lâu đài trên nước
lê vũ thúy ái


Theo dòng sóng nhấp nhô đến Veytaux - Montreaux một ngày mưa lâm râm, sức hút Chillon được tôi chọn gọi " lâu đài trên nước " – Nó đã dựng hình vào thế kỷ 9, xây hào chung quanh đối mặt huyết lộ – Trở ngại vì núi rừng hiểm trở thêm gío táp vụt sóng tràn quanh nên lâu đài chỉ bắt đầu khởi công và hoàn tất trong hai thế kỷ 11 và 13. Đến những năm 1800 Chillon được dùng cho việc thu thuế dân buôn qua Ý ( vì phải theo đường núi vượt dãy GranđSaint Bernard ).

Kiến trúc gom tụ hình khối. Tháp trụ hai đầu cổng xoáy vòng, khom tròn lên cao theo trôn ốc. Nội thất khoáng rộng, bày biện tỉ mỉ – Từ xa, Chillon sừng sửng, ù lì và đe dọa – Lên cao, ngắm Chillon củ kỷ với Aula Nova chia góc cạnh bỏ ngỏ vườn – sân. Xưa cho lễ hội nay thành nơi trưng bày di vật đủ thán công tạo vẽ khéo – đẹp của bảy tám trăm năm về trước.

Trọn thế kỷ 15, Chillon trở thành khám đường lịch sử – Cũng từ đó Jean Jacque Rousseau, Victor Hugo, Shelly, Alexandre Dumas, Gustave Courbet, William Turner, James Cockburn... đã từng đem "cái khám lớn trên nước" này vào trong tác phẩm của mình. Riêng thi hào Byron hơn hai trăm năm vẫn tỉ tê với tôi, với đời những dòng thơ tù thống thiết.

Nhà thơ quan sát và tả chân nơi " đi dể khó về " thời Trung Cổ trong đoạn thứ tư,

    Lake Leman lies by Chillon's walls:
    A thousand feet in depth below
    Its massy waters meet and flow;
    Below the surface of the lake
    The dark vault lies wherein we lay :

Nhập thống khổ, khiếp đảm của tù nhân trong tầng hầm lạnh băng ngộp tối, Byron đặt ngay vào 4 dòng đầu tiên đoạn 1

    My hair is grey, but not with years,
        Nor grew it white
        In a single night,
    As men's have grown from sudden fears:

Ông thành công vì đã dấy động nghi ngờ để kẻ tìm đọc tự vấn " trong đám tù kia chắc phải có những người còn rất trẻ?"

    Because I could have smiled to see
    The death that would have set me free  

và... có thật người tù nào cũng mang trọng tội ? Họ hối hận hay thản nhiên chờ ân huệ ?

Cũng trong đoạn 4, Byron rủ người trong vô vọng, căng thẳng vì dằng dặc những phủ chụp

    We heard it ripple night and day;
    Sounding o'er our heads it knock'd;
    And I have felt the winter's spray
    Wash through the bars when winds were high
    And wanton in the happy sky;
        And then the very rock hath rock'd,
        And I have felt it shake, unshock'd,

Tôi bước qua cánh cổng kiên cố. Trong lâu đài, nền lát đá trộn nhỏ xám xanh hằn hộc – Rường cột bằng gỗ ám khói vô tình. Nóc lợp ngói đỏ dạng vảy cá, phủ rêu cao nhọn. Rẽ trái, khom lưng vào khoang gổ hẹp không tay vịn, đo khít đôi vai người dẫn xuống ngục tối Bonivard. Từ sự chết, ba thế kỷ sau Byron đã thay các oan hồn tả oán bằng cách khắc tên mình theo lối graffito ở 1 trên 7 chiếc cột đó.

    There are seven pillars of Gothic mould,
    In Chillon's dungeons deep and old,
    There are seven columns, massy and grey,
    Dim with a dull imprison'd ray,
    A sunbeam which hath lost its way

Đoạn thư tám là lúc người tù nói vào đôi tay mình :

    A little talk of better days,
    A little hope my own to raise,
    For I was sunk in silence-lost
    I call'd, and thought I heard a sound
    I burst my chain with one strong bound,
    And rushed to him:-I found him not,
    I only stirred in this black spot,
    I only lived, I only drew
    What next befell me then and there
    I know not well-I never knew-

Vòm âm u cách đất, xa trời, chỉ độc những chấn song sắt như móng tử thần trên lưng sóng dữ. Xa hút và sâu thẳm – Tuyệt lộ – Từng khoảng trũng mài mòn - dấu chà lếch của tội nhân. Dọc bờ tường còn hằn mấu cùm sắt. Gộp đá nhô ra vài nơi theo ánh sáng yếu ớt từ lổ tò vò tầng một ( có kẻ cay đắng bảo đó là "gối ôm" của người tù sau những lần bị khảo tra ). Len đến tận khoang cuối, nơi xử hình, tôi nghẹt thở, lại nhớ Byron.

    There were no stars, no earth, no time,
    No check, no change, no good, no crime
    But silence, and a stirless breath
    Which neither was of life nor death;
    A sea of stagnant idleness,
    Blind, boundless, mute, and motionless!

Ứ đọng và dở sống dở chết tựa vòng gai trên thập tự giá.

Bài thơ chia 10 đoạn, dài hơn 400 dòng. Đọc - đọc lại, tôi phục Byron không từng bị bắt giam trong hầm tối Chillon nhưng lại xỏ vừa khít chiếc áo tù với bộ cùm oan nghiệt.

    It might be months, or years, or days-
    I kept no count, I took no note-
    I had no hope my eyes to raise,
    And clear them of their dreary mote;
    At last men came to set me free;
    I learn'd to love despair.
    And thus when they appear'd at last,
    And all my bonds aside were cast,
    These heavy walls to me had grown

Suốt dần lên tầng thứ ba, mườ i sáu cột đá hoa cương đen tuyền ngạo nghễ trong các đại sảnh. Cửa sổ vẽ hoa rộng mở. Xa xa bóng chân đồi Alpine và hồ Geneva bọc hút tầm mắt. Những dã y bàn ăn nối liền sàn nhạc công. Phòng bàn thảo có rào vũ khí lẫm liệt giương oai cạnh chiếc ghế uy nghi phủ nhung xanh biển thêu tước vị với tua vàng nút tím chạm sàn bóng sạch – Kho báu vật phủ trướng đỏ to rổng. Qua hành lang mời chào theo nghi thức là phòng nghỉ của khách. Tưởng lại hai tầng hầm tối tôi vừa xem qua, thầm trách" đã từng chia nhau một lâu đài, nhưng... kẻ uống rượu người uống nước mắt."

    A hermitage - and all my own!
    And half I felt as they were come
    To tear me from a second home

Tầng lại một tầng, lối quanh hẹp dần cuốn vòng, tôi biết mình đã chạm nơi phòng thủ quan trọng nhất của lâu đài. Tường xây hình tròn với 8 ô vuông chia đều nhìn ra bốn hướng. Năm bậc thang cuối độc một lối lên xuống đụng trần, đỉnh tháp chót vót nhìn ra hướng bắc.

Như một khối nâu xám khổng lồ Chillon dựa lưng vào núi cao lài dần xuống chân hồ. Mây tiếp mây qua, trắng loãng chập chùng. Nhìn xuống, hào sâu và chiếc cầu treo lởn vởn " bóng ma " canh phòng nghiêm nhặt. Khám lớn của thế kỷ 15 được trời nước giữ chặt không rời. Nếu như ban ngày tù nhân mơ viễn ảnh tự do như những con thiên nga nhẹ nhàng trên sóng thì đêm đồng lõa với họ (lúc);

    Had seen the mice by moonlight play,
    And why should I feel less than they?
    My very chains and I grew friends,
    So much a long communion tends
    To make us what we are:- even I
    Regain'd my freedom with a sigh.

Hẳn là thi hào, có trí thông minh và tính rắc rối như Byron nên mới chấm dứt bài thơ, " Regain'd my freedom with a sigh." – Theo thuyết hoài nghi, Ông mớm ý cho tôi hỏi ngược lại mình " Is the sigh one of relief or regret ? "

Lê Vũ Thúy Ái
Canada 

 

■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■
Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách
Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập