luồng tư
tưởng
nguyễn gia kiểng
sông lô
Chỉ riêng về mặt văn chương thì tác giả Tổ Quốc Ắn Năn đã rất thành công. Cuốn sách, nói cuốn sách cho gọn vì chữ tác phẩm đã mất nhiều ý nghĩa, lôi cuốn từ đầu, thôi thúc người đọc, nếu không vì mỏi mắt và thèm một hơi thuốc lá, phải đi từ chương đầu cho đến hai dòng cuối với tất cả sững sờ và kinh ngạc bởi giọng văn thao thiết và cuộn chảy. Chỉ có hai lỗi nhỏ là tất cả các chữ "sáp nhập" được (hay bị) viết thành "sát nhập" (trừ hai trường hợp viết đúng ở trang 418 và 430). Lỗi thứ hai là dư một chữ "trước" ở trang 574. Sách tiếng Việt hiếm khi có cuốn nào lại ít lỗi đánh máy như vậy. Ngoại trừ hai lỗi trên thì hình thức cuốn sách xấu.
Nhưng Nguyễn Gia Kiểng không làm văn chương.
Một điều cần nói lại dù nhiều người đã nói là ở trang nào cũng có một vấn đề có thể gây tranh luận. Những người thích tranh luận đều có thể giở bất kỳ trang nào hay thậm chí một đoạn nào đó ra để "đánh". Nguyễn Gia Kiểng không khiêu khích nhưng cách đặt vấn đề, lối phân tích, tổng hợp, dẫn chứng, rồi kết luận rất lạ lùng của ông khiến đôi lúc ta ngớ ra và tự hỏi: "Không biết cái thằng cha này tính nói cái gì đây, có bằng cớ gì chăng?"
Quả thật nếu đi tìm những chứng cứ, tức thói quen tìm nguồn tư liệu để kiểm chứng, thì hầu như cả cuốn sách không có, trừ phần ghi chú về tài liệu tham khảo ở đầu sách và rải rác tên vài cuốn sách ở một vài trang trong. Điều này chắc khiến không ít người bực mình vì muốn phản biện hay cãi cho sướng phải tự mình cất công đi tìm tư liệu, là một công việc mất khá nhiều thì giờ và tẻ nhạt. Chỉ riêng điểm này thôi cũng đủ để người khác cho rằng đó là điểm yếu nhất của cuốn sách.
Nhưng đây không phải là điểm yếu của cuốn sách, ngược lại. Chúng ta đã đọc nhiều sách nghiên cứu tiếng Việt, không kể sách nước ngoài, trong đó các tác giả đã trưng dẫn nhiều nguồn tư liệu, có khi nguồn trích dẫn có liệt kê chiếm gần một phần ba số chữ của bài viết. Chúng ta cũng thấy nhiều tác giả viết sách hay bài nghiên cứu thường chua tiếng Anh hay tiếng Pháp với ý làm rõ nghĩa một từ tiếng Việt. Và chúng ta cũng đôi khi thấy những chữ chua thêm đó trật lất, nghĩa là người viết cơ hồ không rõ nghĩa của từ hay khái niệm trong tiếng Anh hay tiếng Pháp nhưng cứ chú thích bừa vào. Tôi đã đọc một cuốn sách về ngữ học của một nhà nghiên cứu nổi tiếng nước ngoài, anh ta giải thích chữ metalanguage bằng cách mở ngoặc đơn và chua tiếng Việt (Ừ, phải) và không giải thích thêm gì cả. Tệ hơn, còn lấy các bài viết nhập môn bằng tiếng Anh và thản nhiên viết qua tiếng Việt coi như đó là khám phá mới mẻ của mình, và tệ hơn hết, được nhiều người tán thưởng.
Những thái độ thiếu lương thiện như thế không phải là ít và cũng không phải là không có cách giải thích. Cách giải thích có lẽ hợp lý và dễ mất lòng hơn cả là: đó là biểu hiện của tinh thần nô lệ đã ăn sâu trong tâm thức những con người thuộc nền văn hóa nông dân, thường dị ứng và đầy mặc cảm với sách vở, cho nên khi tiếp xúc với nền văn hóa không thuộc bản sắc nông dân cũng không thuộc bản chất coi trọng bằng cấp của mình, họ choáng ngợp, ngỡ ngàng vì lóa mắt, rồi vì muốn trút bỏ mặc cảm không cần thiết đó (nông dân thì đã sao), họ trích dẫn, ghi xuất xứ, và làm những động tác có vẻ thuộc thành phần trí thức nhưng thật ra là bất lương, chứ không phải chỉ như Nguyễn Gia Kiểng viết: "chúng ta là một dân tộc không biết đọc, không biết viết, và không biết nói."
Nguyễn Gia Kiểng không có mặc cảm sách vở mà hơn thế nữa, ông tiêu hóa được tất cả những gì mà ông đọc được, biết được, và hiểu được, để sản sinh ra chất liệu của riêng ông, độc đáo. Ta có thể kiểm chứng các lập luận của ông căn cứ trên nhiều nguồn tư liệu để có thể phản bác, bác bỏ hay chấp thuận, hoặc có khi không cả bác bỏ lẫn chấp thuận mà là một vấn đề còn tồn nghi. Thí dụ tác giả nói "Giao Châu là một xã hội Phật Giáo trong khi Trung Quốc là một xã hội Khổng Giáo." Quả có phần đúng, Giao Châu (Bắc Việt Nam) là nơi hội tụ của những thuyền buôn từ Ấn Độ và Trung Quốc, Phật Giáo đến Giao Châu khoảng thế kỷ thứ hai sau Công nguyên với sự hiện diện của các thầy tu nước ngoài. Tuy có thể nói Giao Châu là một xã hội Phật Giáo nhưng ảnh hưởng Phật Giáo ở mức độ nào vào lúc đó lại là một vấn đề tồn nghi. Bởi không lấy gì làm chắc là thuyền buôn Trung Quốc và Ấn Độ đều đến Giao Châu nhưng ảnh hưởng của Phật Giáo lại lớn hơn Khổng Giáo.
Cho nên những điểm tranh luận trong cuốn sách, nếu có (và đã có) thì có lẽ do cách viết có tính khẳng định của ông, chứ không phải do hình thức trình bày không ghi xuất xứ của ông, vì tất cả những khẳng định của tác giả đều căn cứ trên các cứ liệu có thể tìm thấy. Lập luận của Nguyễn Gia Kiểng thông qua cách viết khẳng định. Thí dụ ở trang 163, khi nói về giai đoạn Thiên Chúa Giáo phát triển ở Việt Nam, ông viết: "Quần chúng Việt Nam không còn nhìn các vua chúa như những đại diện của Trời mà họ phải phục tùng vô điều kiện nữa." Chữ "không" của tác giả khẳng định quá, trong khi câu kế đó ông nhận định rất đúng là "bớt sợ".
Nhưng có phải những điểm trích trên là sơ hở của tác giả không. Lần này tôi lại "khẳng định" là không. "Không" nếu chúng ta đọc toàn bộ cuốn sách không phải là để hiểu chữ hay vặn vẹo nghĩa chữ mà để nắm bắt luồng tư tưởng của Nguyễn Gia Kiểng. Ta hãy đọc Tổ Quốc Ăn Năn bằng cách như thế này - một đề nghị rất chủ quan - là nghe một người (Nguyễn Gia Kiểng) đang nói, hay đang thuyết trình, hay đang trả lời một câu hỏi từ hàng thính giả. Nghĩa là ta đang nghe một người đang trình bày luồng tư tưởng của mình trước một cử tọa biết lắng nghe, tốt hơn nữa nếu có thể hình dung người đó đang đứng trước mặt mình, nhìn rõ tay chân, diện mạo, cách diễn đạt, khi nào nghe mệt thì có thể nghỉ giải lao năm mười phút (hết một phần hay một chương sách), trong thời gian nghỉ (ngơi) đó người nghe cứ nghĩ (suy) về phần đã nghe, sau đó lại vào nghe tiếp.
Tôi đã đọc Tổ Quốc Ắn Năn bằng cách nghe như vậy, và luôn luôn cảm thấy hứng thú, cảm thấy bị thuyết phục với lời biện luận hùng hồn, súc tích nhưng đủ thông tin, có khi hơi dư thông tin vì có nhiều lúc luồng tư tưởng của người trình bày lập lại nhiều lần, thí dụ về văn hóa vô tổ quốc của Khổng Giáo, nhưng dù có lập lại, thì mỗi lần lập lại nảy sinh một biện luận mới, làm đà cho một luồng tư tưởng mới, có khi nghe xong rất lấy làm khoái trá.
Khoái trá bởi những câu khẳng định rất đắc cách và đột ngột của người trình bày. Thí dụ: "Nguyễn Huệ xuất thân là một tướng cướp,.". Trong lịch sử Việt Nam chưa nghe ai nói như vậy, dù có thể có người đã nói như thế sau khi Gia Long thống nhất đất nước. Hay "... Đinh Bộ Lĩnh chỉ là một đứa trẻ ngỗ nghịch và vô giáo dục,..." Đây là giọng văn của một nhà hùng biện biết rõ mình đang nói gì sau khi thu tóm dữ liệu, nghiền ngẫm trước khi phân tích, rồi tổng hợp, sau đó mới đi đến những câu "phán" đột ngột không báo trước. Nói nghiền ngẫm rồi phân tích không có gì quá đáng như ta có thể tìm thấy nhiều nhận xét xác đáng, dù không hẵn đã mới lạ, của ông. Chẳng hạn Nguyễn Gia Kiểng nhận xét rằng người Pháp cố gắng phá vỡ giềng mối quốc gia của các nước thuộc địa để thống trị trong khi người Anh thành lập những quốc gia ngay cả những nơi không có quốc gia để có đối tác kinh doanh. Điều này có thể kiểm chứng không cần tư liệu nếu so sánh sự tiến bộ về mặt kinh tế của các nước từng là thuộc địa của Pháp với những nước cựu thuộc địa của Anh.
Đọc bằng cách nghe như vậy chúng ta mới thấy dù có vài chỗ không hoàn toàn thuyết phục nếu chỉ đọc, vì khi đọc người đọc có thì giờ kiểm chứng hay đọc lại, nhưng những chỗ đó khi nghe thì lại rất thuyết phục vì cả một luồng tư tưởng được truyền đi, liên tục, mạch lạc, có những chỗ nhấn mạnh đột ngột vá táo tợn khiến người nghe bàng hoàng vì chưa từng nghe những điều lạ tai như thế dù có thể đã nghĩ tới. Mạch lạc không đồng nghĩa với hợp lý, nó cũng không đồng nghĩa với bất hợp lý, mà chỉ đồng nghĩa với văn tài. Chẳng hạn khi trình bày nguyên tắc tản quyền, Nguyễn Gia Kiểng thao thao bất tuyệt, nhưng vì là một nguyên tắc chưa hề được áp dụng đúng đắn trong suốt lịch sử Việt Nam, cho nên vài chỗ ông trình bày không đề cập đến thực tế dù không có nghĩa là sẽ không áp dụng được. Chẳng hạn ông gợi ý việc chia vùng, mỗi vùng có dân số từ năm đến mười triệu, có nghị viện và guồng máy hành chính riêng. Nguyên tắc hợp lý nhưng với thực trạng nghèo đói của Việt Nam hiện nay, thì cho dù chỉ tính từ khi nước ta là một xã hội dân chủ thực sự đi nữa, cũng khó thực hiện vì phải kể tới yếu tố hạ tầng cơ sở (giao thông, truyền thông.). Làm thế nào để trong cùng một vùng (gồm nhiều tỉnh hiện nay họp lại) việc đi lại không khó khăn và mất thì giờ để một ông nghị viên ở Bình Dương, thí dụ, xuống Vũng Tàu họp không mất nửa ngày đường!
Nhưng tất cả những vấn đề cần đặt ra như vậy đều dứt khoát và hấp dẫn qua luồng tư tưởng của Nguyễn Gia Kiểng. Ông trình bày vấn đề Việt Nam, văn hóa Việt Nam, ý kiến về nhân sinh quan và vũ trụ quan dõng dạc, không quanh co khiến ta không khỏi hình dung hình ảnh một người đứng hiên ngang trước sóng biển và, trước những đôi mắt bất bình.
Ta thấy được tâm tình của người trình bày luồng tư tưởng thẳng thắn của mình bất chấp dư luận. Tất nhiên không phải một con người chỉ cần thẳng thắn và dõng dạc là đủ bảo đảm phẩm chất cho những gì mình nói ra. Thí dụ ông cho rằng Nguyễn Du không có cảm hứng và tư tưởng của chính mình khi viết Đoạn Trường Tân Thanh. Nguyễn Du mượn tư tưởng và cảm hứng của tác giả Trung Quốc. Nhận xét này chỉ đúng một nửa, có lẽ Nguyễn Du không có tư tưởng thật vì phải mượn cốt truyện của tác giả Trung Quốc, nhưng khó nói rằng ông không có cảm hứng. Một người cầm bút khó lòng viết ra những lời xúc động nếu chính tác giả không có cảm hứng. Nguyễn Gia Kiểng chắc không viết nổi Tổ Quốc Ăn Năn nếu ông không có cảm hứng về chuyện nước non, dù đó là cảm hứng dằn vặt, đau khổ, nhục nhã, thất vọng, hy vọng, thao thức hay bùi ngùi. Chúng ta có thể thấy trong nhiều chương sách, tác giả sôi nổi, sắc sảo, khiêu khích người đọc phải suy nghĩ, nhưng cũng có những chương, nhất là những chương cuối, giọng văn trở nên dằn vặt, có chỗ nghẹn ngào, như thể tác giả đang độc thoại (chương Tổ Quốc Ăn Năn), đang nói giùm tâm sự của những con người ngày đêm nhung nhớ non sông:
Tổ quốc bỏ tù và hạ nhục hàng triệu người. Tổ quốc đánh tư sản, tống cổ con cái "ngụy quân, ngụy quyền" ra khỏi trường học và lùa đi vùng kinh tế mới. Tổ quốc khống chế và hăm dọa bằng công an thành, công an tỉnh, công an huyện, công an phường. Biết dân chúng không còn chịu đựng được nữa và muốn bỏ nước ra đi, tổ quốc đứng ra tổ chức vượt biên bán chính thức để lấy tiền chuộc mạng của những người muốn chạy trốn nanh vuốt của mình. Tổ quốc hành động như bọn giặc cướp. Đến khi bị dư luận thế giới lên án dữ dội vì hành động bỉ ổi này, tổ quốc dẹp luôn đợt vượt biên bán chính thức và dĩ nhiên không trả lại tiền. Tổ quốc đểu cáng và lật lọng.
Đối với những người ra đi, tổ quốc là sóng gió, hải tặc, là cái chết trong bụng cá, may mắn hơn là những ngày ê chề trong những trại tập trung trước khi tìm được một quê hương mới. Tổ quốc là một dĩ vãng cần quên đi. Đối với những người ở lại, tổ quốc đổi tiền mấy lần để cướp giật, tổ quốc sách nhiễu từng ngày. Tổ quốc nói trắng cũng được, nói đen cũng xong, cấm rồi lại cho phép, cho phép rồi lại cấm, muốn bắt hay tha tùy ý, người dân chịu đựng hết. Vì tổ quốc có súng. (trang 571).
Tưởng như nghe có tiếng thở dài đâu đó, dù tiếng thở dài rất khẽ, rất ngắn, để rồi lại dồn dập và thao thiết những gọi kêu, đánh thức những con người chỉ muốn quên hết, quên tất cả vì biết là bao dập bầm dang dở quá sức chịu đựng một đời người.
Chữ nghĩa Việt Nam đầy những tiếng than dài, nhưng chưa có tiếng gọi kêu ăn năn. Tổ Quốc Ăn Năn nên là một biểu tượng để trở thành hành động thay thế những tượng đài "Tổ Quốc Ghi Công" đang mọc khắp sáu mươi mốt tỉnh thành đất nước. Không biết có phải đó là ước mơ của Nguyễn Gia Kiểng hay của nhiều người khác, rằng, cần thay thế ngay vì đã quá trễ, những tấm huân chương trơ bày giữa xiết mấy lầm than.
■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■
Nhân Văn |
Tin Văn |
Phỏng Vấn |
Ðiểm Sách |
Ðọc Sách
Thư Viện |
Thư Quán |
Nối Vòng Tay |
Biên Tập