người cùi tản cư
tâm tri


Từ tháng Giêng và tháng Hai năm 2000, các cuộc biểu tình của người Thượng ở cao nguyên Trung phần đã bắt đầu bộc phát ở mức độ nhỏ, có lẽ vì thế mà số phần của các sắc dân thiểu số đã sống mấy ngàn năm ở đó chưa gây được sự chú ý của công luận như hồi đầu năm nay. Một vài tháng sau các cuộc biểu tình này, cũng vào năm ngoái, có thêm một tin ít được chú ý là, "tự nhiên", đâu chừng gần 200 học sinh tiểu học ở Kontum uống nước bị trúng độc. Lúc này chưa xảy ra biến cố 11 tháng 9 ở Nữu Ước nên không ai dám nghi tác giả vụ trúng độc này là do khủng bố. Tất nhiên, nói theo cách nói của người trong nước, thì vụ này "không loại trừ khả năng có bọn xấu bỏ thuốc độc vào nước suối gây thiệt hại về sinh mạng".

Nói chung, ở Việt Nam, trẻ em hay người lớn có trúng độc đều thuộc vào tin nhỏ, người ta dường như cũng không thắc mắc ai là "bọn xấu", và bỏ thuốc độc vào nước uống để làm gì. Nhất là, điều rất đáng không được chú ý, phần lớn các trẻ em bị trúng độc đều là người. Thượng! Đặc biệt hơn, không ai để ý mấy con suối bị nhiễm độc, thường thường, ở gần các trại dành riêng cho. người cùi!

Kontum là tỉnh có dân số người cùi đông nhất Việt Nam. Đông là bao nhiêu thì khó ai biết chính xác vì thống kê Việt Nam không có tên các người cùi. Điều đó không chừng lại dễ giải thích bởi không có một cán bộ thống kê nào lại dại dột đi lạc vào các làng cùi ở rừng sâu để kiểm tra hộ khẩu. Cho nên đứng trên quan điểm chính quyền thì người cùi Việt Nam thuộc thành phần sống bất hợp pháp, vi phạm pháp luật từ trầm trọng đến cực kỳ nghiêm trọng, nghĩa là có thể khép vào tội hình sự (nếu quan tòa không sợ nhìn thấy cùi và đem họ ra xử), còn nhìn theo nhãn quan Hiến pháp (đang được mang ra bàn bạc thêm bớt ở Việt Nam), thì người cùi Việt Nam là thành phần. vi hiến.

Nói tóm lại, người cùi ở Việt Nam đáng lẽ ra không nên bị cùi trên đất Việt Nam, mới phải.

Nhưng dù sao đi nữa thì họ cũng lỡ sinh ra ở đất Việt rồi, dù sao đi nữa họ cũng đã sống trong rừng sâu nước (bị bỏ) độc rồi. Không biết có phải như thế không mà dù bị bỏ rơi trong rừng lạnh, dù không có hộ khẩu và không được tham gia ý kiến để đóng góp vào bản dự thảo hiến pháp, họ vẫn được, ít nhất, một người quan tâm. Người đó là Linh mục Nguyễn Văn Đông, đóng "chốt" ở Sa Thầy để chuyên lo cho người cùi. Linh mục là tu sĩ trẻ tuổi và duy nhất ở đây, năm nay mới 62.

Hồi tháng Tư năm 2001, Tổ chức Quốc tế Internatinal Fides Service phỏng vấn Linh mục, và kể lại một số chuyện về hoạt động của Cha Đông. Công việc thường ngày của Cha Đông là đi bộ nhiều cây số từ làng cùi này qua làng cùi khác để thăm viếng và giúp đỡ những người "sống ngoài vòng pháp luật". Cha Đông kể có một lần một già làng nói với cha: "Bab (người Thượng gọi tu sĩ là "Bab") đừng có sợ chúng con nghèo, vì chúng con nghèo quen rồi."

Câu nói của người Thượng cùi nghe đơn giản. Chúng ta cũng không biết khung cảnh lúc nghe người Thượng già đó nói với Cha Đông như thế nào, trời mưa hay trời nắng, sáng sớm hay chiều tối, sau một bữa cơm chiều hay bên một dòng suối giữa hoàng hôn chóng về nơi rừng sâu. Nhưng có một điều người ta có thể chắc, là khi chọn lựa trong hàng trăm mẫu chuyện về cuộc sống của các người Thượng cùi, Cha Đông lại chọn một câu nói đơn giản để thuật lại. Hẵn lúc ấy Cha phải xúc động lắm, mắt Cha hẵn rưng rưng cảm thương số phần của người Thượng, vốn dĩ đã bị nhiều người không muốn biết tới, mà lại còn bị cùi.

Có khi Cha Đông đi bộ 12 cây số vào rừng sâu đến các làng cùi của người Thượng. Những căn lều của họ che tạm bợ, yếu đến mức khi mùa mưa đến không chịu nổi sức nặng của nước mưa nên thường sụp hay xệ xuống, khi bước vào Cha Đông phải gập mình xuống mới chui vào được bên trong căn lều. Vị Linh mục kể: "Khi thấy tôi, người cùi sung sướng cười những mắt tôi rướm lệ. Họ nghèo và yếu quá nên mỗi khi cho họ một cái gì họ ôm sát vào lòng như sợ ai khác giựt mất, có người hỏi xin một miếng ny-lông thật nhỏ để lót nằm vì nước mưa tràn cả vào trong lều."

Hôm có người hỏi xin miếng ny-lông nhỏ, Cha Đông ngủ lại trong căn lều của người cùi. Trời mưa dầm dã.

Những người Thượng cùi nghèo, và hệ quả "tất yếu lịch sử" là thất học. Cha Đông kể họ chỉ biết đếm tới 100: "Khi cho họ tờ bạc một trăm ngàn đồng, họ tiêu hết 37 ngàn đồng và không biết còn lại bao nhiêu. Nghèo và thất học, họ chỉ sống nhờ vào bất cứ thứ gì người khác cho." Mỗi khi đi thăm làng cùi, Cha Đông mang theo những món chiến lược như nước mắn, ruốc, gạo sấy. Đồ ăn ở Kontum mắc, một ký ruốc giá 20 ngàn đồng, vì vậy khi có dịp đi cha mua ở Phan Thiết giá chỉ 7000 đồng một ký.

Từ những mẫu chuyện nhỏ đó, chúng ta có thể ráp lại thành cuộc đời hoạt động của Cha Đông cho người cùi ở Kontum. Cha đi khắp nơi để xin cho người cùi. Cha Đông nói người Kontum nghèo nhưng tốt bụng, nhất là khi nghe Cha xin "cho Cha thứ gì cũng được, có miếng ny-lông nào không dùng không, có cá khô không."

Như hình ảnh của kẻ lữ hành cô đơn giữa phong ba bão táp, như hình ảnh của người hành khất già lang thang giữa chợ chiều góp nhặt mang về cho bầy con ở núi rừng, như hình ảnh của vị thiền sư chống gậy trúc đi chiêm bái, không chiêm bái tây phương tịnh độ mà chiêm bái những cuộc đời bỏ quên.

Người cùi đã làm một cuộc tỵ nạn trên đất của họ. Điều đó đã xảy ra từ hàng trăm năm. Các cuộc tản cư-tỵ nạn tất không chỉ xảy ra cho riêng người cùi người Thượng ở Việt Nam. Trước Công nguyên lịch sử sống của người cùi là lịch sử của các cuộc ra đi. Nhưng thời gian dường như cũng khiến con người hiểu biết hơn, nghĩa là văn minh hơn, nên những cuộc ra đi của người cùi dần dần bớt lại. Con người đã có thể thông hiểu nhau hơn, ở nhiều nước không còn người cùi, và nếu còn thì họ cũng được đối xử tử tế hoặc ít nhất không phải bỏ làng và bỏ rừng ra đi.

Vậy nhưng vào năm 2001, ngay lúc này đây, người ta lại thấy có những người cùi lại bỏ làng và bỏ rừng, bỏ lại cái nơi vốn dĩ đã bị người ta bỏ và bỏ quên, bỏ lại cái nơi vốn đã bị bỏ, vốn đã xa khuất, để dìu nhau tản cư đến một nơi khác. Họ là những người Thượng cùi ở cao nguyên Trung phần Việt Nam. Người ta đang chứng kiến hàng trăm người Thượng vượt biên giới chạy qua tỉnh Mondolkiri ở Cam Bốt, torng số đó có những người cùi. Một phái đoàn người Mỹ trong đó có ông Rong Nay, đại diện Tổ chức Nhân quyền Sắc tộc Thiểu số, mới đây đã đi thăm trại tỵ nạn người Thượng ở Mondolkiri. Trong số người Thượng chen chúc nhau sống ở đây có 12 người bênh phong, không kể nhiều người bị lao và sốt rét rừng. Phái đoàn không kể là những người bệnh này được chữa trị và săn sóc ra sao nhưng có điều chắc là họ, những người Thượng cùi, lại thêm một lần nữa ra đi.

Chúng ta không có nhiều bằng cớ để biết rõ lý do đã khiến những người cùi đi tỵ nạn. Nhưng chắc chắn không ai phàn nàn khi phải suy luận rằng phải có một cái gì thật khủng khiếp mới khiến những người vốn dĩ đã bị bỏ quên, lại phải dắt díu nhau ra đi. Kinh khiếp hơn nữa điều này không phải xảy ra từ trước Công nguyên hay từ thời vượn sắp sửa bước qua thành người.

Cuộc tản cư của những người chỉ xin có một manh ny-lông để ngủ giữa những cơn mưa rừng mang theo họ thật nhiều ý nghĩa.

Có thể có nhiều người cho là có hơi hướm tâm linh khi cuộc ra đi của người cùi Việt Nam nhắc đến hình ảnh của một vị Thánh sống cách đây gần mười thế kỷ, Thánh Francis. Tự thiếu thời, không hiểu sao ngài mang tâm trạng sợ bị cùi. Ám ảnh này khiến ngài sợ phải va chạm với người cùi. Cho đến một hôm trên đường đi, ngài gặp một người cùi đi ngược hướng. Bỗng nhiên như một tiếng gọi tâm linh nào đó thúc dục, ngài ôm lấy người cùi, và giây phút ấy trở thành một phút giây kỳ diệu nyất khi nỗi sợ hãi biến mất, nỗi sợ hãi biến thành lòng thương cảm số phần những người không được thương yêu. Có nhiều cách giải thích giây phút kỳ diệu khi Thánh Francis ôm người cùi. Có người nói lúc đó người cùi hóa thành chúa Ky Tô. Nhưng có lẽ có một cách hiểu khác ít mang bầu khí tôn giáo hơn, đó là, khi Thánh Francis ôm lấy người cùi và nỗi sợ hãi biến mất, thì chính lúc ấy ngài mới hiểu trọn vẹn nội tâm của mình, rằng chính trong mỗi con người đều chứa sẵn một mầm bệnh nhưng người ta không nhận ra rõ như vậy. Cái mầm bệnh (hay mầm mống) ấy khiến bản năng sợ hãi phải nhìn thấy nó hiện ra trước mặt, khiến người ta sợ phải va chạm nó. Cho nên vào giây phút ôm người cùi vào lòng người ta đã đối diện với chính mình, đối diện với căn sâu cốt tủy của mình, đối diện với bản lai diện mục, và sự trực diện ấy khiến bản năng trực ngộ. Nỗi sợ hãi biến mất. Như thế hành động chạy trốn người cùi cũng chính là chạy trốn bản thân mình. Chạy trốn cũng đồng nghĩa với tỵ nạn, nghĩa là đồng một lúc trong mỗi con người chứa hai phần: vừa là người cùi vừa là người tỵ nạn. Và một người bình thường không thể tự tản cư chính... mình.

Câu chuyện về Thánh Francis nhắc đến hình ảnh của Cha Đông, và hẵn còn nhiều người khác, đang âm thầm đây đó để mang về một tấm ny-lông cũ. Những tấm ny-lông không che hết mưa rừng, nhưng chắc lót được nhiều chỗ nằm nơi xa.

 

Tâm Tri

■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■
Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách
Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập