đầu năm:
cela, bourdieu và nozick

thượng văn


Cái chết của nhà văn

Thứ Năm (17 tháng Giêng, 2002) nhà văn Camilo José Cela qua đời tại thủ đô Madrid của Tây Ban Nha. Bệnh viện Centro ở Madrid tuyên bố Cela mất vì bệnh tim. Ông thọ 85 tuổi.

Cái chết đã là nỗi ám ảnh không rời trong đời và trong tác phẩm của Camilo José Cela. Bài thơ đầu tiên của ông, năm 1934, có tựa đề "Đám táng tôi" (Mon enterrement). Trong "Bài ca cho cái chết" (Hymne à la mort) năm 1936, ông đã hạ bút, "Hãy đến đây Thần Chết, hãy đến đây!" Cũng thế, trong "Ba đoản thi giữa tình yêu và nỗi chết" (Trois sonnets entre l'amour et la mort), ông viết:

"Tôi biết rằng từ mũi tên tẫm thuốc độc kia

Ngươi sẽ đâm thấu trái tim cần mẫn ta

Bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào."

Cũng thế, trong hồi ký về những năm 50 có tên La Rosa, ông tự thú, "Hai ngày sau khi chào đời, tôi đã bắt đầu chết và kể từ đó, đôi lúc, tôi đã làm cho gia đình tôi khiếp sợ. Sức khỏe của tôi, cũng giống như chuyện ngụ ngôn con chó sói, và, một ngày nào đó, tôi sẽ chết thật sự, vậy mà không ai tin tôi cả."

Cái ngày nào đó đã đến, trễ hơn ông tưởng.

Đối với Tổng trưởng Văn hóa Tây Ban Nha, Pilar del Castillo, trong bài nói chuyện trên đài phát thanh, cái chết làm "Chúng ta mất đi nhà văn Tây Ban Nha được thế giới biết đến nhiều nhất trong hạ bán thế kỷ XX."

Trong khi đó, nhà văn José Saramago (Nobel 1998) của Bồ Đào Nha coi Cela là một trong những nhà văn vĩ đại của thế kỷ XX và chiếm một vị thế quan trọng nhất trong văn học Tây Ban Nha.

Tin tức về cái chết này được đăng tải thành bài viết dài trên hầu hết các nhật báo lớn trên thế giới. Cuộc đời và sự nghiệp của Camilo José Cela nhân dịp này được nhắc đến. Người ta biết ông sinh ngày 11 tháng Năm, 1916 ở Iria Flavia, tỉnh La Coruña, thuộc vùng Galicia, nằm phía Tây Bắc của Tây Ban Nha. Cela nói, ông xuất thân từ một gia đình "cha Tây Ban Nha, mẹ Anh quốc và bà nội (ngoại?) Ý." Ông theo học ngành y khoa, rồi triết học và luật, bị lôi cuốn như những người thuộc thế hệ ông vào cuộc nội chiến thảm khốc của Tây Ban Nha trong những năm 1936-39. Trong cuộc chiến đó, nhiều nhà văn tên tuổi đương thời ở khắp nơi tham dự như André Malraux, Ilya Ehrenburg, Alexei Tolstoi, Antoine de Saint-Exupéry, Ernest Hemingway, John Dos Passos, George Orwell, Stephen Spender, Arthur Koestler. Camilo José Cela bị đưa đẩy vào cuộc chiến này ở về phía Franco, rồi bị thương nặng phải giải ngũ ít đó không lâu. Ông thử thời vận qua nhiều nghề khác nhau như đấu bò, hội họa và kịch nghệ nhưng sau cùng chọn nghiệp văn chương. Ông còn là chủ nhiệm của tạp chí có tên Papeles de Son Armadans, là diễn đàn cho những tiếng nói phản kháng trẻ chống lại chế độ độc tài phát xít của Franco ngự trị 36 năm trời ở Tây Ban Nha.

Camilo José Cela được trao giải Nobel Văn chương năm 1989. Ông là người thứ năm của Tây Ban Nha nhận được giải thưởng cao quý này. Nhưng ông là nhà văn đầu tiên. Trong bốn người trước, hai là nhà thơ: Juan Ramon Jimenez (1956), Vicente Aleixandre (1977) và hai là nhà soạn kịch: José Echegaray (1904), Jacinto Benavente (1922). Trong công bố với báo giới, Viện Hàn Lâm Thụy Điển coi ông là "khuôn mặt nổi bật trong việc làm mới văn chương Tây Ban Nha thời hậu chiến." Quyển tiểu thuyết đầu tiên của ông, dưới tựa đề "Gia Đình Pascual Duarte" (xuất bản năm 1942) được ca ngợi, "Sau cuốn Don Quixote, đây là tác phẩm được nhiều người đọc nhất trong văn học Tây Ban Nha."

Tác phẩm được nhắc tên là câu chuyện kể trong ngôn ngữ của một nhân vật quê mùa, thất học. Hắn can dự vào một loạt các vụ giết người không vì một lý do gì cả và cuối cùng bị xử tử. Tác phẩm được xếp vào loại tiên phong trong những năm hậu chiến ở cả Tây Ban Nha và Châu Mỹ La-tinh. Vì tính cách tàn bạo và thô lỗ của nó, sách được xuất bản lần đầu tiên ở Á Căn Đình.

Anthony Kerrigan, trong lời tựa tác phẩm "Gia Đình của Pascual Duarte", ấn bản Anh ngữ (1964) cho rằng Camilo Jose Cela là một trong "ba nhà văn tài ba nhất đứng trong hàng ngũ những kẻ bị nguyền rủa." Hai người kia là nhà văn Celine (nhà hư vô chủ nghĩa khuynh hữu) của Pháp và Malaparte (nhà vô chính phủ hữu phái) của Ý. Cả ba nhà văn đều sống trong cùng một thời đại lịch sử trái ngang, mâu thuẫn và áp bức. Sách của Celine bị tịch thu ở Pháp cũng như ở các nơi khác. Sách của Malaparte có cuốn bị cảnh sát Ý tiêu hủy, có cuốn chỉ xuất bản ở Pháp và bị cấm đoán ở Ý, Đức. Quyển "Gia Đình của Pascual Duarte," (ấn bản Burgos, 1943) bị thu hồi bởi sở kiểm duyệt. Hai năm sau sách được phép phát hành. Nhưng trong ấn bản lần thứ ba (Barcelona, 1946), lời tựa của sử gia - bác sĩ Gregorio Marañón bị kiểm duyệt. Những tác phẩm khác như quyển "Tổ Ong" (La Colmena trong tiếng Tây Ban Nha và The Hive trong Anh ngữ) chỉ được phép bán vào năm 1962 trong khi ấn bản đầu tiên được xuất bản ở Á Căn Đình 11 năm trước.

Quyển "Gia Đình của Pascual Duarte" được xuất bản cùng năm với quyển "Kẻ Xa Lạ" của Albert Camus ở Pháp. Cả hai tác phẩm đều xoay quanh các vụ giết người phi lý. Anthony Kerrigan coi đó là "hai tiếng chuông gọi hồn, vang vọng cái âm thanh trống rỗng về mặt tinh thần." Cái dấu ấn kinh hoàng của chiến tranh còn ngự trị ở Châu Ấu một thời gian dài qua nhiều thể hiện hư vô trên sáng tác. Với Cela, cuộc nội chiến vừa chấm dứt. Với Camus, nước Pháp bị chiếm đóng và chiến tranh vẫn còn tiếp diễn. Trong lời tựa cho quyển "Hành Trình Đến Vùng Alcarria" (Journey to the Alcarria), Paul Ilie, giáo sư văn chương tỉ giảo của Đại học Southern California, nhận xét "...chiến tranh làm sắc bén và tăm tối viễn ảnh tinh thần của thế hệ 1936, thế hệ có cái nhìn trưởng thành với nghi ngại, đắng cay và hoang mang." Nhiều tác phẩm khác của Cela đã rút chất liệu từ kinh nghiệm nội chiến như "The Hive," như "San Camilo, 1936," như "Mazurka for Two Dead Men." Viết đối với ông là "hành vi duy nhất giúp tôi xao lãng và khiến tôi quên đi cái bi kịch thật sự đau buồn của đời sống thường hằng."

Trong bài diễn văn nhận giải Nobel, Camilo José Cela cho biết, "Tôi viết từ nỗi cô đơn và tôi nói từ nỗi cô đơn." Như bạn ông, nhà danh họa Picasso, Cela tin rằng "không có tác phẩm nghệ thuật để đời nào có thể hoàn tất ở ngoài nỗi cô đơn to lớn." Theo ông văn chương là "một vũ khí có thể mở đường cho những bước đi không ngừng hướng tới tự do."

Viết lại về kinh nghiệm đời sống sau Nobel, ông kể, "Tôi nhận được 37.310 điện tín và 110.109 bức thư, nếu tôi đếm không lầm, và trong nhiều tuần lễ tôi có nhiều khách và nhiều cú điện thoại đến nỗi không thể nào xếp vừa vặn vào trong 24 tiếng đồng hồ của mỗi ngày."

Giải Nobel đến khi Camilo José Cela ở Tây Ban Nha được nhắc tới vì vụ ly dị vợ là bà Rosario Conde sau 44 năm sống chung. Ông lập gia đình mới với ký giả đài phát thanh Marina CastaỦo, trẻ bằng nửa số tuổi ông.

Ông còn được biết tới như người thích gây sốc dư luận. Chẳng hạn năm 1968, ông cho xuất bản cuốn tự điển "Secret Dictionary" trong đó ông tổng hợp tất cả những chữ, câu của đường phố thường chỉ được nói chứ không đủ đẹp để in ra trên sách báo. Trong thập niên 80, ông xuất hiện trên một chương trình truyền hình nhiều kỳ trong đó ông quay trở lại vùng nơi ông đã đến và viết lại thành quyển "Hành Trình Đến Vùng Alcarria" 30 năm trước. Lần trở lại này, ông ngồi trên xe Rolls-Royce do một phụ nữ đẹp mặc áo dài trắng lái. Ở Tây Ban Nha, ông là người nổi tiếng vì ham chuộng ăn uống, du lịch và phụ nữ. Ông thường du lịch trên xe Rolls-Royce và thỉnh thoảng nhắc đến tên nhà văn Mỹ Ernest Hemingway, "Chúng tôi đi coi đấu bò nhiều lần. Ông ta là một nhà văn tài ba và là một người bạn tốt."

Camilo José Cela mất đi, để lại một gia tài văn chương khá đồ sộ gồm 14 quyển tiểu thuyết và 60 tác phẩm khác như thơ, luận văn và du ký. Ông cũng để lại một vụ án chưa giải quyết xong trong đó nhà văn nữ không tên tuổi, Carmen Formoso Lapido, thưa ông tội đạo văn. Cô này cho rằng tác phẩm của cô xuất bản vào đầu thập niên 90 là nội dung của quyển "La Cruz de San Andres" của Cela, tác phẩm được giải Planeta ở Tây Ban Nha năm 1994.

Ngoài giải Nobel, Camilo José Cela còn được trao các giải văn chương khác trong nước ông như Prince of Asturias prize for Letters, Miguel Cervantes Prize, National Literature Prize và Planeta Award. Ông còn nhận được nhiều bằng danh dự khác từ nhiều đại học trên thế giới.

Cái chết của nhà xã hội học

Thứ Tư, 23 tháng Giêng, 2002, là ngày đáng ghi nhớ ở Pháp, hoặc ít nhất, trên báo chí Pháp. Trong ngày, nhà xã hội học Pierre Bourdieu mất, ở tuổi 71, vì bệnh ung thư tại bệnh viện Saint-Antoine de Paris. Ông không phải là một người như mọi người khác. Cái chết của ông cũng không như mọi cái chết khác. Đối với những ai không biết ông, điều này không đến từ cuộc đời hay sự nghiệp của người quá cố, nhưng người ta có thể thăm dò, đo lường và biết được từ hàng loạt các tờ báo, tạp chí có uy tín ở Pháp nói về biến cố đặc biệt này.

Báo Le Monde dành cả số đặc biệt để nói đến Pierre Bourdieu, gọi ông là "một trong những nhà tư tưởng lớn của xã hội hiện đại." Tờ Figaro coi ông là "một trong những nhà trí thức quyền uy nhất trong thế hệ của ông." Qua liên mạng, lần đầu tiên người ta có thể có cái nhìn tổng quát lẫn chi tiết về những bài vở, lâu nay, bàn về Pierre Bourdieu lẫn tác phẩm của ông. Điều này không phải chỉ riêng ở các báo lớn như Le Monde, L'Express, Libération, Nouvel Observateur, Le Monde Diplomatique, Lire... mà còn qua các báo này, nhờ những các điểm nối (link), người ta còn biết đến nhiều địa chỉ khác nhau trên liên mạng, một số xa lạ, ít được biết đến, đã được thiết lập từ lâu, riêng biệt dành cho Pierre Bourdieu. Những lên tiếng nhân cái chết của ông không phải chỉ là tiếng nói của báo chí. Tổng thống Pháp Jacques Chirac coi ông là "một trong những nhà trí thức tài năng nhất, được biết đến nhiều nhất trên thế giới." Thủ tướng Pháp Lionel Jospin coi ông là "bậc thầy của khoa xã hội học hiện đại và là một khuôn mặt lớn của đời sống trí thức của đất nước chúng ta." Triết gia Jacques Derrida là người có lý do để xúc động trước cái chết này. Derrida nhắc lại thời cả hai còn theo học trường Ecole Normale, lúc Bourdieu chưa dấn thân vào xã hội học. Cuộc đối thoại giữa họ với nhau xoay quanh triết học, đặc biệt về Leibnitz và Heidegger. Họ còn gặp lại nhau ở Algérie, lúc chiến tranh chưa bùng nổ làm thay đổi hoàn toàn con đường lựa chọn của Bourdieu. Họ còn gặp lại nhau sau đó trên lựa chọn dấn thân của mình và không phải lúc nào cũng đồng ý với nhau. Dù gì đi nữa, Derrida coi Bourdieu là "một khuôn mặt lớn và độc đáo của xã hội học hiện đại" và "tôi đã mất đi một nhân chứng và một người bạn không thể thay thế được."

Và không phải tiếng tăm của Pierre Bourdieu chỉ nằm trong biên giới Pháp. Từ lâu sách vở của ông được dịch và phổ biến trên nhiều thứ tiếng khác nhau, đặc biệt ở Đức, nơi tên tuổi ông được biết đến nhiều nhất và kế đến là Hoa Kỳ (trong thế giới Anh ngữ). Từ Đức, triết gia Jurgen Habermas đón nhận tin buồn như cái mất của "một trong số nhà xã hội học lớn sau cùng của thế kỷ XX."

Pierre Bourdieu sinh ngày 1 tháng Tám, 1930 ở Denguin, thuộc vùng Gascon, dưới chân rặng Pyrénées. Cha ông là nông dân sau chuyển sang ngành bưu điện. Thuở nhỏ ông là một học sinh giỏi tại các trường học ở địa phương. Ông được nhận vào trường Ecole Normale Supérieure ở Paris sau đó, là cái nôi truyền thống của giới trí thức Pháp. Ở đấy ông theo ngành triết học trước khi chuyển sang xã hội học. Dù tốt nghiệp hàng đầu, ông vẫn mang mặc cảm của kẻ ngoại cuộc. Trong cuộc trả lời phỏng vấn cho báo New York Times một năm trước đây, ông thú nhận, "Nhiều việc tôi làm là phản ứng lại trường Ecole Normale. Tôi nghĩ nếu tôi không trở thành một nhà xã hội học, có lẽ tôi sẽ trở nên rất phản trí thức. Tôi kinh hoàng bởi thế giới đó."

Hai năm giảng dạy tại Đại học Alger, khởi đầu từ năm 1958 đã làm thay đổi hẳn Pierre Bourdieu. Từ kinh nghiệm ở Algerie, tác phẩm đầu tiên của ông ra đời, quyển Sociologie d'Algérie. Trở về Pháp, ông dạy học một thời gian ở Lille rồi Paris. Trong nhiệm sở sau cùng, ông là giáo sư trưởng ban xã hội học của Đại học Collège de France.

Quyển La distinction, critique sociale du jugement (1979 ở Pháp, 1984 ở Hoa Kỳ) được International Sociological Association coi là "một trong số 10 tác phẩm về xã hội học quan trọng nhất của thế kỷ XX." Một số tác phẩm quan trọng khác của ông được nhắc đến và tạo nhiều tranh luận như các quyển La noblesse d'Etat, Homo Academicus, Méditations pascaliennes, Sur la télévision, La domination masculine, L'ontologie politique de Martin Heidegger... Những điều ông viết đụng chạm đến mọi mặt của đời sống: văn hóa, nghệ thuật, chính trị, giáo dục, truyền thông, văn chương. Và như thế, ông cũng đụng chạm đến mọi người, mọi giới, nhất là giới trí thức. Ông tấn công các nhà "trí thức toàn năng" vì họ lạm dụng vị thế xã hội đặc biệt của mình (được lòng tin của quần chúng) để nói đến những chuyện, những điều ở ngoài lãnh vực sở trường của họ. Nói đến chiến tranh ở Algérie, ông cho rằng "... người Pháp không hiểu chút gì về chuyện xảy ra ở Algérie phần lớn chỉ vì giới trí thức lên tiếng về vấn đề đã chẳng biết gì về điều đó." Bàn đến truyền hình, ông coi đó là "khí cụ biểu tượng của áp bức," một hệ thống "fast food văn hóa." Bằng mọi cách, ông biết, "tôi có rất nhiều kẻ thù."

Nhưng Pierre Bourdieu không phải chỉ là một học giả của tháp ngà, ông còn là một trí thức dấn thân theo đúng truyền thống trí thức Pháp. Tên tuổi ông xuất hiện trên báo hầu như hàng tuần. Ông tin rằng "xã hội học là môn thể thao chiến đấu" (La sociologie est un sport de combat). Ông tham gia hàng ngũ những người chống lại toàn cầu hóa, chống lại bất công xã hội, ủng hộ cuộc đình công của công nhân đường sắt, sinh viên, và kẻ không nhà. Qua ngôn ngữ của Jacques Chirac, Pierre Bourdieu là "một nhà tư tưởng chiến sĩ và là một chiến sĩ của tư tưởng" (un penseur militant et un militant de la pensée).

Cùng viết với Pierre Bourdieu trong quyển An Invitation to Reflexive Sociology, ông Loic Wacquant, giáo sư xã hội học của University of California ở Berkeley, cho biết "điều buồn nhất" là Bourdieu qua đời giữa lúc ông đang thực hiện nhiều dự tính mới khác nhau. Chỉ riêng trong năm 2001, Bourdieu đã xuất bản: Wittgenstein: dernières pensées, Langage et pouvoir symbolique, Inconscients d'école. Một vài tháng trước, ông còn cho ra đời quyển Science de la science et réflexivité, một tác phẩm phân tích khía cạnh xã hội của thế giới khoa học, trong đó ông phê phán mạnh mẽ toàn diện các nghiên cứu khoa học đã "trăm hoa đua nở" trong thập niên qua. Ba quyển sách khác sẽ ra đời trong vòng vài tuần sắp tới. Đầu tiên là tuyển tập các bài viết chính trị có tên Interventions politiques: 1961-2002, dầy 500 trang. Thứ hai, một thư mục tác phẩm của ông gồm 45 quyển và 500 bài viết. Sau cùng, một tác phẩm Bourdieu viết xong trước khi lâm bệnh, Le bal des célibataires, gồm những bài tiểu luận về dân tộc học của quê ông. Tác phẩm bắt đầu bằng nhận xét về một buổi dạ vũ đêm thứ Sáu, ở đó những người đàn ông đều đứng quanh, không nhảy. Từ đó, ông đi đến những phân tích về quan hệ hôn nhân, đổi thay trong gia đình, sự mất giá biểu tượng của nông dân... Những người đàn ông đó từng là láng giềng và là bạn ông khi xưa. Loic Wacquant coi đó là "một quyển sách đẹp, rất thân tình, nhưng cũng đồng thời là một nghiên cứu nổi bật về dân tộc học." Bên cạnh đó, Bourdieu còn một tập bản thảo chưa hoàn tất về họa sĩ Manet ông đã viết từ nhiều năm qua. Tác phẩm cho thấy cuộc cách mạng mà Manet mang lại trong ngành hội họa cũng ngang bằng với ảnh hưởng lớn của nhà văn Flaubert trong lãnh vực văn chương.

Phần ông, giáo sư Loic Wacquant nghĩ rằng điều Bourdieu đã thực hiện cho ngành khoa học xã hội cũng giống như Manet và Flaubert thực hiện trong lãnh vực của họ. "Chúng ta phải cần chừng 30 đến 50 năm nữa mới thực sự lãnh hội đầy đủ những gợi ý trong tác phẩm của ông."

Cái chết của triết gia

Đầu năm, cái chết của Robert Nozick (23 tháng Giêng, 2002) đã là bản tin quan trọng trên các báo và tạp chí lớn và trong giới hàn lâm thế giới. So với Camilo José Cela và Pierre Bourdieu, đây là cái chết trẻ. Nozick mất ở tuổi 63 vì bệnh ung thư bao tử. Tạp chí Spectator ở Anh quốc coi cái chết của ông "quan trọng hơn" một mẩu cáo phó trên cột báo phân ưu. Tờ Times (Anh quốc) nhận xét rằng nhiều luận cứ tinh thần của thế kỷ XX ở thế giới Tây phương phát xuất từ sự tranh chấp giữa hai khuynh hướng bảo thủ và tự do. Và nếu cuộc tranh luận trong lãnh vực kinh tế xoay quanh tư tưởng của Keynes và Hayek, trong lãnh vực chính trị ở giữa nhãn quan của Roosevelt hay Beveridge với Thatcher hay Reagan, thì trong lãnh vực triết học có thể nói cuộc tranh luận nằm ở hai giáo sư triết học Harvard là John Rawls và Robert Nozick.

Robert Nozick, ông là ai? Sinh ở Brooklyn, ngày 16 tháng Mười Một, 1938, Robert Nozick là con của Max Nozick, trong một gia đình tiểu thương gốc Nga di cư. Ông theo học trường công ở Brooklyn và tham gia vào sinh hoạt tả phái trong chi nhánh Đảng Xã Hội Chủ Nghĩa của Norman Thomas. Nozick đến với triết học qua bản in bìa giấy của quyển "Cộng Hòa" của Platon lúc nào ông cũng mang theo trong mình trên đường phố Brooklyn. Điều này được ông ghi lại trong tác phẩm The Examined Life" (1989). Ông nhớ lại đó là những năm 15 hay 16 tuổi gì đó của ông. Ông đọc chỉ một phần nào đó của quyển "Cộng Hòa" thôi và hiểu ít hơn đọc, nhưng biết rằng "đó là một điều tuyệt vời." Ông theo học tại Columbia College, đậu bằng BA năm 1959. Cũng năm đó, ông lập gia đình với Barbara Fierer, có hai con với cô. Sau đó ly dị, ông kết hôn với nữ thi sĩ Gjertrud Schnackenberg. Ông tiếp tục theo học tại Đại học Princeton, lấy bằng MA năm 1961 và bằng PhD năm 1963 trong khi làm giảng viên triết tại đây. Chính ở Princeton, ông bắt gặp phải những luận cứ bảo vệ cho chủ nghĩa tư bản. Trả lời cho tạp chí Forbes năm 1975, Nozick cho rằng ban đầu, ông thấy "chẳng có luận điểm nào ra hồn." Kế đến khi đi vào tận gốc rễ của vấn đề, ông thấy những luận điểm đó thuyết phục hơn, "chủ nghĩa tư bản là hệ thống tốt đẹp nhất, nhưng chỉ có người xấu mới tin như vậy." Rồi sau cùng, vào một lúc nào đó, "lý trí và tình cảm tôi hòa làm một."

Sau một thời gian giảng dạy tại Đại học Princeton và Rockekeller, Robert Nozick đến Harvard và trở thành giáo sư thực thụ ở đây vào năm 1969, lúc ông 30 tuổi. Đó là thời trăm hoa đua nở của các học thuyết chính trị trong giới hàn lâm Tây phương, dẫn đầu ở châu Ấu bởi Louis Althusser và Jurgen Habermas. Từ năm 1981 cho đến 1984, Nozick giữ chức trưởng ban phân khoa triết học của Harvard. Đến năm 1998, ông được phong chức Giáo Sư Đại Học (University Professor), một chức vị danh vọng nhất của Harvard, lúc đó chỉ có 17 giáo sư được khác giữ chức vị này. Ông còn là thành viên của các tổ chức như Guggenheim Foundation, Rockefeller Foundation, National Endowment for the Humanities và Center for Advanced Study in the Behavioral Sciences. Trong cuộc đời giảng dạy, ông còn nhận chức giáo sư triết tại Arthur Kingley Porter năm 1985 và chức giáo sư tại Đại học Joseph Pellerino năm 1998. Mùa xuân 1997, ông giới thiệu sáu bài giảng thuyết về John Locke ở Đại học Oxford. Khóa mùa thu ở Harvard vừa qua, ông giảng dạy về Cách Mạng Nga và dự định sẽ tiếp tục với cùng đề tài trong khóa mùa xuân, nhưng không có dịp may này, bất cứ một lần nào nữa. Quyển sách "Invariances: The Structures of the Objective World" của ông do Harvard University Press phát hành vào tháng Mười, 2001, trở thành tác phẩm sau cùng của ông. Theo giáo sư luật của Felix Frankfurter, ông Alan Dershowitz, một tuần trước khi Nozick mất, ông vẫn còn thảo luận và phê phán tác phẩm của các đồng nghiệp, "Tinh thần ông vẫn còn minh mẫn và sắc bén cho đến phút sau cùng." Ông vẫn còn tiếp tục thăm dò, kiếm tìm học hỏi, khai thác những vấn đề mới. Ông là người đã biết chứng bệnh ngặt nghèo của mình từ năm 1994.

Năm 1971, John Rawls xuất bản quyển "Theory of Justice" đưa ra lý thuyết hỗ trợ cho một nhà nước phúc lợi bằng việc phân phối công lý. Nhà nước theo Rawls có quyền phân chia sự thịnh vượng để giúp đỡ người thất thế. Lý thuyết có vẻ như công bằng và vô tư đó không xa lạ lắm đối với tinh thần của thập niên 1960, thập niên của nhiều trào lưu triết lý chính trị khoác nhiều màu áo khác nhau từ cấp tiến, tả phái, tân tả cho tới mác-xít. Robert Nozick đã trả lời bằng tác phẩm "Anarchy, State and Utopia" (1974). Quyển sách được trao giải National Book Award năm 1975 và tạp chí The Times Literary Supplement xếp vào một trong số một trăm tác phẩm có ảnh hưởng lớn mạnh nhất kể từ sau Thế Chiến Thứ Hai. Và triết gia xã hội Úc, Peter Singer viết trên tờ The New York Review of Books coi đó là "một biến cố chính yếu trong triết học chính trị hiện đại." Sách được dịch ra mười một thứ tiếng khác nhau. Nozick chống lại lý thuyết "phân phối công lý" của Rawls bằng quyền tối thượng của cá nhân và chủ trương "một nhà nước tối thiểu" chỉ đóng vai trò "người gác đêm" bảo vệ dân chúng chống lại bạo lực, trộm cắp và bảo đảm việc thi hành các khế ước. Bài viết của Alasdair Palmer trên Spectator cho rằng, "Robert Nozick, ít nhất, đóng một phần trách nhiệm trong thực tế đã làm cho công lý xã hội như một lý tưởng bị loại trừ ra khỏi mọi luận cứ chính trị chính lưu." Ngôn ngữ chính trị trước Nozick được trên niềm tin tưởng là tự do và công lý xã hội có thể "chung sống hòa bình." Robert Nozick viết, "Không có nguyên tắc mẫu mực nào [về công lý xã hội] có thể được thực hiện mà không liên tục can dự vào đời sống của cá nhân. Bất cứ mẫu mực phân phối nào bằng với bất cứ bộ phận bình đẳng nào qua thời gian đều bị đảo ngược bởi hành động tự nguyện của cá nhân." Ông đã đặt ra câu hỏi chết người thế này: nếu việc phân phối bình đẳng ban đầu là chính đáng và dân chúng tự nguyện đi đến một việc phân phối mới không bình đẳng khác bằng cách chuyển giao một phần sở hữu của họ thừa hưởng được [từ sự phân phối bình đẳng] điều này có phải cũng chính đáng? Ông lấy thí dụ mỗi người chịu bỏ ra thêm 25 xu bên cạnh tiền mua vé vào cửa xem Wilt Chamberlain đánh khúc côn cầu. Một triệu người như thế sẽ mang lại $250 ngàn cho Chamberlain. Như thế, có nghĩa là sự lựa chọn tự do của cá nhân sẽ tiêu diệt mọi toan tính bảo tồn khuôn mẫu bình đẳng của công lý xã hội.

Trên quan điểm cá nhân, tự do và quyền sở hữu là căn bản và bất khả xâm phạm, Anarchy, State and Utopia nhận được sự chào đón nồng nhiệt của từ hữu phái mặc dù không phải mọi luận điểm do Robert Nozick đưa ra đều được họ ủng hộ. Trong một bài viết cho tờ The New York Times Magazine, ông nói họ ủng hộ luận điểm hỗ trợ cho thị trường tự do nhưng lại không thích luận cứ bảo vệ tự do cá nhân như trong trường hợp ông bảo vệ quyền này của người đồng tính luyến ái.

Trong tác phẩm Philosophical Explanations (1981) Robert Nozick là người đề xướng ra chủ nghĩa đa nguyên triết học. Ông giải thích trong phần giới thiệu là "Có rất nhiều quan điểm triết học khác nhau, không tương hợp nhau, cũng không thể phủ nhận hay đơn giản bài bác." Ông nghĩ đến việc đổi thay, gọt giũa các quan điểm triết học đó, giữ lấy phần chân lý trong từng quan điểm, tạo thành những bộ phận tương hợp của một quan điểm mới. Ông đưa ra một cái nhìn triết lý mới trong đó đặt trọng tâm vào các giải thích hơn là bằng chứng. Quyển "The Examined Life" (1989) là một phát triển thêm thuyết đa nguyên triết học của ông.

Robert Nozick còn là tác giả của The Nature of Rationality (1995), Socratic Puzzles (1997) và Invariances: The Structures of the Objective World (2001).

Thượng Văn

 

■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■
Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách
Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập