Picasso - Don Quixote

100 năm ngày sinh karl popper
và bài học của thế kỷ trước

thượng văn

 

 

Ngày 28 tháng Bảy vừa qua là ngày kỷ niệm 100 ngày sinh của triết gia Karl Popper. Trong dịp kỷ niệm này Đại học Canterburry ở Tân Tây Lan, phân khoa triết học, đã tổ chức một buổi hội thảo về tư tưởng của Karl Popper. Diễn giả trong buổi hội thảo này là các giáo sư đại học, (một số từng là học trò của ông) trong số này có Alan Chalmers, Peter Munz, Alan Musrave, Anthony O'Hear, Alan Ryan... Cũng trong dịp này Học Viện Karl Popper ở Vienna, nơi ông sinh ra, cũng thực hiện một hội nghị vinh danh con người và tác phẩm của ông. Buổi lễ khai mạc của hội nghị này vào ngày 3 tháng Bảy có sự hiện diện của tổng thống Áo Thomas Klestil, cựu thủ tướng Tây Đức Helmut Schmidt và cựu tổng thống Bồ Đào Nha Mario Soares bên cạnh nhiều tên tuổi khác trên khắp thế giới. Gần đây, tạp chí National Review xếp tác phẩm The Open Society anh Its Enemies (Routledge, 1945) của ông vào hàng thứ sáu trong danh sách 100 tác phẩm phi giả tưởng quan trọng nhất của thế kỷ XX.

 

Karl Popper, ông là ai?

Karl Raimund Popper sinh ngàỳ 28 tháng Bảy, 1902 tại Vienna. Thủ đô của nước Áo vào thời đó được coi là trung tâm văn hóa của thế giới Tây phương. Cha mẹ ông, gốc Do Thái, đã mang ông vào thế giới của sách vở và âm nhạc ngay từ thời thơ ấu. Cha ông vốn là một luật sư nhưng quan tâm rất nhiều đến văn học cổ điển và triết học và vẫn thường mang những vấn đề xã hội và chính trị ra bàn với con. Mẹ ông là người mang đến cho ông lòng say mê âm nhạc. Điều này khiến cho ông có thời đã nghĩ đến việc chọn âm nhạc như một nghề nghiệp. Năm 1919 đánh dấu một năm quan trọng nhất trong việc hình thành đời sống tinh thần của Karl Popper. Đó là năm ông can dự vào các hoạt động chính trị tả phái. Ông gia nhập Hiệp Hội Học Sinh Xã Hội Chủ Nghĩa (Association of Socialist School Students) và trở thành một nhà mác-xít. Nhưng chỉ ít lâu sau, ông mất ảo tưởng về thực tế lẫn lý thuyết cộng sản.

 

Karl Popper lấy bằng cấp dạy tiểu học năm 1925, lấy Ph. D. về triết năm 1928 và được cấp bằng dạy toán và vật lý bậc trung học vào năm 1929. Tác phẩm đầu tiên của ông, quyển Logik der Forschung (The Logic of Scientific Discovery, ấn bản tiếng Anh) ra đời năm 1934 đã tạo được sự lưu ý ở ngoài dự kiến của tác giả. Ông được mời đến Anh thuyết giảng năm 1935. Chủ nghĩa phát-xít ra đời và ngự trị ở Đức và Áo thời đó đã khiến cho nhiều trí thức gốc Do Thái như ông phải rời bỏ xứ sở. Ông đảm nhận việc giảng dạy triết học tại Đại học Canterburry ở Tân Tây Lan từ năm 1937 và ở lại đó cho đến hết chiến tranh thế giới thứ hai. Ông trở lại Anh năm 1946, dạy học tại trường London School of Economics và sau đó trở thành giáo sư môn phương pháp luận về khoa học và luận lý ở Đại học London từ năm 1949. Ông được phong tước Hiệp sĩ năm 1965 và về hưu năm 1969.

 

Bài học của thế kỷ hai mươi

Karl Popper mất năm 1994, để lại rất nhiều tác phẩm. Ông thường được nhắc nhở nhiều nhất qua những tác phẩm này: The Logic of Scientific Discovery, Open Society anh Its Enemies, The Poverty of Historicism. (1)

 

Tác phẩm Lesson of This Century (Routledge, 2000) là một tập sách mỏng, 96 trang. Tác phẩm ghi lại nội dung các cuộc phỏng vấn Karl Popper do Giancarlo Bosetti thực hiện trong năm 1991 và 1993. Sách còn in hai bài tiểu luận của Karl Popper ở phần cuối và phần giới thiệu của Bosetti trong những trang đầu.

 

Tuy chỉ là một tập sách không đến 100 trang nhưng những điều được Karl Popper nói ra, qua sự dẫn dắt khéo léo của người phỏng vấn, có thể coi là một tác phẩm tổng hợp và rút gọn toàn bộ quan điểm, nhận định của ông về những vấn đề quan trọng nhất của thế kỷ qua. Tập sách không phải chỉ nói lại điều đã nói, mà còn là nói rõ thêm, nói tiếp, nói lời sau cùng.

 

Karl Popper là người chứng kiến trong cuộc đời mình sự phát sinh, sự hùng mạnh cũng như sự sụp đổ chẳng những trên lãnh vực quyền lực chính trị mà còn cả quyền lực tinh thần của hai thái cực tả và hữu trên thế giới: chủ nghĩa phát-xít và chủ nghĩa cộng sản. Ông không chứng kiến như một kẻ qua đường, ông tham dự vào thế giới đó bằng sự tỉnh táo và không bao giờ mất đi sự độc lập của mình.

 

Karl Popper nhìn vấn đề khởi đi từ nhãn quan khoa học. Ông phê phán dựa vào quan niệm một triết lý về khoa học khác những người đi trước. Ông sinh ra và lớn lên trong thế giới Vienna, nơi có khuynh hướng áp dụng mọi nguyên lý của khoa học vào tư tưởng con người, vào những lãnh vực khác, ngoài khoa học. Trong bài viết The Porcupine (The New Yorker, số 1 tháng Tư, 2002), Adam Gopnik tóm tắt khái niệm về khoa học theo Karl Popper là, "Khoa học không phải là tên gọi của tri thức được chứng minh đúng; đó chỉ là tên gọi phỏng đoán có thể được chứng minh sai." Điều này trở thành mẩu chuyện được nhắc đến: nếu có định luật "Mọi con thiên nga đều màu trắng" người ta có thể bỏ ra cả nhiều thế kỷ để đi tìm và đếm những con thiên nga này nhưng vẫn không thể nào biết được, một cách chắc chắn, có phải thiên nga tất phải trắng hay không.

 

Khi tri thức khoa họa là điều chưa được chứng minh sai, việc ứng dụng phương thức nghiên cứu khoa học vào đời sống xã hội trở thành mục tiêu tấn công của Karl Popper vào chủ nghĩa lịch sử định hướng (historicism, ông phân biệt với historism, chủ nghĩa duy sử). Bài học của thế kỷ XX là bài học của những người tưởng rằng có thể nhìn thấy được tương lai. Ông nói, "Nhưng lý do nào khiến cho nghệ thuật suy tàn toàn diện? Tại vì mọi nghệ sĩ nghe rằng các nhà lịch sử định hướng tiên đoán về tương lai và thay vì cố gắng sáng tạo tác phẩm hay, họ tập trung vào việc trở thành lãnh tụ của tương lai." Ông chế nhạo, "Hãy thử nhìn Marx. Ông ta nghĩ rằng mọi máy móc trong tương lai sẽ chạy bằng hơi nước, và chúng càng ngày sẽ càng lớn hơn. Những thứ như ngay cả cái dao cạo râu điện của tôi, ông ta cũng không thể nào tưởng tượng ra được." (Lesson, tr. 41). Chống lại chủ nghĩa lịch sử định hướng cũng là việc làm của Albert Camus trong tác phẩm L'Homme Révolté. Camus lên án thái độ kêu gọi đến tiếng nói "Lịch Sử" để biện minh cho dấn thân và lãnh đạm trước cái giá mà nhân loại phải trả cho lựa chọn chính trị cấp tiến của trí thức Pháp đương thời. Trước đó, Raymond Aron trong Introduction à la philosophie de l'histoire (xuất bản đầu tiên 1938) đã phân tích những sai lầm và phiến diện của của nghĩa lịch sử định hướng này.

 

Cái cậu bé Karl Popper 15 tuổi trước hết bị thu hút vì những bài diễn văn của các lãnh tụ của Cách mạng tháng Mười Nga, nhất là của Trotsky, đã khiến cậu hướng về chủ nghĩa cộng sản. Năm 1919, cậu đến văn phòng của Đảng Cộng sản xin phục vụ như một cậu bé chạy việc. Cũng chính từ trong hoạt động cậu khám phá ra mặt trái của con người cộng sản thật ở đó. Cậu thất vọng và bắt đầu nghiên cứu Marx, khởi đầu bằng cuốn Tư Bản Luận. Con đường Karl Popper đi qua cũng là con đường của nhiều trí thức Tây phương khác trải qua, của những André Gide, Richard Wright, Ignazio Silone, Stephen Spender, Arthur Koestler, Louis Fisher... Cuộc hành trình đi về phía chủ nghĩa cộng sản rồi quay về đó tuy có khác nhau về nguyên nhân nhưng dường như cũng cùng một nguyên nhân đó đã khiến người ta quay trở về.

 

Điều Karl Popper khám phá sau khi quyển Open Society anh Its Enemies ra đời là "chủ nghĩa tư bản như Marx mô tả không bao giờ hiện hữu." (Lesson, tr. 20). Những điều Marx gọi là khám phá, như mọi người có khám phá khác của bất cứ ai, đều có khuynh hướng được cường điệu một cách thái quá. "Ông ta tin rằng kinh tế nắm vai trò quan trọng hàng đầu, và đây chắc chắn là điều sai lầm." (Lesson, tr. 21). Chủ nghĩa cộng sản không phải chỉ là thất bại về mặt tư tưởng của chủ nghĩa lịch sử định hướng. Thực tế cộng sản đi ngay từ sách vở của Marx đã chứng minh cho việc thực hiện lý thuyết này về sau với ít nhiều đổi thay và cường điệu nhưng trên căn bản không thay đổi: sau khi xã hội cũ sụp đổ là một giai cấp thống trị mới ra đời. (Lesson, tr. 2). Tiếng nói của Karl Popper cũng là kết luận khác từ Nam Tư, từ Milovan Djilas. Cái chết thật sự của chế độ cộng sản không phải ở cuối thập niên 80. Cái chết trước của chế độ theo Karl Popper là từ cuộc khủng hoảng ở Cuba năm 1962. "Theo quan điểm tôi, Liên Sô đã thua cuộc chiến tranh lạnh ngay thời điểm đó..." (Lesson, tr. 22)

 

Chế độ cộng sản sụp đổ nhưng không phải vì vậy, chế độ dân chủ không có vấn đề của nó. Từ xưa, chế độ dân chủ của Athens đã từng gây ra tội ác diệt chủng ở Melos dù không bị khiêu khích. Tất cả đàn ông trên hòn đảo đều bị giết, còn đàn bà và trẻ con bị bán làm nô lệ. Bản án dành cho Socrates cũng là một việc làm không chính đáng của nền dân chủ ở Athens. Theo Karl Popper, "Điểm chính yếu của dân chủ là tránh độc tài, hay một cách khác, tránh mất tự do, tránh hình thức cai trị không dựa vào luật pháp." (Lesson, tr. 43). Ông nghiên cứu khái niệm dân chủ từ Hy Lạp, từ Plato hay đúng hơn từ vấn nạn không đúng của Plato, hay từ sự dẫn giải Socrates sai lầm theo Plato. Câu hỏi "Ai cai trị?" được Plato trả lời là "các vua - triết gia" và từ đó về sau, nhiều người đã đi tìm một câu trả lời khác. Tới Marx, câu trả lời là "giai cấp vô sản." "Ai cai trị?" là sai lầm căn bản của triết lý chính trị Plato. Câu hỏi đúng theo Karl Popper không phải là "ai" mà "như thế nào." Theo ông, người Hy Lạp khi đặt ra từ "dân chủ" họ không quan niệm đây là sự cai trị của dân mà là phòng ngừa hiểm họa độc tài. Bởi thế họ đã thực hiện trong khoảng tám mươi năm chính sách lưu xứ (ostracism). Chính sách lưu xứ này nhằm tống khứ những kẻ có khả năng trở thành độc tài ra khỏi nước để tránh họa mất dân chủ. Điểm then chốt vì vậy, theo Karl Popper là làm cách nào có thể lật đổ được chính quyền mà không xảy ra đổ máu. Từ Thommas Hobbes, Immanuel Kant, đến Wilhelm Von Humboldt, John Stuart Mill, quan niệm về một nhà nước tối đa hay tối thiểu đã được nói đến. Karl Popper đứng về chủ trương nhà nước tối thiểu (mini-state đối với paternalist state. Lesson, tr. 75). Ông cũng không quên nói thêm về quan niệm dân chủ theo đa số. Đa số không có nghĩa là không mắc phải sai lầm. Ông nhắc chúng ta, Hitler lên cầm quyền với 90% số phiếu bầu. Dân chủ đòi hỏi đến tự do. Karl Popper hiểu tự do như khả năng "ngăn ngừa nhà nước thâm lạm quyền hành nhưng chúng ta cũng cần nhà nước để ngăn ngừa việc thâm lạm tự do." (Lesson, tr. 73)

 

Một trong những lý luận thú vị khác về dân chủ của Karl Popper nằm ở mối liên hệ giữa văn học, khoa học với dân chủ. Ở Athens một thị trường tự do về sách vở bắt đầu hiện hữu kể từ khoảng năm 530 BC. Văn hóa phát triển cường thịnh ở Athens vào thế kỷ thứ năm trước công nguyên là nhờ vào sự phát minh ra thị trường sách này. Sự thắng lợi của Athens chống lại sự xâm lăng của đế quốc Ba Tư bên ngoài sự thắng lợi của nền dân chủ trẻ của họ còn là sự thắng lợi của di sản văn hóa, giáo dục tìm thấy trong nghệ thuật và thi ca (Lesson, tr. 66-67).

 

Con người và tư tưởng

Theo Karl Popper, xã hội cởi mở (open society) là xã hội chấp nhận phê phán, là xã hội đặt con người trước một tương lai rộng mở (open future). Con người của lý thuyết open society đó không dễ chấp nhận phê phán. Alan Chalmers, giáo sư triết lý về khoa học của Đại học Flinders ở Úc, người từng tham dự nhiều khóa hội thảo do Karl Popper chủ tọa, cho rằng ông "rất khó" chấp nhận bất cứ phê phán nào. Điều này cũng được giáo sư Peter Munz (Đại học Victoria, Wellington), nguyên là học trò của Karl Popper, đồng ý. Ông nhớ lại trong học đường, "người ta vẫn đùa với nhau về xã hội cởi mở và kẻ thù của xã hội này: Karl Popper." (2)

 

Nói chuyện với Adam Gonik, Karl Popper cho rằng ngày nay không còn triết gia nữa (một cách nói khác mọi vấn đề triết học đã giải quyết xong) chỉ còn các giáo sư đại học lo nghĩ về chữ nghĩa (đi tìm ý nghĩa của chữ, chẽ chữ ra làm tư). Gonik cũng nhìn nhận Karl Popper rất khó thuyết phục. Gonik viết, "Chúng ta viết những gì khác hơn chúng ta." và nghĩ "triết học của Popper đã giải thích mọi chuyện, ngoại trừ Popper."

 

Thượng Văn

 

Chú thích:

(*) Lesson of this century, Karl Popper. Routledge, New York, 2000.

(1) Một danh sách đầy đủ nhất của Karl Popper có thể tìm thấy trên trang mạng của The Japan Popper Society do Makoto Kogawara và Yoshihisa Hagiwara sưu tập. [ xem ]

(2) David Cohen, Givingg Karl Popper His Propers. The Chronicle Of Higher Education, số ngày 26 tháng Bảy, 2002. [ xem ]

 

 

■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■

Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách

Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập