người việt
|
Khi những câu thì thầm bằng tiếng Việt: "Coi chừng nó là cảnh sát đó anh Hai!", hay là "Kêu cậu Sáu dắt tụi nó ra..." có thể nghe thấy trên đài truyền hình Úc Đại Lợi, không phải chương trình Việt ngữ, mà là chương trình thường ngày bằng Anh ngữ cho người địa phương, thì phải có cái gì không ổn.
Câu đầu, từ miệng một cô gái. Cô ngồi xổm trong bóng tối, nói với anh cô khi thấy một người da trắng tiến lại gần. Anh cô nhè trong miệng ra cái gì đó rồi dúi nhanh vào tay người khách lạ. Người khách không phải là cảnh sát như cô lo lắng. Anh ta là một phóng viên, chỉ có máy thu hình dấu trong áo, đang làm phóng sự về nạn buôn bán bạch phiến ở Cabramatta, gần Sydney. Người Việt hay gọi nơi này là "thủ đô" tỵ nạn. Báo chí Úc cũng gọi là thủ đô, nhưng mà là "thủ đô ma túy".
Câu thứ hai cũng từ miệng một cô gái - bé gái thì đúng hơn - trong phóng sự về những ổ mãi dâm trẻ em ở thủ đô Nam Vang của nước Căm Bốt. Đoạn phim được thâu kín đáo dùng máy thu hình dấu trong xách tay.
Riêng câu đối thoại dưới đây thì khác. Âm thanh và hình ảnh đều được ghi với sự thoả thuận của các bên tham dự, trong một phim tài liệu về bệnh Liệt kháng ở Thái Lan:
- Cô có cảm tưởng thế nào khi biết mình có mang vi khuẩn HIV/AIDS ?
- Dạ, em ...đỏ mặt!
Lạy trời, phải xanh mặt chứ sao lại đỏ, hả trời ? Và lại nữa, cô trả lời bằng tiếng Việt. Cái thứ tiếng người ta bảo là hay lắm, trong sáng lắm, cao quí lắm mà gia đình Việt Nam nào ở ngoại quốc cũng mong mỏi, một cách khá vô vọng, cho con cháu mình biết nghe và nói.
Mỗi khi nghe có tiếng Việt, nhiều người sẽ réo gọi con cháu họ: "Này con, nghe người ta nói tiếng Việt trên đài truyền hình toàn quốc nè". Thế nhưng khi tiếng Việt (hay người Việt) được đề cập đến trên các hệ thống thông tin đại chúng thì thường là những chuyện chẳng hay ho gì. Nếu không về những giòng họ lẫy lừng như Đinh, Ngô (?), Lý, Trần... trong chuyện đâm chém, bắn giết, tù tội thì lại là "Combat Women"[1] - cũng thuộc loại đâm chém, bắn giết, tù tội.
Tiếng Việt hình như đang làm chúng ta xa nhau hơn, thay vì đem chúng ta lại gần nhau. Biết nhau quá thành ra phải... dọn nhà đi chổ khác, hay bỏ nước ra đi. Tiếng Việt hình như còn làm chúng ta đau đớn, thay vì xoa dịu nổi đau. Câu trả lời "Dạ, em đỏ mặt!" chắc sẽ làm vài người trong chúng ta thấy xót xa.
Cô gái còn trẻ, rất trẻ, tỏ ra vô cùng lúng túng và thẹn thùng khi trả lời câu hỏi của một phóng viên Úc. Vừa nấp sau vai một cô bạn khác, cô vừa trả lời ngập ngừng, qua một viên thông ngôn . Cô cho biết công việc bận rộn lắm, mổi ngày cô phải tiếp từ mười đến mười lăm người khách. Ngay cả những ngày có kinh nguyệt cũng không được nghỉ. Bạn đã đoán đúng rồi. Cô là một cô gái Việt Nam, làm "nghề" gái điếm ở Vọng Các.
Cho dù có trang điểm thật dầy bằng loại mỹ phẩm của một ngân sách rất thấp, nhưng cô vẫn không dấu được nước da vàng xanh đau yếu trên cánh tay áo ngắn. Lẽ ra làm nghề này các cô phải dạn dày, lì lợm, trơ trẻn. Nhưng ở đây sao lại có một cô gái điếm vô tội như thế này, và lễ độ nữa. Không biết hoàn cảnh khốn nạn nào đã đưa cô vào cái nghề bất nhơn này. Cái thứ nghề mà càng thâm niên chừng nào thì lại càng "bèo" chừng nấy.
Có phải cô là một thuyền nhân hay bộ nhân Việt Nam không may? Có phải cô là một món hàng của các tổ chức buôn nô lệ tình dục qua biên giới? Hay cô chỉ là một cô gái Việt Nam "đi làm ăn" xa xứ? Đó là chưa nói tới những cô gái nhắm mắt đưa thân, lấy chồng ngoại quốc qua các công ty môi giới hợp pháp - nhưng vô luân ở Việt Nam ngày nay.
Câu nói năm xưa của Trần Bình Trọng chắc chắn phải được thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh nước nhà trong Thế Kỷ 21. Dưới các triều đại Cộng Sản phải đọc là: "Thà làm đĩ bốn phương còn hơn làm dân nước ...Bác".
Những cô gái Việt Nam vẫn là đề tài không bao giờ cạn của các thi, văn, hoạ, nhạc sĩ Việt Nam. Khi thì chính xác, như:
...
Người con gái một hôm qua làng
Đi trong đêm đêm vang ầm tiếng súng.
Người con gái chợt ôm tim mình,
Trên da thơm vết máu loang dần...
Một hình ảnh đau thương, nhưng thật, trong "Người Con Gái Việt Nam Da Vàng" của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, thời chiến.
Hay là:
...
Cô gái trần truồng ngồi trước sân phơi ghẻ.
Ôi cô gái Việt Nam sao không biết thẹn thùng...
Qua một nhạc phẩm của người tù cải tạo Hà Thúc Sinh, thời bình.
Nhưng những "Cô Gái Sài Gòn Đi Tải Đạn" là ai, biết tìm cô ở đâu bây giờ?
Một thanh niên Hà Nội đầy nhiệt huyết, sau khi đất nước thống nhất vào Sài Gòn sinh sống. Khi học đại học đã tò mò hỏi các nữ sinh Sài Gòn về những người được mô tả trong nhạc phẩm " Cô Gái Sàigòn Đi Tải Đạn" này thì được trả lời: "làm dzì có dzụ đó ...cha nội!".
Người con gái Việt Nam nước da vàng vọt, gầy ốm, làm đĩ, mắc bệnh liệt kháng ở thủ đô Vọng Các chắc nay đã chết vì căn bệnh. Hàng chục ngàn người Việt khác ở quê nhà cũng vàng vọt, cũng làm đĩ, cũng đang mắc căn bệnh ngặc nghèo này. Họ bị gia đình chối bỏ, xã hội xa lánh và các thống kê chính thức không muốn biết tới. Họ cũng đang chờ chết.
Ngoài ra, phải kể tới vô số những người Việt Nam ở thủ đô các nước giàu có trên khắp thế giới cũng đang mắc phải cái thứ bệnh quái ác này, ở một dạng khác. Họ không chết chóc gì cả. Ngược lại, họ còn sống vui, sống mạnh, sống hồn nhiên vô tư. Họ vẫn ăn ngon, mặc đẹp, ngủ ngon giấc và ... lên cân đều đều là khác.
Bạn có thể tìm thấy họ một cách dể dàng. Hãy xem chị người Việt ở bàn bên cạnh. Chị là người rất nhân từ và rộng lượng. Chị hay thương xót người và siêng năng việc thiện. Chị nhìn ai cũng thấy Bồ Tát. Biết chị hay đi chùa, tôi nói với chị về Hòa thượng Thích Huyền Quang. Chị nói chị có biết. Mừng quá, bèn mời chị ký tên vào thỉnh nguyện thư yêu cầu nhà nước trả tự do cho một bậc tu hành. Tiếc thay chị không thích chính trị, thành ra chị không ký. Chị nói thêm là việc nhốt một người tu hành là việc chính trị, không phải tôn giáo.
Tới khi nhận thỉnh nguyện thư yêu cầu trả tự do cho linh mục Nguyễn Văn Lý tôi không dám mời chị ký tên. Lần này tìm tới anh chàng cuối dãy trong hãng cho nó chắc ăn. Hồi xưa anh là chủng sinh. Khi chính quyền cộng sản ra lệnh đóng cửa Đại Chủng Viện thì anh về, không tu nửa, rồi vượt biên. Làm việc chung, có lần chuyện trò thấy anh "trần tục" quá tôi lấy chuyện đi tu của anh ra đùa. Nhưng anh không thích đùa với chuyện đó. Anh đổi ngay nét mặt, "nghiêm túc" cho tôi biết rằng chỉ có cá nhân anh như thế thôi, chứ Dòng thì không như vậy. Khi được mời ký tên vào thỉnh nguyện thư anh vừa nhận tờ giấy vừa lầm bầm: "Ở với cộng sản vô thần mà đòi tự do tôn giáo!". Anh giử tờ thư, rồi sau đó trả lại. Nhìn qua không thấy chữ ký của anh.
Là người chưa bao giờ mất ngủ vì những việc lẩm cẩm này, nhưng mất ăn thì có. Anh không còn rủ tôi đến các buổi BBQ nửa, và chị cũng không còn thỉnh thoảng đem cho món chay chị mới học nấu.
Không "mất ăn" thì là gì?
Nói tới thỉnh nguyện thư đối với một nhà nước cộng sản thì không thể không nói tới dự án Varela (Valera Project) hồi tháng Năm, 2002. Dự án này do phong trào Christian Liberation của những người dân chủ Cuba chủ xướng.
Dựa vào một điều khoản của Hiến pháp Cuba, hể thu thập được 10,000 (mười ngàn) chữ ký thì được phép đệ trình một số ý kiến cho quốc hội, và quốc hội phải cứu xét.
Dự Án Varela đã thu thập được hơn 11,000 (mười một ngàn) chữ ký của dân Cuba trong nước. Con số này tương đương với một phần ngàn dân số Cuba hiện nay. Thỉnh nguyện thư đòi một cuộc trưng cầu dân ý về việc trả tự do cho các tù nhân chính trị, về quyền tự do ngôn luận, hội họp, làm ăn buôn bán và quyền được bầu cử tự do, công bằng.
Dự án này được sự ủng hộ rộng rãi trên các diễn đàn quốc tế của tổng thống Hoa Kỳ George Bush, của thủ tướng Tây Ban Nha, của thượng viện Hoa Kỳ, của Liên hiệp các nước Ấu châu. Nhưng đáng kể nhất có lẽ là sự ủng hộ của cựu tổng thống Hoa kỳ Jimmy Carter ngay trên đài truyền hình nhà nước Cuba.
Nhà nước Cuba đã vô hiệu hoá cuộc vận động này một cách dể dàng và "hợp pháp". Họ cũng tổ chức một cuộc thu thập chữ ký để xác quyết niềm tin vào hệ thống chính trị, kinh tế và xã hội hiện nay tại Cuba. Lần này có cả chữ ký của chủ tịch nhà nước Fidel Castro. Con số chữ ký lên tới hơn bảy triệu một cách không khó khăn gì.
Nhiều người Cuba bất đồng chính kiến ở Hoa Kỳ đã chỉ trích cuộc vận động này. Họ cho rằng đi xin xỏ một quốc hội bù nhìn thì chẳng khác nào công nhận nó, làm cho nó hết bù nhìn. Họ cũng có cái lý của họ, nhưng không đưa ra được một cách nào khác hơn.
Gần đây trong cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại có hai cuộc thu thập chữ ký đáng lưu ý. Đó là thư phản đối hiệp định biên giới Việt-Hoa và bản án tàn bạo dành cho luật sư Lê Chí Quang trong nước.
Cả hai đều không gây được một tiếng vang nào. Một danh sách thì lên tới nhiều trăm ngàn chữ ký. Những ai biết đếm không khỏi tự hỏi: "họ lấy đâu ra lắm chữ ký vậy?". Còn danh sách ủng hộ luật sư Lê Chí Quang thì, dù đã mấy tháng trời, vẫn chưa lên tới con số một ngàn.
Ký tên trên một Website hay trên đường phố có một điểm chung: Chỉ có người ký biết họ dùng tên của ai. Tên giả, địa chỉ giả, và ngay cả ... tổ quốc giả là chuyện không thiếu trong các danh sách này.
Thỉnh nguyện thư chưa bao giờ là một vũ khí đáng kể trong bất cứ cuộc đấu tranh chống lại một chế độ độc tài chuyên chế nào. Chưa bao giờ, và sẽ không bao giờ.
Lý do đơn giản là vì nó vô dụng.
Nó là con dao rọc giấy bằng ngà, có nạm bạc làm đồ trang trí trong văn phòng. Nó là một bình hoa tuyệt đẹp nhằm tô điểm thêm cho các thể chế thật sự dân chủ.
Dùng nó để tháo gở một con tàu đắm rỉ sét hơn nửa thế kỷ trong vũng lầy của chúng ta là một chuyện... bạn biết rồi: tiếu lâm.
Thế nhưng tại sao những tổ chức đấu tranh nghiêm chỉnh nhất cũng dùng cái thứ công cụ giỡn chơi này? Và, dù biết vậy, cá nhân tôi cũng ký!
Nó vô dụng thật, nhưng không tới nổi hoàn toàn vô dụng.
Các nhóm đấu tranh cho dân chủ phải dùng, vì không lẽ họ không làm gì cả! Dù nó chỉ là mặt nổi, nhưng nó có giá trị tinh thần đối với những người đấu tranh âm thầm, đơn độc trong nước. Riêng các cá nhân ở hải ngoại thì nó có thể giúp họ bớt hèn nhác đôi chút...
Cố tổng thống Thomas Jefferson, vị tổng thống hay triết lý của Hoa Kỳ, hồi 1809 đã nói: "Đồng tiền, chứ không phải đạo lý, mới là nguyên tắc làm ăn của các nước văn minh." (Money, not morality, is the principle commerce of civilized nations).
Hầu hết người Việt tỵ nạn cộng sản sống ở các quốc gia văn minh. Chúng ta đã bị (hay tự nguyện) thương mại hoá hết rồi thì cũng là điều tự nhiên. Lo toan chuyện đất nước, chuyện đồng bào thì chắc chắn chỉ mất tiền. Trước mắt không chừng lại mất tuốt chút tự do đã mua được nhờ mấy lượng vàng.
Nhà mới, xe mới, cuộc sống mới cũng chính là mãnh lực mới đang giam hảm chúng ta.
Công cuộc vận động tự do dân chủ cho quê nhà không có gì sáng sủa. Một việc mà nhiều người bỏ cuộc hơn nhập cuộc thì ai cũng biết kết thúc sẽ ra sao. Một tia hy vọng le lói, ấy là khả năng của những người mới nhập cuộc. Dù ít, nhưng xem ra họ có cái nhìn và những phương thức thực tế hơn.
Chờ mãi không thấy nhạc sĩ Nam Lộc viết thêm bài "Người di tản...hết buồn" để kết thúc đoạn đời di tản.
Trà Bồng.
[1] Phim tài liệu của Úc chiếu trong chương trình "About Us" trên hệ thống truyền hình sắc tộc SBS, Úc Đại Lợi, nhân ngày Quốc Tế Phụ Nữ 08/03/2002. Phim ca tụng những người phụ nữ Việt Cộng trong chiến tranh Việt Nam.
■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■
Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách
Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập