Takeshi Nakayoshi - Land Poem

người và ta
nhân bàn về thơ gia-nã-đại pháp

nguyễn vy khanh

 

Tỉnh bang Québec của nước Canada có một lịch sử đặc biệt. Bị mẫu-quốc Pháp bỏ rơi trong cuộc chiến thuộc địa với Anh quốc, trải qua nhiều thế kỷ bị đô hộ, người Canada nói tiếng Pháp chỉ thật sự lấy lại độc lập văn hóa từ thập niên 1960, văn hóa, giáo dục đưa đến độc lập chính trị và tự túc kinh tế! Hiện nay dân Québec (tức Québecois/Quebecer - từ thay thế từ Canadien/Canadian đầu tiên vốn để chỉ người nói tiếng Pháp ở Canada) nhất là giới trí thức khuynh tả về chiều vẫn mơ độc lập (đã hai lần référendum thất bại!) dù trong thực tế so với trước thập niên 1960, họ đã độc lập nhiều hơn về chính trị, hành chánh, cũng như nắm lại nhiều quyền kinh tế, văn hóa, xã hội ! Khuynh hướng hoàn cầu hóa và địa thế Bắc Mỹ sẽ biến ý tưởng "quốc gia" mờ nhạt, mất tính thực tế và "độc lập" cùng mất cả lý do hiện hữu !

Thập niên 1960 đánh dấu bước đầu của cuộc hành trình văn nghệ độc lập, độc đáo và khác với văn học nghệ thuật từ chính quốc Pháp cũng như với Hoa-kỳ vừa hàng xóm vừa là mainstream! Với cuộc cách-mạng trầm lặng (Révolution tranquille), giáo quyền nhường chỗ cho chính quyền dân sự, giới trí thức và văn nghệ sĩ độc lập được hình thành. Đây thật ra là cả một hành trình đã được bắt đầu từ những năm 1830 với cuộc cách-mạng cùng năm từ mẫu quốc, giới trí thức ngày càng muốn tách rời khỏi giáo quyền và chống cả giáo quyền. Cho đến thời 1960, họ đã có những nhà thơ đặc sắc như Pamphile Le May, Emile Nelligan, Saint-Denys Garneau, Alain Grandbois,... và đề tài chính là "pays" tạm dịch là "tổ quốc" (poésie du pays). Với sự xuất hiện vào năm 1953 của nhà xuất bản Hexagone chuyên về thơ, thi ca cất cánh thay vì chỉ là sinh hoạt bên lề. Dòng thi ca này nhập cuộc, tra vấn đồng thời đòi hỏi và xác tín một cá thể và cá tính riêng cho dân Canada nói tiếng Pháp, một dân tộc riêng với mảnh đất riêng, một tiếng nói và ký ức tập thể riêng và đặc thù (caractère distinct du Québec) ! Nền thi ca này nêu rõ sự vong thân và biến chất của dân Québec.

Một dòng thi ca phản kháng (poésie de la résistance) lớn mạnh từ thập niên 1960, với những Gaston Miron, Paul-Marie Lapointe, Jacques Brault, ... Thiên tả nhất có Paul Chamberland chống mọi hình thức đô hộ của người Anh, từ ngôn ngữ, văn hóa đến kinh tế, thơ ông là những tiếng kêu đòi làm cách-mạng. Thập niên 1970 tinh thần mới rõ nét trong thi ca : chủ nghĩa quốc gia, độc lập, mạnh và công khai hơn. Từ mùa Thu 1970, Mặt trận giải phóng Québec (Front de libération du Québec) dùng bạo lực để đòi giải phóng chính trị và kinh tế khỏi tay người Anh, tuy không thành công nhưng đã làm mạnh thêm ý tưởng độc lập chính trị và lập đảng công khai. Thi ca đã đi trước thời cuộc, đã chuẩn bị từ trước với "đêm thi ca 28-3-1970" và tuyển tập Poésie actuelle đánh dấu sự trưỡng thành và tự tin của văn nghệ sĩ Québec, "con người đơn sơ cần được giải phóng" : một mặt chủ trì thi ca giải phóng (poésie de la libération), mặt khác chủ trì một trở về đời sống nguyên sơ để tìm lại những giá trị nhân bản! Các tạp chí EstuaireLa Barre du jour đẩy mạnh thêm dòng thi-ca không quy phục này (écritures insoumises). Thập niên 1970 dấn thân vào con đường hình-thức biến cải, trở thành của dục vọng và thân xác, nhắm đa dạng. Kết thúc dòng thi ca này là một thi nhạc sĩ , Gilles Vignault, với bài Mon pays - tương đương với bài Việt Nam! Việt Nam! của Phạm Duy, một quốc ca bán chính thức (quốc-ca Canada hiện nay là của người nói tiếng Pháp, éo le như quốc-ca VNCH là của Lưu Hữu Phước!):

"Mon pays ce n'est pas un pays, c'est l'hiver
Mon jardin ce n'est pas un jardin, c'est la pluie
Mon chemin ce n'est pas un chemin, c'est la neige
Mon pays ce n'est pas un pays, c'est l'hiver...
".

Trong suốt hai thập niên 1960 và 1970, thi ca từng là phương tiện cho đấu tranh chính trị và là biểu tượng sống động văn hóa. Nhờ ý thức của hai giới trẻ và trí thức, nhờ sự tin tưởng nhiệt thành của các nhà xuất bản và giáo dục cũng như sự in ấn và phổ biến dễ dàng, lịch sử thi ca của người Québecois sung túc và đa dạng mà một bài giới thiệu ngắn không thể bao quát hết. Ngoài những dòng thi ca chính được đề cao, bắt chước, còn có những dòng phản diện : thế hệ baby-boomers sinh sau chiến tranh và sống nhiều trước màn ảnh TV, họ theo những phong trào như Peace and love, chống chiến tranh Việt Nam và đề cao những giá trị ngoại lệ mà biến cố âm nhạc ở Woodstock NY đã làm lớn mạnh khuynh hướng underground, một ý thức hệ vượt lên trên ngôn ngữ, đòi hỏi tự do tuyệt đối, từ ngôn ngữ đến tình dục và nha phiến,..., tự túc - small is beautiful . đây là thế hệ nhà thơ theo flower power như Plume Latraverse, Lucien Francoeur, v.v.

Thi-ca của văn bản :

Từ cuối thập niên 1960, vì nhu cầu hiện đại và canh tân chính trị, thi-ca trở thành một loại văn bản được khai thác dưới ánh sáng hình thức và cấu-trúc. Không-gianđề-tài biến mất ở khuynh hướng này. Văn bản trở nên thân thể và ngược lại, như một trò ảo thuật gương soi làm sai lạc sự vật và cuộc đời. Với văn bản là chính, người làm thơ mạnh dạn đi tìm, khai thác mọi khả thể của văn bản, sự hình thành, đường đi, hệ thống. Phải dám phá đổ mọi ý thức hệ và quậy vọc con chữ. Paul Chamberland từng viết :"Làm thơ là một hành cử đoạn tuyệt : thi ca phá đổ, nếu không, không còn là thi ca"("L'acte d'écrire la poésie est un acte de rupture : la poésie est subversive ou elle n?esr pas poésie"). Ông trình làng những bài thơ không tựa ("Sans titre") muốn nói lên tính bất định và phức tạp, mâu thuẫn của thi-ca văn bản ông gọi là "Trật tự mới / Ordre nouveau". Cái hiện đại mà Nicole Brossard, nhà thơ năng nổ nhất, định-nghĩa là dám đụng đến mọi ý thức hệ, hiện đại trở thành cái thiết yếu bao trùm. Dám là qua sông, sống lưu xứ nếu cần ... hơn là sống yên nơi sa đọa. Cái dám chính trị phản ánh qua thi-ca. Thơ trở thành hành cử thường nhật nhưng tuân theo một cấu trúc với những dữ kiện biến thiên (Michel Beaulieu). Thơ cũng là diễn văn mà âm thanh và nhịp điệu của ngôn ngữ trở thành quan trọng (Raoul Duguay). Thi-ca trở nên đa dạng, nhà thơ đặt lên trang giấy như nhại cái biểu hiện của thơ, ý nghĩa hiện ra trong quá trình thay vì biết trước, chuẩn bị trước.

Nhóm Herbes Rouges nhiều bằng cấp đại học do đó đã thử nghiệm thuyết Hình thức trong thi-ca. Thơ ở đây đến gần với truyện kể, thơ để đọc lên, để tra vấn và tố cáo, nhưng lại nhuốm ý thức hệ mác-xít. Claude Beausoleil đặt lại vấn đề hiệu nghiệm thi-ca của ẩn dụ vì đánh mất kỹ thuật lập lại biểu tượng; thơ ông tạp loại, nhiều văn xuôi và truyện kể. Thi-ca thành chữ viết (écriture) - như tựa của một tập thơ của Paul-Marie Lapointe, ÉcRiturEs, là một trò chơi chữ nghĩa, tưởng tượng ra một thế-giới khách quan, không tả thế-giới mà để thế-giới hiện ra. Chữ viết trở thành sự vùng dậy của ngôn ngữ chống lại diễn văn thường nghe. Guy Gervais qua Verbe silence (1987) siêu hình hóa ngôn ngữ thi-ca. Les amoureux n?existent que sur la terre (1989) của André Roy cách tân thuyết hình thức : con người trước thiên nhiên mà nhà thơ là người cố tìm kiếm với sự hướng dẫn của ngôn ngữ. Từ cuối thập niên 1980, các nhà thơ chủ nghĩa hình thức tự kiểm thảo, xoay chiều, tìm kiếm hình thức hơn nữa với những thể loại nhật ký, tường thuật, chứng từ,... Thi-ca cầu cứu đến huyền thoại cá nhân, đời tư, tìm lại văn bản toàn diện, đường thẳng, trở về lãng-mạn, tả chân và tự truyện cách-tân (X. Tự Truyện ĐặngPhùng Quân). Xoay chiều tạo hoà hoãn với dòng thi-ca căng thẳng chống đối, phản kháng trước đó!

Thi-ca của cái Tôi là khuynh hướng ngày càng rõ nét. Xưa, đem cái Tôi vào thơ thì thi-tính vuột bay, một thi-tính đề cao mộng, tưởng, nên khách thể hóa và mời gọi tưởng tượng, từ ý cũng như tiềm thức! Cái Je hôm nay đưa vào thơ để chứng thực những đớn đau, cô đơn, cái chết, ký ức, .. là của một con người bị lôi kéo trong quá trình đi tìm một căn cước. Một tiếng nói nhắm đối thoại với định mệnh tập thể nhân loại để nhận ra mình một cách lý giải. Cái Tôi ở nhà thơ Québec vì nhiều lý do lịch sử và văn hóa, luôn bị cái Ta bao trùm, ám ảnh, ngay cả ở những tác giả muốn dứt khoát nhất như Gatien Lapointe. Liên hệ Tôi-Ta đánh dấu sự kiếm tìm, hiện diện và một không gian chung. Từ đây hết cô đơn và trống vắng, vì ngôn ngữ bắt nhịp cầu cho hai bên nhìn nhận nhau. ái-kỷ, nhục dục và vật chất làm nên một loại ý-thức lớn mới, cá tính và ngôn ngữ của cái Tôi trội bật. Cái Tôi trở nên thân xác trong chữ viết, cái Tôi từ khước ngôn ngữ nhưng phải xuất hiện trong thi-bản để cho cái Tôi một ý nghĩa!

"je nommerai aussi / l'améthyste / celle que j'avais perdue / et retrouvée / pas seulement en rêve / je nommerai ma pierre / mes pierres / celles qui pensent / et qui me font songer" (Madeleine Gagnon, Pensées du poème, 1983).

Bản thể phải tách rời sự vật để tự thành, autographie (thủ bút) - nơi tự-thuật (bio) vắng mặt để biểu tỏ ý tưởng về cái Tôi như con chữ của kẻ khác và của mọi người : "Dépersonnaliser / dans ce corps sans organes / puis signer de son nom propre / dans ce hors-corps / hors-champs, hors-site / des mille pores / et des mile plateaux" (L'instance orpheline, 1991). Cái Tôi đó trung tính, vì một tác giả nữ khác, Denise Desautels, đi tìm cái Tôi "nữ" hơn trong một thế-giới vừa bồng bột vừa thơ mộng của bất-khả cảm-thông. Pierre Nepveu thì đào sâu trong những ý niệm "không gian, thế kỷ cô đọng", để tìm cho ra tha nhân và những sự vật đào thoát mỗi khi được nói đến! Khuynh hướng này thường xử dụng thể loại thơ-văn-xuôi (poésie-prose ou prose-poésie), kể lể (récitatif) trong hành trình tìm kiếm quê nhà đã mất và tự khám phá cái Tôi, với khoảng cách ! Thời cái Ta mạnh, cá nhân, tư riêng phải co rút lại, khi cái Tôi mạnh dạn tự giải phóng, cũng là lúc tập thể được giải phóng theo!

Tiểu luận Le plaisir du texe (1966) của Rolland Barthes đã đem sinh khí đến cho nhiều nhà thơ Québec, đưa thi-ca xuống tận vùng sơ khai của bản thể. Chữ nghĩa quay cuồng đê mê, người làm thơ Québec sướng khoái sáng tạo, chế biến và "lộng hành" ngôn ngữ, một khoái lạc vừa trí thức vừa vật-chất! Nghệ thuật quảng cáo, truyện hoạt họa, diễn văn chính trị và khoa học, với một ý thức xã hội và chính trị tỉnh táo thường trực, với sự trình bày in ấn nghệ thuật (mới, tiền phong), ... tất cả đã trở thành thi-tính (poétique). Thơ phá hết mọi biên giới thể loại, tùy nhu cầu sáng tạo và diễn ý, thơ có thể là truyện kể, tiểu luận, tuyên ngôn, v.v. Thi-ca khoái lạc phá hết những biên giới cấm kỵ (tabou) về truyền thống, khuôn mẫu văn hóa, tình dục, ... đồng thời chạm đến vùng huyền bí nhưng phàm tục của những tôn giáo, tâm linh mới, sống ngoài lề vượt mọi trói buộc, nha phiến và sống với kích thích ảo giác tạm bợ. Ở đây, thi-ca là ngôn ngữ của sơ khai, của thần bí và của đời sống "làng", thám hiểm những vùng thâm sâu của nhục dục tự nhiên, kỹ thuật tình ái; thi-ca trở thành hành vi làm tình, thành phó bản - "copie conforme à l'acte sexuel", ở ngôn từ kéo dài của nhục dục (extension trans-linguistique de la libido), kiểu nhạc Rock n'roll. Bạo lực và đam mê trộn lẫn, nghệ thuật trở thành hành vi khủng bố, đặt bom, xúc phạm cả phụ nữ - để giải phóng họ (!), ngôn ngữ sống sượng của một nền văn-minh bạo lực. Cứ xem tựa các thi tập là đủ biết - tác giả chúng dĩ nhiên là nam : Filles-commandos bandées, Travestis-kamikazes, Filles-missiles, Lesbiennes d'acid, La clitoris de la fée des étoiles, v.v.

Thi-ca nữ quyền :

Phái nữ chủ trương thơ phản kháng để chống lại "truyền thống" (trong thi-ca Québec trước 1970 như nhóm Hexagone) xem người phụ nữ như một đối tượng CẤM hoặc biểu tượng cho lãnh-thổ bên cạnh những "anh hùng, chiến sĩ" nam ! Thi-ca chưa đủ, người phụ nữ Québec ra tuyên ngôn và dựng kịch làm náo động xã hội theo khuôn phụ-quyền, những vở kịch Les Fées ont soif (1978) của Denise Boucher hay La saga des poules mouillées (1981) của Jovelle Marchesseault. R. Barthes từng viết "L'Histoire que nous mettons très sottement au féminin"(Chúng ta dại dột viết từ lịch-sử ở giống cái), Nicole Brossard theo con đường Hủy-Tạo (Décontruction) mạnh dạn phá đổ văn phạm "phụ-quyền" trong Masculin grammaticale, tất cả đều viết ở giống cái (féminin) : thơ phải ở giống cái, phải hiếp đáp, tấn công, tranh đấu bằng vũ lực. Bà đưa thêm kỹ thuật viết nghiêng italic hoặc bỏ trong ngoặc đơn những chữ nói về nữ trong văn bản : "l'impute / (la lésée), / la léchée / (la mouillée) / la menteuse / la jouisseuse / la molle lamentante, la folle lamentée (...)". Đại danh-từ (pronom) L'elle trở thành danh-từ (nom). Đảo ngược văn phạm câu văn, tĩnh từ, tính từ và phụ từ (adjectif, épithète, complément) : "Évanouie le ravin la mentrue / elle cède par les reins d'avance (...)". Và đặt ở đầu câu những liên-từ et, or, mais, phá đổ cấu trúc văn phạm thông thường : "or d'amour sorcelle m?y convoque (...) / mais elle en sort (...)". Nicole Brossard tìm ra con đường thi-ca riêng, xa gần những vận động của ý-niệm "ý-nghĩa" (signifiance của Julia Kristeva), vận động sản xuất và cả làm thất thoát tác phẩm trong ngôn ngữ thi-ca : "à mon dire nu / la couleur tant fictive que vrai / entame dans le noir délirant ".

Người nữ giận dữ làm thơ để lớn tiếng biểu tỏ quyền sinh tồn của họ qua thân xác, nhưng với người đọc lại hóa ra là "văn-chương" tính dục, khích dâm, ... Mảng thi-ca này giàu tính liên văn bản nữ quyền, bên cạnh đó những nhà thơ nữ khác vẫn tiếp tục ngôn ngữ tĩnh lặng nhưng có khi khó hiểu, đụng đến cái chết và quá độ hiện thực. Nói chung mảng nữ quyền đôi khi khó khăn, trần trụi và có mầm độc hiểm, nhưng nói chung tích cực dù chút trữ tình vẫn còn ở một số tác giả !

Thi-ca nhân bản, một nhân bản thực tại : "tu ne mourras pas un oiseau nidifie / ton coeur / plus intense que la brulée d'un été quelque part / plus chaud qu'une savane parcourue par l'oracle / tu ne mourras pas ton amour est éternel" (Paul-Marie Lapointe, Épitaphe pour un jeune révolté)

Sau 1975, thi-ca trở về đời sống thường nhật nhưng tư riêng, chủ quan, xúc cảm, pha trộn tiếc nuối. Khuynh hướng này bỏ rơi hình thức để trở về thi-ca nội tâm, siêu hình. Cái thực sáng rực rỡ như những bình minh :

"il dort le matin encore / chassé de neige abrié de froid / une volée aux yeux d'avoines noires / rembellit ses paupières où déjà / les nuages ouvrent des lézardes aux lézards de soleil" (Jacques Brault, La poésie ce matin). 

Gần đây khuynh hướng thơ vụn, như Gilbert Langevin trong Le cercle ouvert (1993) những bài thật ngắn, những câu cắt nát, những mở đầu mà không diễn tiếp, v.v. với những đề tài tự do, tình thương, hơi ấm tình người như trở thành một loại "giận dữ không khí giới", hoà giải với những đề tài bạo động, điên dại, mặt trái,... thời trước đó. Cécile Cloutier giải Văn-chương Toàn quyền với L'écouté (1991) cũng trong chiều hướng này, những bản thơ thật ngắn, đôi ba hàng, mỗi hàng lại ngắn, thường in ở lề trên của trang giấy !

Hai thập niên qua chính trị thế-giới xáo trộn thêm cho thi-ca Québec những khuôn mặt mới, những con người Québec mới đến đây di trú mang theo hành trang văn hóa gốc. Một hội-nhập văn hóa thầm lặng, cái khác biệt thiết yếu cho sự tìm hiểu cái Tôi, khiến "đất lời bao phủ đất nước", nói như Jacques Brault ! Thơ của những Antonio D'Alfonso (gốc Ý), Anne-Marie Alonzo (Ai-cập), Carole Huỳnh (gốc Việt Nam, giải Alphonse-Piché ở Festival international de la poésie de Trois-Rivières thứ 12 năm 1996 với chuỗi thơ Nos âmes ont gardé la mémoire de l'exil và một vài giải văn chương khác), v.v. đã nói lên những giằng co, vong thân, mất mát của một thế hệ di trú thứ nhất và hai!

Thi-ca Québec hôm nay là tổng thể những thử nghiệm, khuynh hướng vừa kể. Thi-ca biến thành chính ngôn ngữ (écriture) rồi trở thành văn bản (texte) hiện đại hóa, trở thành "truyền thống của cái mới (tradition du nouveau)". Bi kịch của thi ca Québec cũng là của những ghetto hoặc cộng đồng vì một lý do lịch sử, địa lý hoặc chính trị, đã tự cô lập, vì hãi sợ đồng hóa, vì người khác là địa ngục, rồi tự khựng lại một chỗ và cứ đào sâu mãi trong những tự hào văn hóa dân tộc, gốc gác mà họ quen gọi là ký-ức chung. Hơn nữa, vì là thiểu số, ghetto nên sản phẩm còn hạn chế về số lượng. Bi quan, tính ghetto (ám ảnh mảnh đất) đưa đến hiện tượng huyền thoại hóa thi-ca và các biến cố văn hóa. Khi thi ca Québec trỗi sắc là những khi người làm thơ quên mặc cảm tỉnh bang, québecois, nói tiếng Pháp- tình trạng chỉ có lợi cho một thiểu số ăn trên ngồi trước và trí thức cực đoan lúc nào cũng nhân danh và nhân danh,... để mở ra với những trào lưu mới cấu trúc, hình thức, nữ quyền, ...Vai trò người trí thức nếu trước nay là cần thiết và đã có những đóng góp lớn cho tập thể (nhóm Hexagone, Cité Libre, v.v.) thì nay rõ ra chỉ là ăn hại trên một gia tài chung ngày càng thu hẹp! Ngày hôm nay, mảng thi ca này đang bị lấn át bởi những thể loại tiểu thuyết, truyện lịch sử, truyện thật ngắn, truyện giả tưởng, ... Mặt khác nhờ có đặc thù văn hóa thiểu số ở giữa rừng ảnh hưởng Hoa-kỳ, văn nghệ sĩ Québec đã thành công (Cirque du soleil, Céline Dion,v.v.), nhưng cũng ở những hiện tượng này cho thấy viễn tượng hoàn cầu hóa đang làm biến mất tính đặc thù Québec. Ca sĩ Céline Dion chẳng hạn, cô chỉ có giọng ca còn bài bản là quốc tế, nếu so với những Robert Charlebois, Félix Leclerc, Gilles Vignault,... exotique (so với người Pháp chính quốc) vì những người này có thêm hành trang văn hóa Québec qua ngôn ngữ bài bản và âm nhạc!

Nhìn người rổi ngẫm lại ta, chúng tôi có một số nhận xét như sau :

- Người làm thơ cũng như các nhà phê bình, báo chí có thông tin và kiến thức cập nhật rất sớm, ít có chuyện người nói gà kẻ nói vịt. Dù có những văn nghệ sĩ cực đoan (vì yêu nước muốn độc lập, vì thù ghét người Anh và văn hóa ngoại lai, vì thiên tả, v.v.) nhưng dân chủ, cởi mở, khai phóng, đã là những đặc tính làm thi-ca người Québec tiến bộ, đa dạng.

- Vai trò các nhà xuất bản và tạp chí : thơ được xuất bản và ... bán, chưng trang trọng trong hiệu sách, thư-mục các nhà xuất bản chính thường có mục Thi-ca với rất nhiều tựa và xếp theo tác giả. Nhà xuất bản tham gia trong việc hình thành một nền văn học như Hexagone 1953 và Le Noroit, Écrits du Forges sau này chỉ xuất bản thơ, XYZ chỉ xuất bản truyện thật ngắn, v.v. Tạp chí là nơi sinh thành văn-chương (Barre du jour, Les Herbes Rouges, Estuaire, Lèvres urbaines, Hobo-Québec, ...tương đương với Phong Hóa, Sáng Tạo, Văn SG, Thời Tập, v.v.) và có nhiều tạp chí chuyên ngành về thơ (Les Herbes Rouges, Estuaire, Exit..), truyện dị thường (Ténèbres), truyện thật ngắn (XYZ), v.v. Chính dặc tính chuyên môn làm sống tạp chí, với Việt Nam ở hải ngoại thì ngược lại.

- Thi-ca đương thời được đưa vào chương trình học đường sớm - so với chương trình ở Việt Nam miền Nam năm 1974 áp dụng chương trình văn học mới nhưng ngừng ở mốc 1945, bộ giáo dục trong nước thì cũng chẳng hơn, đã vậy lại một chiều, chỉ có thi-ca chết; giúp học sinh có thông tin về các khuynh hướng đang xảy ra đồng thời đem tranh luận, phê bình vào, đưa học sinh vào cuộc, và từ đó phát sinh những nhà thơ mới, trẻ.

- So với Việt Nam ta, đặc biệt người Québec không có hiện tượng thơ thù tạc in nhiều để khoe khoang, có mặt với ... đời - nếu có thì cũng quá nhỏ nhoi không đáng kể. Cũng như không thật có hiện tượng áo thụng bái nhau, ngược lại là khác, nhà thơ nào lớn đến mấy mà khi hết còn làm thơ ra thơ nữa liền bị phê bình nghiêm chỉnh và đích đáng, thường những người này khi biết đã hết thời hoặc về cuối đời thường chăm sóc in lại sự nghiệp thời trước và ủng hộ những tài năng mới!

- Ngoài nhiều giải thưởng văn-chương, sự nghiệp các nghệ sĩ và nhà thơ cách riêng được chính thức ghi nhận, như làm quốc táng (Gaston Miron), đặt tên xa-lộ và đường thành phố hay bổ nhiệm vào những chức chưởng tượng trưng như thượng-nghị sĩ, phó vương (bà Adrienne Clarkson người gốc Tàu, toàn quyền đương nhiệm - tương đương với chức quốc-trưởng, vốn là nhà báo và nhà văn).

Thử nhìn lại thơ Việt Nam hôm nay, ở hải ngoại có nhiều thử nghiệm hơn trong nước. Xem những "văn bản" gọi là "thơ" của những thử nghiệm Tân Hình-thức, thơ cụ-thể hậu hiện đại hay khai thác tình dục, v.v. người thưởng thức thơ nếu không cởi mở, có kiên nhẫn thì cũng có thể chấp nhận, cho cơ may, nhưng loại "thơ" thù tạc, thơ salon, thơ xã hội thu nhỏ - một loại ghetto, thường làm khó chịu người làm văn học hoặc ưu tư về một văn-chương tiến tới trước hơn. Hình thức thơ lùi nhiều thập niên, lùi về thơ tiền chiến và cả thơ luật. Người đọc liên tưởng đến thơ học sinh tập tễnh làm thơ bích báo trong khi những người này thì tưởng tượng là những Quách Tấn hôm nay, nhưng oái ăm thay, ngay trong giới học sinh đã có nhiều tay thơ vượt trội hoặc thành danh ngay ở bước đầu (Chế Lan Viên, Nguyễn Tất Nhiên, v.v.) và Quách Tấn ngay trong những hình thức cổ kính của thơ luật, ông vẫn chứng tỏ tài năng độc đáo trong văn phong thi tứ, nhất là với tập Đọng Bóng Chiều (1965)! ở hải ngoại, trên các báo thương mại, thông tin đại chúng, hội đoàn, ái hữu, thi nhóm và cả tạp chí gọi là văn học, người đọc đã và tiếp tục bị thưởng thức những cái gọi là "thơ" như đã xem qua ở nơi khác, ở một thời điểm khác đã thậm xa. Tâm trạng Sử Mặc từng ghi lại trong một bài thơ-thật-ngắn :

"lục túi thơ tìm khách

thấy làng chơi

dập dìu"

(Diệu Thủ, Hợp Lưu, 49, 10&11-1999, tr. 64).

Giàu số lượng nhưng đồng thời trở nên thừa thãi - có người còn xem việc nhiều thơ đồng nghĩa với tài năng, tỉ lệ thuận to lớn sự nghiệp; tội nghiệp cho giấy trắng ngày càng ít lại, nói như một nhà văn ở hải ngoại ! Người ta co co giữ hình thức lục bát, thơ luật, cả thơ văn xuôi, nay thơ gọi là Tân Hình-thức, v.v. nhưng không có tính thơ. Thời tiền chiến, người nghệ sĩ sống trọn vẹn cho thơ, thời chiến tranh cả Nam lẫn Bắc không thể mà cũng không có quyền sống trọn cho thơ ngoại trừ thơ xung chiến - dù vậy vẫn có những thành công để đời, nay đời sống tạm ổn (đã về hưu, vật chất rộng rãi, muốn có danh gì, ...) nên nhiều người "sống trọn" cho thơ! Dĩ nhiên, có kẻ làm thơ là để giải tỏa u uẩn, để nhìn lại quãng đời đi qua, một hình thức tự vấn tâm tình, độc thoại hoặc đối thoại với người đồng cảm! Thơ ở đây không tham vọng nghệ thuật, chỉ làm công việc thực dụng (mừng sinh nhật, cưới hỏi, tục huyền, tái giá, tặng bạn, mừng bạn hay họ hàng có con cháu mới đỗ bác sĩ, v.v.), dễ và nhiều khiến thơ thành vè, một thể loại có một mục đích rất giới hạn! Ngôn ngữ ở đây không thông tục, không trực tiếp như thơ Tân hình-thức hay hậu hiện đại, nhưng phần lớn cũng không là ngôn ngữ hôm nay mà là ngôn ngữ vay mượn, dùng lại!

Rồi "người thơ" đua nhau họa thơ, in lại tất cả trong tuyển tập của một người hay của một nhóm trong lời Tựa nói làm mới thơ ... luật, trẻ trung, hiện đại hóa nó, mà rồi tựu trung kết quả không thuyết phục nổi. Thơ mới làm thì có mà thơ làm mới thì không! Rồi chưa đủ, "người thơ" tìm lại những bài thơ của những người đã ra ... thiên cổ để "hoạ", quái đản vì không có "xướng" mà có "họa", sao không cảm-đề như khi xem tranh cho đỡ người đọc? Có khi tối mắt lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia rối cứ thế mà "họa", Lý Bạch, Nguyễn Du họ không tha mà Phan Bội Châu, Ngô Đình Diệm, Trần Văn Hương,... cũng không được yên với những người này! Xướng họa là thú tao nhã của người xưa và giữa những tâm hồn đồng điệu. Các tuyển tập, thi đàn, thi thơ, ... đã là một hiện tượng đặc biệt cuối thế kỷ ở hải ngoại, có thể khởi từ những truyền thống đã có trước 1975, nhưng lạm phát thập bội phần! Thành nhóm với sứ mạng nghiêm chỉnh rõ rệt như những nhóm thơ Loạn và Dạ-đài trước chiến tranh 1945, Sáng-Tạo ở miền Nam sau 1954,... là những cần thiết, còn lập nhóm để bình thơ, họa thơ cho có ấn phẩm thì lại khác! Trong số lượng thơ đồ sộ này, dù vậy, hiếm nhưng vẫn có những áng thơ hay, hay đấy nhưng lại không có sáng tạo và đặc thù văn chương, không thể tạo nên hiện tượng thi ca đáng nói đến ! 

Những thể loại thơ luật được tận tình xử dụng, thơ có bài chỉ mang hình thức thơ luật mà không hẳn đã là thơ luật, những bài mang hình thức thơ luật nhưng sai cả niêm luật, bắt vần xong bỏ lững, lười biếng gieo vần tiếp,.... Thể hài-cú cũng được dùng đến. Thơ Mới hình như được nhiều người làm thơ theo nhiều nhất (1). Một trong những lý do là Thơ Mới vẫn ở trong truyền thống vần và điệu, nên dễ nhớ, dễ liên tưởng, từ đó nhập vào văn hóa người đọc, được yêu thích và ... theo ! Thêm hiện tượng thơ của thời marketing và business đua nhau phổ nhạc khiến có những tập thơ biến thành nửa thơ nửa nhạc. Tắc trách ở đây là việc phổ nhạc trở nên thương mại, loè người đọc, chứ không hẳn đã vì thơ hay nên được nhạc sĩ trân trọng chiếu cố phổ nhạc như những thời trước! 

Sự kiện thơ xuất bản nhiều có nghĩa người Việt thích thơ, nhưng về nội dung có dân tộc không? Dù ở tiền đề, thơ khác văn xuôi ở hình thức, nhưng thơ hôm nay lại chuộng hình thức tân kỳ kỹ thuật, quá khai thác tình cảm thành ra ủy mị, êm ái quá thành nhàm thường, thiếu những khái phá về tư duy, nội dung,... là những thứ khiến thi ca thành hiện tượng, đánh dấu bóng dáng thời đại, gây chú ý! Thi ca Việt Nam thế kỷ qua đã đi từ những khám phá lãng mạn, tượng trưng, siêu thực, rồi tự do, hậu hiện đại Tân Hình-thức, thơ cụ thể, dục tình, ... và như ngập ngừng ở tính dân tộc ở cuối thế kỷ! Cái đẹp, cái đạt trong thơ ngừng ở hình thức, nhạc tính, âm điệu hay cần phải bao gồm cảm hứng và triết lý, tư duy? Ca dao, Kinh Thi, rồi thơ cổ phong, thơ Mới, thơ Tự do, Tân hình-thức,... Niêm, luật, đối, số chữ trong câu, 4 câu hay 8 hay trường thi! Thơ Tự-do từng được Nguyên Sa xem là thơ phá thể, mà phá thể thì cổ phong cũng là phá thể, như bài Tình Già của Phan Khôi dù bài này được xem như khởi đầu cho Thơ Mới! Thơ vần hay không vần có lẽ không quan trọng, kỹ thuật mới cũ hình như cũng không phải là quan trọng hàng đầu. Cái chính nói cho cùng là ở cú pháp toàn diện của thi-bản, là ở ngôn từ có chất thơ không, có âm hưởng gì không, cho hôm nay và ngàn sau!

Mặc cảm hậu thuộc địa khiến phải giữ Việt tính, không hội nhập. ở đây người làm thơ có cái nhìn thi ca lạc hậu, co rút lại trong sợ hãi! Tâm lý nhà quê, không tin những gì văn minh nhất là của người trên xứ người, hàng càng cũ chất lượng cao trong cảm nhận nhà quê bảo thủ này. Khởi từ nguỵ tín về chính trị, trốn mình trong những cái gọi là chính thống, cái đã có, phe ta - kẻ nào không theo ta là kẻ thù ta, ... để khước từ cái mới, cái hiện đại phù hợp hơn, cập nhật hơn - nhắc nhở những biến cố lịch sử Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX! Ngụy tín văn hóa đưa đến ngụy tín trong cách thế làm văn chương, xử dụng thể loại, chủ nghĩa người nhưng vẫn muốn giữ hồn Việt, từ đó chủ trương vừa "hiện đại" vừa đậm đà dân tộc ! Nép mình trong văn hóa á-đông trọng hiền, cầu danh, đưa đến hiện tượng hồi ký, lộng giả thành chân và vô tình nhận chịu ảnh hưởng những người "ngoại đạo" không làm văn chương và cũng đưa đến ngụy luận "cái Tâm kia mới bằng ba chữ Tài"! Trên chúng tôi có nhắc đến tính dân-tộc, ở đây chúng tôi lại bàn về mặc cảm hậu thuộc địa, với chúng tôi là hai vấn đề khác nhau, vì thơ của người Việt dù hội-nhập, hoàn cầu hóa cách mấy cũng phải/nên có tính Việt, một loại tổng hợp như đạo Cao-đài dù tổng hợp (syncretic) vẫn có lục-tỉnh tính và Việt-tính!

Nhà thơ hôm nay tức đầu thế kỷ XXI vẫn đi tìm tính thơ, tìm nguyên lý thi ca, định-nghĩa lại thi-ca, một cách tiếp thừa thi ca, tư duy bằng hành cử thi ca, nhưng trong viễn tượng mới, không gian văn hóa khác ! Hiện đại hóa là qua đường, nhà thơ hôm nay trở thành kẻ qua đường. Có kẻ qua đường gây dựng nổi cơ đồ thi ca, nhưng có người rồi ra vẫn chưa đến bến. Có người nhờ kỹ thuật thể hiện, cho nội dung mới vào ngôn ngữ thơ mà trở nên thơ hơn, được đón nhận hơn, dù bước đầu có thể đi lại trên con đường người trước như Thơ Mới có người làm theo nhưng với ngôn ngữ, ý tình hôm nay, ngữ điệu độc đáo riêng, tạo bản sắc, có thi tính riêng! Nói thơ tình yêu chưa chắc thời nào cũng như nhau là do lẽ đó! Có thời trang thành mốt (mode) lâu dài, có khi lại chỉ là đồ chưng xa xỉ không cầm cự được với thời gian ! Lý luận cho lắm rốt lại, văn chương là ở cách thể hiện. Thẩm mỹ học mới, ý thức mới quan trọng, vì chính ý thức sáng tạo có mới, có độc đáo, khác biệt, riêng tư,... thì kỹ thuật, ngữ điệu, ngôn từ, hồn thơ mới cất cánh bay được! Với người Việt, thiển nghĩ phải rời quá khứ, phải ra khỏi mọi trường phái, thời thượng,... thi ca mới bay bổng và có mới ! Cứ nhập nhằng truyền thống, quá khứ, núp bóng, theo lối mòn, theo gót, .. thì lại quy hồi, trở lại điểm khởi hành mất! Phải tự tin và tự túc, tự hình thành!

Vũ trụ thơ là một vũ trụ con chữ, xử dụng với mỹ học khiến thơ hay. Ngôn ngữ có những ký hiệu ước định của nó. Có ngôn ngữ mới có văn chương, nhờ hư cấu, sáng tạo mà ngôn ngữ trở nên văn chương và ngôn ngữ đó đến được với người khác, với ký hiệu ườc định của ngôn ngữ thơ! Thật vậy, tổ chức ngôn ngữ tạo nên thi-tính, tức, thơ có cách tổ chức ngôn ngữ riêng. Thơ cũ được tổ chức để dễ nhớ, thơ mới không hẳn vậy, vì chỉ cốt tạo ấn tượng cho hợp mỹ học thời đại. Dù sao thì ngôn ngữ thi ca phải/nên mang chức năng thi pháp !

Thi ca như một nhất trí không thể tách bạch, thiển nghĩ nên lắng mình để đón nhận và cảm thơ và nên mở rộng mọi giác quan để tiếp nhận thơ! Và vai trò, vị trí của người thưởng thức thơ nếu có cũng phải "cách tân", thay đổi theo thời đại! Vả lại, khi nói thơ hôm nay là nói đến thơ đang hình thành. Thơ luôn ở tiếng nói của con người xử dụng nó trong thời gian và không gian! Tóm một chữ, thơ là thơ hay, thành công, độc đáo, khi tự thi-bản thơ là một vũ trụ, một khối tự lập hình thành từ nhiều cấu trúc, yếu tố, và một khi đã thành, trở nên một ngôn ngữ riêng biệt! Thi-bản / văn-bản (texte) phân phối lại ngôn ngữ (écriture), nhưng ngôn ngữ cũng phân phối lại văn bản. Những câu lục bát bị cắt, chấm câu, xuống hàng và viết hoa theo nhịp điệu, ý thơ, v.v. đến với người thưởng thức như một văn bản mới và như một ngôn ngữ thơ mới, khác. Thơ cần hình thức để dễ nhận diện, đó là lý do tại sao Tân Hình Thức vẫn giữ hình thức thơ. Nhưng theo thiển ý hình thức thơ chưa đủ, đã là thơ thì phải có tính thơ (poétique); có thi tính thơ mới đạt được cảm xúc, có cảm xúc mới đi đến vấn đề khái niệm hóa và từ đó mới có lý thuyết, lý luận thi ca! Thơ là để cảm (người khác), đánh động tâm linh, tâm thức. Sáng tạo trong thơ là tác động cá nhân, riêng tư, nhưng một khi đăng báo, xuất bản, thơ đã mang ý nghĩa xã hội, văn hóa rồi - trước khi trở thành một lý thuyết, trường phái. Phải canh tân thi ca với ý thức mới! Canh tân, làm mới, phải có ý thức mỹ học trước rồi đưa đến tiêu hóa sau mới ra đời thành nghệ thuật! Thơ hôm nay đòi hỏi độc giả "mới" nhưng hình như giới này thu hẹp, chia phân!

Nguyễn Vy Khanh

 

Chú thích:

Chúng tôi không dịch thơ trích dẫn, hoặc dễ hiểu như bài của G. Vignault, hoặc do tính đa-nghĩa, cấu trúc ngôn ngữ và kỹ thuật cách tân, thành thử dịch sẽ là diệt.

(1) X. "Bàn tròn : tại sao ngày nay Thơ Tiền Chiến vẫn chiếm thế thượng phong?" Tạp chí liên mạng Văn Nghệ Ngàn Phương 112, 1-10-2001.

 

■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■

Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách

Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập