văn chương: một trong nước và một ngoài đất nước. Chiến tranh dường như vẫn chưa chấm dứt sau năm 1975, trên mặt trận chữ nghĩa. Sự chạm trán và cọ xát văn chương giữa hai miền đất nước, (và một phần của hiện tượng này giữa trong và ngoài nước) trong một phần tư thế kỷ còn lại của thế kỷ 20, trong tư thế bị bắt buộc thống nhất về chính trị trong nước, một cách nào đó, đã khiến, trong một chừng mực nhất định, tạo điều kiện cho sự tiến gần với nhau hơn của văn chương trong mục tiêu giải phóng chữ nghĩa khỏi cái bóng ma chiến tranh quá khứ, trả lại tự do cho văn chương.

Cuộc phiêu lưu của chữ nghĩa, ở đâu cũng vậy, là cuộc đấu tranh của trí nhớ chống lại lãng quên (mượn chữ của Milan Kundera). Chúng ta còn (nên) nhớ gì về nền văn chương chữ quốc ngữ của thế kỷ qua? Hãy thử, như A. S. Byatt, "sắp xếp quá khứ và tương lai" bằng cách thiết lập danh sách, khởi đầu, của 50 tác phẩm lớn của thế kỷ 20 của Việt Nam. Hãy bắt đầu bằng danh sách tác phẩm giả tưởng (fiction) đã xuất bản từ buổi đầu của chữ quốc ngữ cho đến cuối thế kỷ 20 (chấm dứt vào cuối tháng 12 của năm 2000). Hãy bắt đầu bằng danh sách của nhà phê bình văn học Nguyễn Vy Khanh với 50 tác phẩm sau đây mà theo ý của ông là:

 

"Bảng lược kê 50 tác phẩm văn xuôi (tiểu thuyết, truyện ngắn) đánh dấu thế kỷ đầu của văn học chữ quốc ngữ. Đây là một tổng kết có tính cách văn học sử, đặt nặng các yếu tố hiện tượng và thể loại, bao gồm những thẩm định giá trị văn chương trong khuôn khổ xã hội cũng như biến cố chính trị và sinh hoạt văn học nghệ thuật . Sẽ không có ở đây những ấn phẩm từng bán chạy hoặc có giá trị phục vụ cho những mục đích không-văn chương. Ở đây không phân biệt địa phương cũng như biên giới chính trị quốc-cộng."

 

1. Thầy Lazarô Phiền - 1887 Nguyễn Trọng Quản

2. Hoàng Tố Oanh Hàm Oan - 1910 Trần Thiên Trung

3. Ai Làm Được - 1912 Hồ Biểu Chánh

4. Sống Chết Mặc Bây - 1918 Phạm Duy Khiêm

5. Cay Đắng Mùi Đời - 1923 Hồ Biểu Chánh

6. Quả Dưa Đỏ - 1925 Nguyễn Trọng Thuật

7. Tố Tâm - 1925 Hoàng Ngọc Phách

8. Châu Về Hiệp Phố - 1926 Phú Đức

9. Giấc Mộng Lớn - 1929 Tản Đà

10. Hồn Bướm Mơ Tiên - 1933 Khái Hưng

11. Đoạn Tuyệt - 1935 Nhất Linh

12. Gió Đầu Mùa -1937 Thạch Lam

13. Giống Tô - 1937 Vũ Trọng Phụng

14. Số Đỏ - 1938 Vũ Trọng Phụng

15. Bước Đường Cùng - 1938 Nguyễn Công Hoan

16. Những Ngày Thơ Ầu - 1938 Nguyên Hồng

17. Tắt Đèn - 1939 Ngô Tất Tố

18. Trường Đời - 1940 Lê Văn Trương

19. Vang Bóng Một Thời - 1940 Nguyễn Tuân

20. Chí Phèo - 1941 Nam Cao

21. Dế Mèn Phiên Lưu Ký - 1941Tô Hoài

22. Đồng Quê - 1949 Phi Vân

23. Đêm Giã Từ Hà NộI - 1956 Mai Thảo

24. Bếp Lửa - 1957 Thanh Tâm Tuyền

25. Đò Dọc - 1959 Bình Nguyên Lộc

26. Dòng Sông Định Mệnh - 1959 Doãn Quốc Sỹ

27. Mưa Đêm Cuối Năm - 1959 Võ Phiến

28. Hương Rừng Cà Mau - 1960 Sơn Nam

29. Thềm Hoang - 1961 Nhật Tiến

30. Hoa Thiên Lý - 1963 Duyên Anh

31. Yêu - 1963 Chu Tử

32. Thở Dài - 1963 Túy Hồng

33. Cũng Đành - 1963 Dương Nghiễm Mậu

34. Vòng Tay Học Trò - 1966 Nguyễn Thị Hoàng

35. Tượng Đá Sườn Non - 1966 Y Uyên

36. Con Đường - 1967 Nguyễn Đình Toàn

37. Loan Mắt Nhung - 1967 Nguyễn Thụy Long

38. Thần Tháp Rùa - 1973 Vũ Khắc Khoan

39. Nhà Có Cửa Khóa Trái - 1973 Trần Thị NgH

40. Hợp Lưu - 1986 Hồ Trường An

41. Kẻ Đưa Đường - 1986 Võ Kỳ Điền

42. Nụ Cười Tre Trúc - 1987 Kiệt Tấn

43. Thằng Người Có Đuôi - 1987 Thế Giang

44. Ngày N+ - 1988 Hoàng Khởi Phong

45. Tướng Về Hưu - 1988 Nguyễn Huy Thiệp

46. Thiên Sứ - 1989 Phạm Thị Hoài

47. Ngôi Nhà Sau Lưng Văn Miếu - 1990 Trần Vũ

48. Sông Côn Mùa Lũ - 1990 Nguyễn Mộng Giác

49. Hoa Vạn Hạt Cuối Mùa - 1996 Hồ Minh Dũng

50. Đoạn Đường Hốt-Tất-Liệt - 1998 Lâm Chương

 

Nên nhớ đây chỉ là một khởi đầu và danh sách của ông Nguyễn Vy Khanh là một gợi ý. Để đi đến một danh sách thể hiện đầy đủ hơn, toàn diện hơn ý kiến của đa số, chúng ta cần đến một cuộc "trưng cầu dân ý." Để làm được điều này một cách tiện lợi hơn, dễ dàng hơn, xin độc giả hãy vào đây. Độc giả có toàn quyền điền thêm tác phẩm vào danh sách nếu tác phẩm lựa chọn không có sẵn. Nếu không có phương tiện vào liên mạng, độc giả có thể gửi thư riêng về địa chỉ của tạp chí Văn: P.O. Box 611626, San Jose, CA 95161.

 

Thượng Văn

 

Chú Thích:

(1) Hai danh sách đầy đủ của Modern Library: một do ban giám khảo chọn lựa; một do độc giả trưng cầu ý kiến có thể xem ở đây [ vào ]

Không có thì giờ để đọc tất cả 100 quyển sách này, độc giả có thể xem phim. 75 tác phẩm trong danh sách của Modern Library đã được quay thành phim. Có thể tham khảo điều này ở đây [ vào ]

(2) Danh sách đầy đủ ở đây [ vào ]

(3) Danh sách đầy đủ ở đây [ vào ]

(4) Danh sách đầy đủ ở đây [ vào ]

(5) Danh sách đầy đủ ở đây [ vào ]

(6) Trên đây chỉ là một trong nhiều danh sách theo chân Modern Library. Một số danh sách khác ít phổ thông hơn có thể tìm thấy nhiều nơi khác nhau trên Intenet:

    a. Christianity Today [ vào ]

    b. Pratt Library [ vào ]

    c. byGosh.com [ vào ]

(7) Danh sách đầy đủ ở đây [ vào ]

 


Trang chủ đề: Một Thế Kỷ Văn Chương
[ vào ]

 

 

■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■

Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách

Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập