vấn đề con người
trong chiến lược kinh tế quốc gia
nguyễn hữu liêm


Khi nhìn về vấn đề phát triển kinh tế Việt Nam, vấn đề con nguời Việt Nam thuờng chưa được chú trọng hay hiểu rõ đúng mức. Chúng ta không thể bỏ qua vấn đề con nguời kinh tế khi nó là yếu tố gần như là quyết định cho sự thành bại của mọi chính sách phát triển kinh tế quốc gia. Yếu tố con người mà tôi muốn nói đến không những chỉ là cái vế nhân sự trong một phương án phát triển kinh tế thuần chuyên môn. Giữa các biến số quy hoạch của các phương án phát triển kinh tế, yếu tố con người Việt Nam đóng vai trò và tầm quan trọng như thế nào? Chúng ta có thể nhận diện được cá thể kinh tế Việt Nam là ai? Những khả năng kinh tế và đạo đức cá nhân có liên hệ như thế nào cho cơ đồ phát triển kinh tế quốc gia? Vậy khi hoạch định chính sách phát triển kinh tế quốc gia, chúng ta phải phân định và đánh giá vai trò con nguời kinh tế Việt Nam. Nhưng theo phương pháp nào? Họ là một biến số trung hòa hay quyết định trong phương trình quy hoạch? Từ một cơ bản lượng định tương đối vững chắc và chính xác, chúng ta có thể quy hoạch những phương án khả thi nhằm huy động được nguồn vốn nhân sự to lớn và tài năng, tinh hoa của dân tộc cho chiến lược phát triển kinh tế quốc gia.

Phẩm chất cần thiết của một con người kinh tế mang những yếu tính khác biệt và vượt qua những phẩm chất con nguời trên nhiều phương diện khác. Bài viết này nhằm vào việc phân tích con người Việt Nam thuần về phương diện kinh tế. Dĩ nhiên là biên giới phân biệt giữa kinh tế và các lãnh vực khác thường thì không được rõ ràng phân định. Nhưng chúng tôi cố gắng đặt vấn đề. Chúng tôi sẽ đặt vấn đề từ con người kinh tế Việt Nam đối với những biến số căn bản cho quốc sách phát triển kinh tế Việt Nam, tương quan giữa con nguời và định chế, nhất là vai trò luật pháp và hành vi kinh tế, để đưa ra những đề nghị chiến lược vĩ mô liên quan đến trọng tâm nhân sự kinh tế quốc gia.

 

I. Con Người Kinh Tế Việt Nam

Truớc hết, chiến lược kinh tế quốc gia không thể tách rời khỏi biên độ khả thi của con người kinh tế liên hệ. Bao trùm và nằm sâu trong mọi yếu tố cơ cấu, tài nguyên, định chế và chính sách là những cá nhân thực thi và theo đuổi và sinh hoạt kinh tế. Bởi vậy, một phương án phát triển khả thi phải trả lời rõ ràng là phương án này dành cho khối nhân sự nào thực thi nó và thành phần nào sẽ tham dự và sẽ có ảnh hưởng nào trong khả năng thành công. Vấn đề nhân sự ở đây không chỉ dừng lại ở số lượng, khả năng chuyên môn, kinh nghiệm hay quá trình đào tạo. Chúng tôi muốn nhấn mạnh đến phẩm chất đạo đức kinh tế của con người Việt Nam.

Một vài yếu tố căn bản đã làm cho các nhà hoạch định chính sách kinh tế Việt Nam cho đến hôm nay không đem yếu tố con người vào phương trình chính sách. Thứ nhất là sự lãng quên từ một giả định chính sách căn bản: con người kinh tế Việt Nam là một biến số tổng quát và phổ biến. Khi nhà quy hoạch và quyết định chính sách là người Việt, họ tự nghĩ rằng mình đã hiểu rõ con người kinh tế Việt Nam để rồi họ không có chủ ý khách thể hóa yếu tố này thành một đối tượng phân tích khách quan. Và nếu có, thì vấn đề con người kinh tế Việt Nam cũng không được đánh giá đúng mức về phẩm chất đạo đức đặc thù của họ. Từ đó, các chính sách bước tới một tầm mức giả định khác: nếu chính sách này khả thi cho một quốc gia khác - ngoài những biến số chính sách khác giống nhau - thì nó sẽ khả thi cho Việt Nam. Đây là lúc mà những giả định chính sách này phải được cứu xét lại.

Nhưng dĩ nhiên là câu hỏi phải được đặt ra ở đây: Thực sự có một con người kinh tế Việt Nam hiện nay - trên phương diện đạo đức kinh tế - khác biệt với những con người kinh tế thế giới không? Câu trả lời, theo chúng tôi nghĩ, là có. Con người Việt Nam mang một mẫu số chung đạo đức kinh tế rất là khác biệt và đặc thù.

Thứ nhất, về mặt tích cực. Chúng ta ai cũng biết, hay tin, rằng, cũng như các dân tộc khác, về mặt kinh tế, người Việt là thông minh và nhanh nhẹn. Cái thông minh của họ có một nét riêng: tính linh động và thích ứng rất cao. Nói theo các cụ ngày xưa thì bản chất người Việt là tính "thủy" - tùy vào thể dạng của bối cảnh mà họ đáp ứng, một cách tự nhiên, ngay cả thay đổi tự chính mình. Đây là một khả năng ưu điểm trong một thời đại mà bản chất kinh tế thay đổi với một tốc độ quá nhanh vốn đòi hỏi một mức độ đáp ứng và linh động cao. Nếu phải di cư đến một hoàn cảnh kinh tế hoàn toàn mới lạ thì nguời Việt là một sắc dân di cư kiểu mẫu. Điều này đã được xác nhận trên thế giới trong vòng mấy thập niên qua. Tính bảo thủ và cố chấp của họ chỉ được thể hiện khi nào mà quyền lợi vật chất và quyền hạn quan yếu của họ sẽ bị đe dọa trầm trọng nếu phải linh động đáp ứng. Nói chung, con người kinh tế Việt Nam không sợ đổi thay về hoàn cảnh và quy luật kinh tế. Trong khả năng đáp ứng này, họ học hỏi kỹ năng kinh doanh mới nhanh chóng, không những về lãnh vực thuần chuyên môn, hay quy chế, chiến thuật mà còn có khả năng sáng tạo những ngõ ngách tiếp thị, khai phá những tiềm năng thị trường mới, những phương sách đốt giai đoạn để đạt được chỉ tiêu kinh doanh.

Những khả năng linh động và thông minh này, mặc dù là quan trọng nhưng không phải là chủ yếu và chúng cần phải đặt nền tảng trên những đức tính tích cực cần thiết. Và đối với con người kinh tế Việt Nam, tuy nhiên, đây chính là vấn nạn lớn. Sau nhiều kinh nghiệm, suy tưởng, chúng tôi phải mạnh dạn nói rằng: con người kinh tế Việt Nam, từ cá nhân đến xã hội, chưa có một nền tảng đạo đức kinh tế cần thiết. Đây là một sự thật đau lòng mà chúng ta thường tránh né khi bàn thảo công khai, mặc dù chúng ta thầm biết đến từ trong mỗi con người Việt Nam khi suy nghĩ đến vấn đề này. Nay đã đến lúc mà chúng ta hãy can đảm nhìn kỹ vào những khuyết điểm đạo đức và phẩm chất của con người kinh tế Việt Nam nhằm khách quan hóa chúng thành những đối tượng nghiên cứu, phân tích, suy tưởng. Như vậy thì những quy hoạch chiến lược phát triển kinh tế quốc gia mới mang nhiều xác suất thành đạt cao hơn.

Trước hết, con người kinh tế Việt Nam không chắc mãn với chính mình. Họ thiếu cái cảm nhận trực giác ta là ai. Người Việt bị chao đảo từ cái bản sắc cá nhân. Họ không hẵn là một mẫu người tập thể như người Nhật Bản hay người Đức, không phải là mẫu người gia đình như người Ý, không phải là mẫu người dân tộc như người Hoa, tôn giáo như người Ả Rập, bộ lạc như người Phi Châu, hay là cá nhân như người Mỹ. Khi nói về dân tộc tính của người Việt thì năng lực này thường được thể diện một cách tiêu cực chứ không phải là từ một bản sắc tích cực: tự ái dân tộc nhiều hơn là hãnh diện chủ động, phản ứng khi bị vi phạm nặng nề hơn là phát huy cái tiềm tăng dân tộc tính hướng thượng. Vì thế, lịch sử Việt Nam là một chuỗi dài đánh đuổi ngoại xâm nhưng không tránh được nội loạn. Mà phần lớn những trường hợp ngoại xâm cũng bắt nguồn từ sự yếu kém, phân hóa trong nội bộ dân tộc để tạo nên những nguyên nhân can thiệp bởi ngoại bang. Con người Việt Nam là những cá thể không yên, mỗi người là một bãi chiến thường trực tự trong nội tâm, dằn vặt liên miên bởi những năng lực thiện, ác, tốt, xấu trái nghịch và mâu thuẫn lẫn nhau. Nói chung, con nguời Việt Nam, khi bước vào lãnh vực kinh tế, là những cá thể bất an. Hành vi kinh tế của doanh nhân Việt, vì thế, phần lớn phát xuất từ sự phản ứng, tâm lý sợ hãi, hơn là đặt nền tảng trên nguyên tắc và lý tính của những cá thể chắc mãn với chính mình.

Nếu truyền thống kinh tế học Tây phương định nghĩa con người kinh tế là một "rational maximizer" thì con người kinh tế Việt là những "irrational maximizer." Họ làm ăn liều lĩnh, bước vào những lãnh vực kinh doanh mà xác suất thành công rất thấp, dám làm những điều phi pháp nguy hiểm đến tương lai sự nghiệp của cá nhân, gia đình và công ty. Họ mang máu cờ bạc vào thương trường. Có nhiều giám đốc kinh doanh lớn hành động theo tinh thần chiến tranh hơn là kinh tế hòa bình: hi sinh chính mình để cứu đời sau. Họ biển thủ, lường gạt, chấp nhận tù tội, mất hết nhân phẩm, danh dự, để nhanh chóng biển thủ hay đánh cắp một số tiền bạc, tài sản nhằm giúp gia đình bà con nghèo khó. Đây là một hiện tượng tâm lý khá độc đáo mà các doanh nhân, giám đốc kinh tế Việt Nam - vốn xuất thân từ nghèo khó, khốn cùng muốn vươn lên để giải phóng chính mình và thân nhân từ cái mặc cảm đau đớn và bi ai cho số phận kinh tế của họ đang có.

Vì thiếu nền tảng nguyên tắc và chủ động lý trí, con người kinh tế Việt Nam không phải là những đơn vị kinh tế lâu dài. Họ có tầm nhìn thấp, ngắn hạn, khó lường được, dễ phản bội, sẵn sàng vi phạm chữ tín và hợp đồng, muốn đi đường tắt thay vì kiên nhẫn cho kết quả lâu dài. Đành rằng là con người kinh tế ai cũng tham lam. Nhưng mức độ tham lam của người Việt thường trở nên vô lý và quá độ trở thành liều lĩnh, ngu xuẫn và bất chấp. Dĩ nhiên có nhiều nguyên nhân có tính chất lịch sử, những yếu tố khách quan khác. Điều mà chúng tôi muốn nhấn mạnh là chính từ mỗi con người Việt Nam.

Khi số đông mang một đức tính tiêu cực như thế, bối cảnh và môi trường kinh tế Việt Nam mang cái bản chất mà Fukuyama gọi là "low trust society" (xã hội thiếu chữ tín). Điều này khác biệt rõ ràng với môi trường kinh tế của các đơn vị kinh tế khác - ví dụ cộng đồng người Hoa mà ở đó dù trong sự thiếu vắng những định chế thành văn và khách quan, người Hoa vẫn huy động tiềm năng kinh tế trong cộng đồng của họ một cách có hiệu qủa. Đây là nhờ một văn hóa chữ tín cao độ. Vi phạm chữ tín, lời hứa, đối với người Hoa, là một đều đáng lên án nhất, còn hơn là những tội ác hình sự khác. Nó trở thành một phong hóa kinh tế có tính truyền thống lâu đời. Còn người Việt chúng ta thiếu hẳn cái phong hóa của niềm tin và chữ tín này. Không những thế, người Việt có nhiều khi khoe khoang, hãnh diện về cái "tài" phản bội, luờng gạt, nuốt lời như là những chiến thắng. Những ai có theo dõi, kinh nghiệm về những vụ lường gạt kinh tế ở trong nước cũng như trong các cộng đồng Việt Nam trên thế giới, như cá nhân chúng tôi đã từng kinh qua và biết đến, nhất là những vụ "giật hụi," những lường gạt trắng trợn trong giới thương gia, gian lận từ nhỏ đến lớn, từ cá nhân đến tập thể, từ tư nhân đến chính quyền, từ địa phương lên đến tầm cỡ quốc gia, mới thấy rằng người Việt hiện nay đang phải đối diện với một cơn khủng hoảng nhân văn trần trọng: một sự xuống dốc và suy thoái, đến độ nguy cấp, cái đạo đức chữ tín trên thương trường.

Cho nên, từ cá nhân đến cơ chế, người Việt không tin người Việt. Đây là thực tế đau lòng. Người Việt đã kinh qua quá nhiều kinh nghiệm bị lường gạt, làm ăn tất trắc, vô trách nhiệm, vi phạm chữ tín, để rồi họ không còn niềm tin vào các định chế, cơ cấu kinh tế, cũng như cá nhân, ngay cả bà con, bạn bè, người thân ruột thịt. Nếu có chọn lựa, thì người Việt sẽ làm ăn với các công ty ngoại quốc, nhất là của Ấu Mỹ, hơn là Việt Nam. Họ sẽ mua bảo hiểm với các hãng ngoại quốc, ký thác tiền bạc vào ngân hàng Ấu Mỹ. Đây là hiểm họa cho các cơ sở kinh tế Việt Nam về lâu về dài khi mà các hiệp ước kinh tế mở cửa thị trường Việt Nam cho các cơ sở kinh tế Ấu Mỹ, như ngân hàng, bảo hiểm, tín dụng, hàng không... vào kinh doanh ở Việt Nam.

Thêm một khuyết điểm đạo đức kinh tế khác mà chúng tôi phải nêu lên: người Việt không tôn trọng sự thật và có thói tật nói dối nặng nề. Vì quá trình lịch sử nước nhà, vì khả năng phân định yếu kém giữa sự kiện khách quan đối với ý kiến chủ quan, vì thiếu đức tính chính trực và nhân cách có nghị lực, và nhiều lý do khác, người Việt nói dối như là một thói quen. Họ không ngần ngại và không cảm thấy xấu hổ khi nói dối. Họ khoe khoang cái dối trá của mình và coi đó như là điều hay. Người nào chân thật, ăn nói ngay thẳng thì bị chê là "ngu dốt."? Điều này từ trong bối cảnh gia đình, trẻ em Việt Nam đã bị nhiễm từ cha mẹ. Từ cái dối nhỏ khách sáo, không thực lòng đến ngay cả làm chứng dối tuyên thệ, đã tạo nên một phong hóa chấp nhận dối trá cũng như tự mình nói dối để rồi biến những khuyết điểm đen tối và nguy hại này thành như một điều hiển nhiên. Thành ra ngôn ngữ đối thoại trên thương trường Việt Nam không mang nặng chữ tín, không có trọng lượng tích cực. Con người kinh tế Việt Nam từ đó nghi kỵ nhiều hơn là tin tưởng, bất trắc hơn là cương trực đối diện với sự kiện để thủ tín cho lời hứa và trách nhiệm.

Từ sự coi thường người khác và chấp nhận dối trá, từ vô thức, người Việt tự coi nhẹ giá trị và tinh thần chữ tín của các văn kiện kinh tế. Đặc biệt nhất là tinh thần tôn trọng nội dung hợp đồng và khế ước của người Việt cũng chưa được phát huy đúng mức. Họ cần phải nhớ rằng một khế ước kinh tế không phải chỉ là một phương tiện giải quyết chủ đích doanh thương nhất thời; trái lại, khế ước là nền tảng chữ tín lâu dài cho những tiền lệ đối tác giữa các đối tượng kinh tế liên hệ. Khi không tôn trọng chữ tín thì hệ quả là vấn đề bội hứa. Một lần vi phạm chữ tín thì tương lai kinh doanh, đối tác của kẻ bội tín bị hư hại nặng nề.

Khi coi chỉ tiêu kinh tế ngắn hạn và nhất thời là quan trọng nhất, người Việt Nam không coi đạo đức kinh tế là một phần không thể tách rời của đạo lý cho cuộc đời. Họ tự đánh giá thấp phẩm giá và nhân cách của chính mình và tha nhân. Họ mang tinh thần "cả nể" đầy bản chất giang hồ của một xã hội loạn lạc và thô lậu vốn vẫn thường đặt ưu tiên liên hệ cá nhân cao hơn là nguyên tắc đạo đức. Họ dung túng, tha thứ cho đồng nghiệp, nhân viên vì tình cảm cá nhân. Trên mức độ luân lý xã hội thì người Việt coi chuyện hối lộ, mua chuộc, thối nát là chuyện bình thường. Mặc dù mỗi hành vi hối lộ, tham nhũng, đút lót là mỗi hành vi khinh thường phẩm giá đối tượng mua chuộc, coi thường luật pháp, hay quan trọng hơn, đó là một thành vi tự đánh mất nhân phẩm của chính mình để khi nhúng tay vào hành động phi pháp, vô luân, kẻ tham dự đánh mất tự trọng, tự hạ thấp chính mình vào vũng bùn dơ bẩn của một trình độ tâm thức thấp hèn, nhưng con người kinh tế Việt Nam không khinh sợ vấn đề này. Hệ quả là một tập thể kinh tế với?quá nhiều kẻ chịu nhảy vào vũng bùn thối nát. Từ đó, "quy luật" kinh tế Việt Nam trở thành lề thói tiêu cực của "chốn giang hồ" mà hành vi là của giới đạo tặc hơn là của đạo lý và pháp chế.

Bên cạnh đó, có một hệ quả về hành vi và thái độ khác: người Việt chính họ thì coi thường lẫn nhau, trong khi đối với người Tây phương thì nể trọng quá đáng. Họ khúm núm, niềm nỡ, cố làm duyên? một cách thái quá khi đối diện, xã giao với người Tây phương. Có lẽ vì tâm lý mặc cảm vô thức, hay là vì nhân dáng bên ngoài của các doanh nhân Tây phương có toát ra một cung cách nghiêm chỉnh và chững chạc nào đó đã làm cho cá nhân kinh tế Việt Nam cảm thấy mình thiếu sót? Khi một cá nhân không có nguyên tắc, hay là với tinh thần tự trọng thấp, đối diện với những cá nhân có nguyên tắc cao và vững chắc thì người đó, từ một năng lực vô thức sâu kín, cảm thấy mình yếu hèn, thấp kém. Từ đó, về phương diện tâm lý mà thôi, cán cân quyền lực trên thương trường giữa doanh nhân Việt Nam và Ấu Mỹ bị mất quân bình trong các cuộc đàm phán và đối tác kinh doanh, thương thảo hợp đồng, tranh đấu quyền hạn và quyền lợi. Cộng thêm đó là các yếu tố ngôn ngữ, định chế non nớt, tin tức và dữ kiện thiếu thốn, chưa có đủ kinh nghiệm chuyên môn và kinh doanh quốc tế đã làm cho doanh nhân Việt Nam luôn bị rơi vào tư thế yếu kém trên những sân chơi chênh lệch cả về quy luật thành văn cũng như phong hóa thương trường.

II. Vấn Đề Con Người và Định Chế Kinh Tế

Với một nền tảng đạo đức kinh tế trên căn bản cá nhân không vững chắc, cơ chế kinh tế và môi trường kinh tế Việt Nam phản ảnh nguyên trạng vấn nạn này. Khi nhìn về phương diện chính sách ở tầm mức quốc gia, hiện trạng tiêu cực ở Việt Nam ngày nay một phần là hệ quả của những chính sách kinh tế vĩ mô mang nhiều khuyết điểm và sai lầm. Nội dung của những định chế kinh tế vĩ mô trong mấy thập kỷ qua đã làm gia tăng mức độ khủng hoảng của cơ chế cũng như là của con người kinh tế Việt Nam vốn đã mang nhiều khuyết điểm.

Chúng ta đều thấy những hậu quả tiêu cực quá hiển nhiên. Khi môi trường kinh tế không tôn trọng chữ tín đúng mức, một khối nhân sự không có khả năng và không đáng tin cậy thì nền kinh tế quốc gia không huy động được vốn đầu tư, nhân lực, tài nguyên. Các định chế căn bản như ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, thuế khóa, hành chánh công quyền, pháp chế không được tin tưởng và bị khinh thường bởi quần chúng. Tài nguyên thiên nhiên, nhân lực, trí thức, tài chánh tìm đường thoát ra khỏi quỹ đạo kinh tế quốc gia nhằm đi tìm môi trường ký thác, kinh doanh có khả năng bảo đảm chữ tín cao hơn. Những đơn vị tổ chức cũng như cá nhân kinh tế quốc tế có tầm vóc và chiều sâu không muốn đầu tư, kinh doanh trong môi trường kinh tế nước nhà hiện nay - ngoại trừ những lý do bất khả kháng, vì cần thiết, hay là vì không còn chọn lựa nào khác.

Tuy nhiên, nguyên nhân của vấn đề phần lớn là nằm ở chỗ đạo đức kinh tế của con người Việt Nam. Chúng ta có thể đổ tội cho cơ chế, lịch sử, hoàn cảnh khách quan - nhưng trước tiên phải thành thật nhìn nhận khuyết điểm trên phương diện con người. Nếu không thì chúng ta từ chối trách nhiệm từ căn bản. Như trường hợp Trung Hoa, bối cảnh chính trị và cơ cấu định chế cũng như nhiều yếu tố hoàn cảnh khách quan khác cũng gần giống như Việt Nam, nhưng Trung Hoa - hay là ngay cả các cộng đồng Hoa kiều khi so sánh với các cộng đồng Việt kiều trên thế giới - không gặp những khó khăn phát triển kinh tế trầm trọng và căn bản như Việt Nam. Yếu tố chính là con người kinh tế Trung Hoa, tự chính họ, độc lập với định chế khách quan, đã tạo được một phong hóa chữ tín cao trên thương trường.

Nói như thế không có nghĩa là chúng tôi phủ nhận nguyên nhân và hệ quả tương tác của vấn đề từ định chế và cơ cấu kinh tế khách quan. Điều mà chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây: yếu tố đạo đức kinh tế của con người phải được đặt ngang hàng, hay cao hơn, yếu tố định chế trong tiến trình phát triển kinh tế quốc gia.

Về cả hai mặt, định chế và con người, thì kinh tế Việt Nam đang bị khủng hoảng trầm trọng. Cơ chế có thể cải cách nhanh chóng nếu lãnh đạo quốc gia có ý chí chính trị và mang viễn kiến về tương lai. Câu hỏi ở đây: Làm thế nào để đạo đức kinh tế của con người? Việt Nam có thể được xây dựng, chuyển hóa và nâng cao? Câu trả lời: Một chiến lược xây dựng đạo đức cho nhân sự kinh tế quốc gia.

Đây không phải là chuyện đạo đức mơ hồ, hay là lý thuyết trừu tượng không thực tế. Một chiến lược xây dựng và phát huy đạo đức kinh tế cho con người kinh tế Việt Nam là việc có thể làm được và phải bắt đầu ngay. Cải tổ cơ chế kinh tế đòi hỏi cải tổ nguồn nhân lực kinh tế. Cái này không thể thiếu cái kia. Tinh thần con người tiêu cực chỉ có thể kiến tạo cơ chế hư hỏng. Vế con nguời quyết định sự thành đạt cho vế cơ chế; vế cơ chế hỗ trợ cho sự thành công trong việc giáo dục và huấn luyện con người.

III. Những Giải Pháp và Chiều Hướng Khả Thi

Như đã trình bày, phát triển kinh tế Việt Nam đòi hỏi một dự án nâng cấp đạo đức kinh tế cho tầng lớp nhân sự liên hệ. Đây là một giải pháp chiến lược quốc gia mang tính chất cơ bản, lâu dài, có thực chất, mang tính thực tiễn cũng như là toàn diện và nghiêm chỉnh. Đây là chuyện tối cần thiết, có thể làm được và phải làm ngay. Bước vào công trình đầy thử thách này, chúng tôi xin được nêu lên đây hai công việc cần làm:

Thứ nhất: Cải tổ sâu rộng và căn bản về định chế nhằm thực thi một cuộc cách mạng pháp chế.

Thứ hai: Thực thi một tiến trình giáo dục và huấn luyện những thế hệ nhân sự kinh tế mới. Để từ đó, hoán đổi, thay thế toàn diện và sâu rộng tầng lớp nhân sự? kinh tế hiện nay.

Đây là một công trình "thay máu" toàn diện cho con bệnh nhân sự kinh tế Việt Nam.

    1. Cải Tổ Định Chế

Công việc cải tổ định chế bao gồm nhiều lãnh vực: pháp luật, cơ cấu và chính sách. Nói chung đây là chiến lược tái tổ chức lại guồng máy kinh tế quốc gia từ trung ương đến địa phương. Mục đích căn bản cho công cuộc cải tổ toàn diện này là việc xây dựng một nền kinh tế pháp chế thị trường.

Ở thời điểm này, chúng ta đã học được những bài học quý giá từ quá trình lịch sử kinh tế thế giới và của nước nhà. Trên phương diện vĩ mô, một nền kinh tế thuần phóng nhiệm (laissez-faire), hay ngược lại là trung ương bao cấp, không còn ai chấp nhận được. Con đường kinh tế nhân loại đang đi là con đường ở giữa. Và tùy theo những điều kiện khác nhau của mỗi quốc gia mà nền kinh tế đó nghiêng về phía nào nhiều hơn. Khi nói đến sự chọn lựa mô hình kinh tế pháp chế thị trường là chúng ta nói đến sự thay đổi mức độ và bản chất can thiệp của chính quyền trung ương đối với nền kinh tế quốc gia và sự thiết lập định chế đặt để sự vận hành năng lực kinh tế quốc dân bằng luật pháp độc lập nhằm bảo đảm được một nền tảng quy tắc khách quan và đạo đức kinh tế cho năng động thị trường. Cái khó khăn là sự chọn lựa một tầm mức căn bản trên cán cân quân bình cần thiết: một bên là năng lực tự do của thị trường, bên kia là quy tắc trật tự pháp chế và chiều hướng cũng như bản sắc chính sách quốc gia.

Bản chất và thể thức định chế không thể là đầu mối quyết định phẩm chất đạo đức kinh tế cho cá nhân; tuy nhiên, định chế quốc gia có thể - và phải có chủ đích - tạo nên một môi trường khách quan tích cực cho đạo đức kinh tế của con người trong cuộc được bảo đảm và phát huy. Khi năng lực cơ chế khách quan có khả năng tưởng thưởng và trừng phạt thích đáng hành vi kinh tế liên hệ thì con người kinh tế? sẽ chọn con đường hướng thượng và lâu dài. Đây là một nhu cầu cấp bách cho môi trường kinh tế Việt Nam khi mà năng lực đạo đức hướng thượng và tích cực của con người Việt Nam đã từ lâu bị hoàn cảnh cơ chế và xã hội khách quan ngăn cản và không có cơ hội nuôi dưỡng và phát huy.

Để đạt được điều này, chúng tôi xin đề nghị: Trước hết, hãy thành lập một ủy ban định chế kinh tế quốc gia nhằm duyệt xét lại toàn bộ hệ thống định chế kinh tế (hay liên hệ trực tiếp đến lãnh vực kinh tế) để tháo gỡ những trở ngại, những mâu thuẫn về nguyên tắc cũng như là cơ cấu.

Nhìn chung, chúng tôi nhận thấy là có bốn lãnh vực mà chúng ta phải có những thay đổi và cải tổ sâu rộng:

(a) Nguyên tắc ưu tiên pháp quyền,
(b)
Pháp chế kinh doanh thống nhất,
(c)
Xác định quyền sở hữu chủ bất động sản, và
(d)
Chế độ thuế khóa.

        a. Ưu tiên pháp quyền. Khi nói về nguyên tắc thượng tôn luật pháp, ở đây chúng tôi muốn nói đến phương diện? định chế chứ không phải la ?huần về tinh thần. Tư pháp, trong thế đứng độc lập của định chế cơ bản của quốc gia, phải có thẩm quyền tối cao. Nguyên tắc trọng pháp này phải được thể hiện qua sự thiết lập một trật tự thẩm quyền của định chế quốc gia để xác định rằng hiến pháp và luật pháp có chổ đứng thẩm quyền cao nhất và hoàn toàn độc lập với chính trị đảng quyền và hành pháp. Đây không phải là vấn đề khẩu hiệu. Lịch sử pháp chế của các quốc gia pháp trị tiên tiến đều phải đi qua một quá trình vật lộn với nguyên tắc ưu tiên pháp quyền tối cao (judicial supremacy) khi mà bản chất chính trị quyền lực thường bị phía hành pháp tiếm đạt vị thế ưu tiên trong những tranh chấp quyền lực và pháp lý. Trong trường hợp Việt Nam hiện nay thì đối với nhánh tư pháp không những là hành pháp, mà đảng Cộng Sản, cũng chỉ coi tư pháp như chỉ là một công cụ chính sách chứ không phải là một định chế độc lập có thẩm quyền tối cao trên nền tảng nguyên tắc pháp chế. Cho đến nay, những phiên tòa xử án quan trọng phần lớn đều đi theo chỉ thị của chính trị đảng thay vì theo nguyên tắc thủ tục, bằng chứng và luật pháp độc lập.

Khi nói đến cải tổ cơ chế ở chiều sâu và mức độ như thế cho Việt Nam hiện nay thì ở đây có những vấn đề tế nhị về chính trị quyền lực, nhất là khi mà Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn còn giữ nguyên tắc "Đảng ta là đảng cầm quyền" một cách toàn diện. Ở đây, trên phương diện kinh tế, khi pháp chế bị cai quản và điều động bởi chính trị của đảng và của hành pháp thì nguyên tắc pháp chế trên cơ bản nguyên tắc khách quan và độc lập không còn nữa. Hệ quả là điều hiển nhiên: nền kinh tế quốc gia chưa nhờ vào luật pháp là định chế thẩm quyền tối cao nhằm bảo vệ chữ tín và niềm tin cho năng lực kinh tế.

Lý tưởng và mục tiêu pháp chế cho Việt Nam hiện nay có thể được trưng dẫn như sau: Khi tòa án phân xử một tranh chấp hợp đồng, ví dụ, giữa một công ty quốc doanh kiểm soát bởi đảng ủy địa phương với lại một công ty tư nhân thì nguyên tắc và thủ tục xử án phải là luật pháp khách quan. Với quy tắc đó, thì bản án có khả năng mang tính khách quan, công bình, có sức mạnh chinh phục và mang thẩm quyền tiền lệ pháp chế. Các đối tượng liên hệ có thể dựa vào tính khách quan và công bình để phác họa kế hoạch kinh tế trong tương lai. Tức là, nhờ thế mà trên phương diện pháp lý, con người kinh tế có cơ hội và niềm tin để thủ tín. Rất tiếc là ở Việt Nam hiện nay điều này chưa có. Mặc dù trên nguyên tắc văn bản thì tư pháp Việt Nam, trong vấn đề xử án, được độc lập, nhưng thực tế thì khác hẵn. Các nhân vật của đảng và nhà nước mang quyền hạn gần như là bao trùm lên trên những lãnh vực đáng ra là của tư pháp độc lập.

Vấn đề độc lập định chế không những chỉ là vấn đề tổ chức và chính sách mà còn là vấn đề văn hóa trọng pháp. Câu hỏi ở đây là pháp chế quốc gia, từ tổ chức, nhân sự đến luật pháp thành văn, quá trình thực thi có đạt đến một tiêu chuẩn đáng để cho con người kinh tế Việt Nam tôn trọng hay không? Từ đó, vấn nạn là một vòng tròn lẩn quẫn mà nguyên nhân và hậu quả không biết có thể gỡ mối từ đâu. Cái khó của lãnh đạo kinh tế ở Việt Nam là nó bao trùm quá nhiều phương diện. Ngay cả khi có những cải tổ định chế có được đưa ra thì vấn đề thực thi cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn vì Việt Nam chưa có một mức độ hiệu năng quản trị có thể chấp nhận được trong một môi trường nhân văn mà trình độ và văn minh hành chánh công quyền vốn cần phải được nâng cao và phát huy. Khi định chế ưu tiên tư pháp và công lý được nâng cao trên giá trị khách quan trong văn hóa trọng pháp thì đạo đức con người kinh tế sẽ được điều tiết và uốn nắn theo quy luật hướng thượng.

        b. Pháp chế kinh tế: Xây dựng Bộ Luật Kinh Doanh Thống Nhất. Để tạo một bối cảnh kinh tế khách quan vững chắc, một sự tin tưởng vào cơ chế pháp luật, Việt Nam phải thống nhất và văn kiện hóa những quy tắc giao dịch, đối tác kinh tế, nội địa cũng như ngoại thương. Đây là một bộ luật kinh doanh thống nhất theo mô thức The Uniform Commercial Code của Hoa Kỳ và các nước công nghệ tiền tiến khác. Bộ luật này sẽ tạo sự dễ dàng và hiệu năng cho nhu cầu tham khảo pháp luật cũng như cho những tranh tụng và hòa giải kinh tế khách quan. Nó bao gồm những quy tắc pháp chế cho hầu hết những giao dịch thương mãi, kinh tế như mua bán hàng hóa, giấy nợ, ký thác và lời lãi ngân hàng, tín dụng thư, chuyển vận thư, mậu dịch chứng khoán, quy tắc kế toán, sổ sách, và thủ tục bằng chứng. Không như các bộ luật kinh doanh các nước Tây phương, bộ luật kinh doanh cho Việt Nam phải bao gồm những sinh hoạt và lề lối, hành vi kinh tế bất thành văn, theo tập quán, giữa cá nhân và cá nhân giữa những bối cảnh làm ăn buôn bán của dân quê, chợ búa, bến xe, ngõ ngách, bà con, anh em thiên hình vạn trạng mà luật pháp xưa nay không hề đoái hoài đến và là nguyên cớ của bao nhiêu oan ức, bất công kinh tế khác cho dân nghèo, thấp cổ, bé họng, không hiểu đến quyền hạn của mình. Bộ luật này phải cung cấp được cơ bản công lý kinh tế cho tầng lớp bình dân cũng như cao cấp trên hầu hết các phương diện kinh tế nhằm nâng cao cơ chế chữ tín của nhân dân vào guồng máy pháp chế và công quyền.

Một trong những định chế căn bản nhất cho bộ luật kinh doanh thống nhất này là lãnh vực hợp đồng và khế ước. Đây là cơ chế chữ tín căn bản cho năng động kinh tế quốc dân. Nó thiết lập nền tảng giá trị và phương thức cưỡng chế cho chữ tín trên ba phương diện: Thứ nhất là kiến tạo tư cách pháp nhân trong dao dịch khế ước. Thứ hai là xác định quy tắc cưỡng chế nhằm tạo sức mạnh pháp lý cho khế ước và hợp đồng. Thứ ba, minh xác hậu quả pháp lý nếu chữ tín - qua các điều khoản hợp đồng - bị vi phạm. Xã hội kinh tế công nghiệp là một tập thể tương tác trên cơ bản chữ tín của khế ước và hợp đồng, hay cũng được gọi là "xã hội hứa ước" (promissory society). Giàu có, từ cá nhân đến quốc gia, là tác phẩm của cơ chế chữ tín này. Muốn xây dựng nền tảng xã hội mang tính chất khế ước, Việt Nam phải vượt qua khỏi cái căn bệnh chậm tiến của một xã hội mà trong đó giàu có là nhờ vào thế lực và vị trí cá nhân thay vì cơ chế chữ tín trên căn bản pháp luật.

        c. Xác định quyền tư hữu chủ bất động sản. Năng lực kinh tế Việt Nam đang bị chận lại bởi một sự mâu thuẫn lớn giữa pháp chế thành văn và thực tế kinh tế và xã hội khi mà hiến pháp quốc gia thì không công nhận chủ quyền tư nhân của bất động sản trong khi thực tế xã hội thì hoàn toàn hành xử trái ngược. Sự mâu thuẫn lớn lao này đã tạo ra nhiều hệ quả pháp chế lớn lao. Thứ nhất, pháp luật không được tôn trọng và không thể được thực thi vì nguyên tắc "đất đai là của nhân dân" không liên hệ đến thực tế. Những giao dịch bất động sản trên nguyên tắc pháp chế thành văn là sự trao đổi quyền sử dụng đất và cơ sở xây dựng, nhưng trên thực tế thì hầu hết tất cả mọi giao dịch bất động sản thực chất là sự công nhận chủ quyền tư hữu liên hệ. Thứ hai là sự bất lực của pháp luật khi phải giải quyết những tranh chấp bất động sản. Thứ ba là các chủ nhân de facto không thể sử dụng giá trị sở hữu nhằm huy động vốn cho nhu cầu kinh tế. Cản lực này cần phải được khai mở bằng nguyên tắc tư hữu trên cơ sở hiến pháp và pháp chế chính thức bằng một bộ luật bất động sản thống nhất.

Nếu cái mâu thuẫn định chế giữa pháp luật và thực tế xã hội này không được giải quyết thì năng lực kinh tế quốc gia không những bị kềm hãm mà hệ quả là một phong hóa kinh tế và xã hội bất nhất, nghịch pháp vốn chỉ hủy hoại niềm tin của con người kinh tế vào giá trị định chế quốc gia. Chúng ta phải nhớ rằng tư hữu của nhân dân là quyền công dân căn bản chứ không phải là ân huệ có từ chính sách của nhà nước.

        d. Cải tổ chế độ thuế khóa. Một cách tổng quát thì chính sách và luật thuế quốc gia phải hội đủ những yếu tố: (1) nhất quán, (2) thích ứng, (3) công bình, (4) minh bạch và (5) tùy thuộc vào khả năng đóng thuế của đối tượng. Mặc dù đã có những kết quả khả quan, chế độ thuế khóa của Việt Nam cần phải được cải tổ để đáp ứng những tiêu chuẩn trên. Khi luật thuế và phương thức thực thi mang tính hợp lý, công bình và hiệu năng thì thuế khóa là một trách nhiệm công dân mà mọi người sẽ chấp nhận nó như là một bổn phận không thể thiếu. Không ai muốn đóng thuế cả, nhưng một chế độ thuế khóa phải có bản chất công lý và khả năng thực thi đến mức độ mà khuynh hướng trốn tránh và gian lận thuế khóa phải được ngăn chận có hiệu quả từ phương diện tinh thần công dân đến hiệu năng quản chế của chính quyền.

Đi vào chi tiết thì chế độ thuế khóa ở Việt Nam cần phải được cải tổ trên hai lãnh vực. Thứ nhất là thuế lợi tức cá nhân và thứ hai là thuế bất động sản. Về thuế lợi tức cá nhân thì vấn đề hiện nay là những cá nhân có lợi tức cao chưa trả thuế đúng mức như các thành phần kinh doanh, văn nghệ sĩ, thành phần sống nhờ tài trợ của người thân ở ngoại quốc. Về bất động sản thì là cả một sự thiếu sót lớn lao vì chủ nhân nhà cửa và cơ sở bất động sản vẫn chưa phải đóng thuế đúng cách và đúng mức. Nếu cải tổ về hai lãnh vực này mà thôi thì sẽ giúp cho ngân quỹ nhà nước một số lượng ngân sách lớn lao cho các cải tổ cần thiết khác như giáo dục, lương bổng cho công chức nhằm giảm bớt tệ trạng thối nát, cải tổ y tế và xây dựng hạ tầng cơ sở kinh tế. Hơn nữa, cải tổ thuế khóa để giảm bớt vấn nạn bất công kinh tế hiện nay ở Việt Nam. Không có gì vô lý và bất công cho bằng, ví dụ, một họa sĩ có xe hơi, làm chủ nhiều nhà cửa và bất động sản, đi du lịch ngoại quốc hàng năm, gởi con du học ở Ấu Mỹ thì không đóng thuế gì cả, từ lợi tức cá nhân đến tài sản, trong khi đó, một tiểu thương ở phố chợ khó khăn vật lộn với cuộc sống kinh tế qua ngày lại phải đóng hàng chục thứ thuế và lệ phí mà phần lớn? không liên hệ gì đến ngân sách quốc gia. Những trường hợp như thế không thiếu gì ở Việt Nam hiện nay. Hệ quả là ngân sách chính phủ phải tiếp tục tình trạng lương bổng quá thấp, đến độ vô lý, cho giới giáo chức và nhân viên công quyền, thẩm phán .. mà người có nhân phẩm, trong sạch không thể tồn tại kinh tế được. Chỉ nhìn về lãnh vực công quyền mà thôi, đạo đức và chữ tín kinh tế của con người Việt Nam không thể được nuôi dưỡng và phát huy trong bối cảnh và môi trường thuế khóa và chính sách chi tiêu như vậy.

    2. Xây Dựng Thế Hệ Nhân Sự Kinh Tế Mới.

Những năm gần đây, Việt Nam đã có những cải tổ nhân sự hành chánh công quyền lớn lao và quan trọng. Tuy nhiên, về phương diện nhân sự kinh tế, Việt Nam cần phải giáo dục và huấn luyện một thế hệ con người kinh tế mới cho Việt Nam. Bước đầu là một chế độ mới về giáo dục kinh tế.

Thứ nhất: Quy chế giáo dục về kinh tế và thương mãi ở trình độ đại học phải được cải tổ sâu rộng. Giáo trình phải bao gồm các khóa về đạo đức kinh tế và quản trị trên phương diện lương năng chức nghiệp. Các kỳ thi tốt nghiệp phải bao gồm đề tài đạo đức này. Mục tiêu là tạo ý thức và xây dựng kiến thức luân lý thương trường nhằm xây dựng một tập thể con người kinh tế Việt Nam mới.

Thứ hai: Thành phần nhân sự được bổ nhiệm vào các chức năng công quyền về lãnh vực kinh tế đề phải có trình độ đại học hoặc hậu đại học, được huấn luyện về đạo đức kinh tế, có quá trình đạo đức trong sạch, có khả năng chuyên môn thích ứng, và phải là thành phần trẻ, ví dụ dưới bốn mươi tuổi. Khi nhậm chức, nhân sự kinh tế phải qua một thủ tục huấn luyện chuyên ngành và đạo đức thích hợp và chặt chẽ, kê khai tài sản nghiêm túc, được hưởng lương bổng thích đáng, tuyên thệ nhậm chức nghiêm chỉnh và ký vào một khế ước trách nhiệm với những biện pháp chế tài khắt khe nếu vi phạm đạo đức chức năng.

Thứ ba: Tất cả những công ty quốc doanh, trách nhiệm hữu hạn tư nhân hay là các công ty có một số vốn nhất định nào đó, phải được quản chế bằng một chế độ nhân sự thích hợp về trình độ giáo dục cũng như là về khả năng chuyên môn. Đây không chỉ là vấn đề chính sách mà là một điều kiện pháp lý khi thành lập và trong tiến trình sinh hoạt của công ty. Đây là vấn đề trí thức hóa, chuyên môn hóa giai tầng lãnh đạo công ty. Ngoài nhu cầu cải cách lớn rộng trên lãnh vực những định chế về công ty, về quy tắc hùn vốn, quản trị tài chánh, về kế toán, vấn đề cần thiết là phải pháp chế hóa cơ cấu và thành phần, quyền hạn của hội đồng quản trị cho đến nhân sự quản lý trên một cơ bản luật pháp thành văn rõ ràng, hợp lý và thống nhất trên cơ bản phẩm chất chuyên môn và đạo đức quản trị. Các giám đốc điều hành công ty, các giám đốc về tài chánh và kế toán công ty đều phải có bằng thạc sĩ về quản trị kinh doanh, phải qua một khóa tu nghiệp về đạo đức kinh tế, và phải thi đậ? một kỳ thi lương năng chức nghiệp. Đây là một dự án cung cấp môi trường chuyên nghiệp, chất lượng và một văn hóa làm việc trong sạch cho nhân sự kinh tế vừa có khả năng vừa có đạo đức nhằm kiến tạo một văn minh kinh doanh mới ở tầm mức tổ chức cho xã hội Việt Nam.

Thứ tư: Chính sách Việt kiều cần phải được thay đổi và pháp chế hóa trên căn bản thống nhất và rõ rệt, khôn khéo và hiệu năng nhằm huy động được nguồn vốn nhân sự to lớn của cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Mọi chính sách và quy chế đối với Việt kiều cần phải dựa trên một tầm nhìn lâu dài và bao dung trong tinh thần dân tộc. Hãy coi thế hệ nhân sự kinh tế và chuyên môn người Việt hải ngoại - nhất là thế hệ trẻ, chuyên gia được giáo dục và huấn luyện từ những đại học và các đại công ty ngoại quốc - là nguồn vốn lớn với phẩm chất đạo đức kinh tế cao cho con đường phát triển quốc gia. Phải loại bỏ những chính sách đối xử phân biệt, như là chế độ hai giá, đối với Việt kiều. Hãy công nhận tư cách pháp nhân của Việt kiều như là những công dân trong nước về các lãnh vực kinh tế và thương mãi, ví dụ như có toàn chủ quyền về bất động sản. Với cả một nguồn lực kinh tế và nhân sự Việt kiều hiện nay, khi chế độ tư hữu được thay đổi sẽ tạo một năng động kinh tế cao cấp đồng thời là nguồn thu nhập lớn lao cho các khoản thuế, như thuế bất động sản, thuế kinh doanh, thuế trị giá gia tăng, thuế lợi tức. Hơn nữa, giới doanh nhân và quản trị Việt kiều trẻ sẽ đem những luồng gió mới, sinh khí mới, từ nguồn vốn cho đến kiến thức, với lề lối và văn hóa đạo đức kinh tế mới cho Việt Nam.

IV. Nhìn Chung: Chọn Lựa cho Thế Kỷ Trước Mặt

Nguồn vốn quan trọng và cốt lõi của kinh tế quốc gia bao giờ vẫn là con người. Nhưng năng lực, ý chí và trí tuệ của con người kinh tế Việt Nam cần phải được huy động và tiếp nhận đúng cách. Họ là những cá thể đang đứng trên ngã ba đường của thời đại mới mà cơ hội và hiểm nguy đang chờ họ. Tùy vào bản chất của cơ chế mà họ sẽ nhảy vào hố sâu tiêu cực hay là leo lên đỉnh đồi hướng thượng. Từ một quá trình lịch sử khó khăn và bi đát, con người kinh tế Việt Nam cần phải được giáo dục vàhuấn luyện nhằm chuyển hóa - cũng như là cơ chế kinh tế Việt Nam cũng phải cần được cải tổ sâu rộng.

Lực lượng tiên phong trong tiền đồ xây dựng đất nước cho thế kỷ mới không còn là những chiến sĩ cách mạng độc lập quốc gia nữa, mà là tầng lớp nhân sự kinh tế trong một nền kinh tế pháp chế thị trường. Nói theo âm điệu của mấy mươi năm qua thì một nền tảng "đạo đức cách mạng" mới phải được trang bị cho một thế hệ doanh nghiệp mới nhằm kiến tạo một văn hóa kinh tế cần thiết cho Việt Nam trước nhu cầu thời đại. Văn hóa này là của một nền kinh tế mà giá trị chữ tín được tôn trọng, mà pháp luật được đặt ưu tiên, mà nhân phẩm con người được thể hiện qua cơ chế kinh tế, xã hội cũng như là những sinh hoạt doanh nghiệp hằng ngày - mà trong đó, con người Việt Nam phải trực nhận rằng mỗi hành vi kinh tế là một tác năng luân lý.

Trong Bản Kỷ Thực Lục của Đại Việt Sử Ký Toàn Thư? ghi lại lời của? Thánh Tông Thuần Hoàng Đế, khi cứu xét vấn đề nhân sự của triều Lê, rằng:

"Sự nghiệp trị nước lớn lao của Đế Vương không gì cần kíp hơn nhân tài, điển chương chế độ đầy đủ của nhà nước, tất phải chờ ở bậc hậu thánh. Là bởi trị nước mà không lấy nhân tài làm gốc, chế tác mà không dựa vào thánh nhân đời sau thì đều chỉ là cẩu thả tạm bợ mà thôi, sao có thể đạt tới chính trị phong hóa phồn vinh, văn vật điển chương đầy đủ?

Tiến cử người hiền tài, loại bỏ kẻ bất tiếu, đó là việc lớn của chính trị. Cho nên dùng người hiền không lưỡng lự, bỏ kẻ gian không chần chừ, đời Đường Ngu do đó mà đổi thay được phong tục. Biểu dương người tốt việc hay, loại bỏ kẻ xấu điều dở, Thành Chu do vậy mà làm nên thịnh trị thái bình."

Dù biết vậy, nhưng vì thiếu sót không đưa ra và thực thi những cải tổ có tính cách cách mạng trong các vấn đề nhân sự, các vua nhà Lê đã liên tục bỏ dỡ nhiều cơ hội dựng nuớc, để rồi triều Lê - vốn phát xuất từ một cuộc cách mạng giải phóng và độc lập dân tộc oanh liệt - đã phải bị tàn mạt từ sự sụp đổ và thối nát của con người từ bên trong triều đình.

Cũng như thế, chính quyền Việt Nam đang đứng trước một chọn lựa chiến lược nhân sự có tính chất quyết định cho vận mệnh đất nước và dân tộc cho suốt cả thế kỷ trước mặt. Dĩ nhiên là vấn đề không phải là dễ dàng khi phần lớn tầng lớp con người kinh tế Việt Nam ngày nay vẫn còn mang nặng máu nông dân, nhà quê, quen thói buôn bán nhỏ vặt ở chợ trời, thiếu ý thức và nghị lực lớn, lấy mẹo vặt để hòng làm ăn to. Tuy nhiên, dù khó khăn nào đi nữa, hành trình vạn dặm cũng phải được bắt đầu. Việt Nam có thể làm được. Con người Việt Nam đang bước vào giai đoạn có thể và sẵn sàng được đổi thay và chuyển hóa. Tùy vào bản chất cơ chế mà họ sẽ đi lên hay thoái hóa. Hãy đừng bỏ lỡ cơ hội dựng nước thêm một lần nữa để lịch sử Việt Nam không phải đi vào vòng tròn tái diễn những bi kịch tang thương của các triều đại cha ông ngày trước.

Nguyễn Hữu Liêm
(bài viết trong tác phẩm Ðánh Thức Con Rồng Ngủ Quên, chủ biên Phạm Ðỗ Chí, Trần Nam Bình. Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh, Trung Tâm Kinh Tế Châu Á - Thái Bình Dương (VAPEC), Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, 2001)

■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■
Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách
Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập