| ■ ■ ■ | |
chiến tranh Việt Nam đã kết thúc thế nào?
|
Ngày nay có lẽ không có mấy người biết đến tên tuổi của Daniel Ellsberg. Nói rõ hơn, người biết đến Daniel Ellsberg và việc làm của ông phải ở vào lứa tuổi trên 45 như Nicholas Lemann viết trong phần mở đầu bài điểm quyển hồi ký Secrets của Ellsberg phát hành tháng Mười năm vừa qua (1).
Daniel Ellsberg sinh năm 1931 ở Chicago, tốt nghiệp cử nhân Ðại học Columbia (1952), và tiến sĩ kinh tế Ðại học Harvard (1959). Giữa hai bằng cấp đại học này, là thời gian 2 năm ông là sĩ quan thủy quân lục chiến. Năm 1959 ông trở thành nghiên cứu gia tại Rand Corporation, ngành kinh tế. Từ đó trở về sau, theo Nicholas Lemann, cuộc đời của Daniel Ellsberg giống như nhân vật Forrest Gump trên màn bạc. Ông xuất hiện đúng lúc và gặp gỡ hầu hết những khuôn mặt lịch sử đương thời. Tháng Tám, 1964, ông khởi sự làm việc với John McNaughton, phụ tá của Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara. Vụ xung đột vịnh Bắc Việt xảy ra cùng lúc đó đã quyết định chính sách của Hoa Kỳ đối với chiến tranh Việt Nam. Một năm sau, Daniel Ellsberg đến Việt Nam làm việc cho tướng Edward Lansdale, một nhân vật gần với huyền thoại hơn đời thật, theo nhiều người (2), là Pyle dưới ngòi bút của Graham Greene trong quyển tiểu thuyết Người Mỹ Thầm Lặng. Ông cũng tiếp xúc với đại tá John Paul Vann, một nhân vật phản diện (antihero) của Neil Sheehan trong tác phẩm Một Sự Dối Trá Hào Nhoáng (A Bright Shining Lie). Daniel Ellsberg trở về Hoa Kỳ năm 1967 và bắt đầu cuộc đời kỳ lạ của ông, một mặt tham dự vào phong trào phản chiến, mặt khác liên hệ với các nhân vật cao cấp nắm quyền quyết định chính sách đối ngoại. Cho đến khi, vào năm 1971, ông quyết định đứng hẳn về một phía bằng việc cung cấp 7 ngàn trang tài liệu mật của Ngũ giác đài về chiến tranh Việt Nam cho báo chí, tờ New York Times và Washington Post. Việc làm có thể khiến ông bị kết án tổng cộng cả thảy 115 năm tù.
Chuyện đã xảy ra 30 năm trước. Nhưng tại sao lại 500 trang hồi ký bây giờ? Người đọc sách, như Max Frankel, thất vọng khám phá, "Không có bí mật nào mới của chính phủ trong tác phẩm mang tên 'Bí Mật' của Daniel Ellsberg." (3) Tác phẩm đã không còn cái chấn động cả nước Mỹ và thế giới ngày xưa, đã khiến Tối Cao Pháp Viện phán quyết chống lại mọi hành vi kiểm duyệt dựa vào lý do an ninh quốc phòng của chính phủ.
Câu chuyện đã nguội nhưng không phải đã chết. Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt từ năm 1975 nhưng vẫn còn sống trong lòng nhiều người. Tác phẩm của Daniel Ellsberg, như mọi tác phẩm khác bàn về chiến tranh Việt Nam của các nhân vật then chốt đóng vai trò quan trọng trong cuộc chiến này, đã là bằng chứng. Người ta thấy không phải chỉ các nhật báo lớn ở Mỹ nhắc đến hồi ký của Ellsberg và việc làm của ông thời đó. Kẻ khen, người chê đều không thiếu.
Ðây cũng không phải là lần đầu tiên Daniel Ellsberg lên tiếng. Cái cảm giác không có gì mới mẽ không phải là câu chuyện cũ thuộc về lịch sử được nhắc lại. Cái cũ còn được tìm thấy qua cách giải thích vì sao ông chống lại sự can dự của Hoa Kỳ vào chiến tranh Việt Nam. Những luận điểm chính này đã được tác giả khai thác qua tác phẩm "Papers on the War" xuất bản năm 1972. Secrets là tác phẩm thứ hai gần đây của ông. Năm 2001, cuốn "Risk, Ambiguity, and Decision" của Daniel Ellsberg được ca ngợi là công trình tiên phong nghiên cứu về lý thuyết quyết định (decision theory). Nhưng đấy cũng là bản in của luận án về kinh tế ông trình lên Harvard năm 1962.
Trả lời phỏng vấn trên Salon.com, hai năm trước khi tác phẩm Secrets ấn hành, ông chỉ hối tiếc đã không công bố tài liệu Ngũ giác đài sớm hơn vài năm khi việc làm này có thể tạo ảnh hưởng mạnh mẽ hơn trong việc ngăn ngừa và chấm dứt chiến tranh. "Nếu tôi công bố tài liệu trong năm 64 hay 65 khi còn làm việc ở Ngũ giác đài, có thể chiến tranh đã không xảy ra. Và tôi đã có thể ngăn ngừa được cái chết 58 ngàn người Mỹ và hàng triệu người Việt. Ðó là một trách nhiệm nặng nề như tiếc thay tôi đã không làm được như vậy lúc đó." (4)
Secrets là niềm tin của Daniel Ellsberg đặt trên căn bản việc công bố tài liệu Ngũ giác đài khiến chiến tranh Việt Nam chấm dứt. Sự chậm trễ lên tiếng tố cáo về sự dối trá của chính quyền Hoa Kỳ, như ông nhìn nhận, cũng là lý do ông bị coi là người "tham dự vào sự dối trá về Việt Nam trong sáu năm trước khi thổi còi." (5) Sự chậm trễ có thể giải thích theo hồi ký là niềm tin ban đầu của ông, điều phân biệt ông với các lãnh tụ phản chiến khác ở Hoa Kỳ, vốn thiên tả. Ở về phía tự do, ông tự coi mình như là một chiến sĩ chiến tranh lạnh (cold warrior), đấu tranh chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản. Ông tìm cách chứng minh với người tình phản chiến, Patricia Marx, là người Mỹ ở về phía chính nghĩa. (Buổi hẹn hò đầu tiên, họ đi tham dự một cuộc biểu tình chống chiến tranh ở Washington; ông lo ngại hình ảnh ông trong đoàn biểu tình sẽ bị bạn đồng sự nhận diện trên báo hay trên màn ảnh truyền hình; cô bị bạn bè chất vấn tại sao lại dây dưa với một người làm việc trong Ngũ giác đài). Daniel Ellsberg tin tưởng có những người như ông Trần Ngọc Châu ở Việt Nam muốn đấu tranh để gìn giữ đất nước khỏi tay cộng sản. Ông tặng người yêu quyển "Từ thực dân đến cộng sản" của ông Hoàng văn Chí lúc cô sang Việt Nam thăm ông (tr. 130). Ông muốn nhìn thấy sự hữu hiệu của cuộc chiến đấu vì tự do bằng nỗ lực của người Việt Nam và sự hỗ trợ của Hoa Kỳ trong những điều kiện lý tưởng nhất (một miền Nam ổn định, người có khả năng nắm quyền, không tham nhũng...). Phải đợi đến hai năm sau ngày từ Việt Nam trở về nước, ông mới nhận diện được một phần của vấn đề nằm ở thói quen nói dối thượng cấp (tr. 185). Rồi lần hồi, ông mới thấy rõ chính tổng thống mới là người lừa dối công chúng chứ không phải thuộc cấp lừa dối ông (tr. 193). Khi báo New York Times trong một bản tin ghi lại chính xác số quân do tướng Westmoreland yêu cầu tham chiến ở Việt Nam (không biết do ai trong nội bộ chính phủ Hoa Kỳ tiết lộ), Daniel Ellsberg chợt nhận ra một vũ khí mới trong tầm tay có thể giúp ông thể hiện "trách nhiệm như một công dân" (tr. 204) và "tiết lộ bí mật cũng có thể là một hành động yêu nước và xây dựng." (tr. 206). Tất cả đã mở đầu cho việc liên lạc của ông với phóng viên Neil Sheehan của báo New York Times.
Mọi chuyện bùng vỡ vào năm 1971, ngoài báo New York Times, tài liệu Ngũ giác đài còn được ba tờ báo khác đăng tải là Washington Post, Boston Globe, và Chicago Sun-Times.
Tất cả tài liệu được tiết lộ đều thuộc vào thời tổng thống Kennedy và Johnson, thuộc đảng Dân Chủ. Ðương kim tổng thống Nixon (Cộng Hoà) lẽ ra chỉ cần đưa Daniel Ellsberg ra tòa và ngồi yên "ngư ông hưởng lợi" trước sự mất mặt của đảng Dân Chủ. Nixon đã không làm như vậy. Một phần có lẽ ông không chắc Ellsberg có được bao nhiêu lá bài trong tay; phần khác, ông nghĩ có thể Ellsberg sẽ dùng các lá bài này vào phút chót để thương lượng cho sự tự do của mình. Ông cho "thợ sửa ống nước" (một cách nói chơi chữ: leaking cần phải có plumbers) có sự tham gia hoặc hỗ trợ của cả FBI lẫn CIA, đột nhập vào văn phòng bác sĩ phân tâm của Ellsberg với hy vọng tìm ra tài liệu bệnh lý của Ellsberg để hạ uy tín ông này. Các thợ sửa ống nước này còn xâm nhập luôn vào cả trụ sở Watergate của đảng Dân Chủ. Việc làm này bị tiết lộ và kết quả: tòa án tha bổng Daniel Ellsberg vì hành động sai trái của chính phủ.
Secrets chấm dứt khi quan tòa Matthew Byrne phán quyết. Những điều xảy ra kế tiếp không được tác giả nói đến nhưng mọi người đều biết: tổng thống Nixon sau đó phải từ chức và chiến tranh Việt Nam không thể kéo dài hơn tháng Tư, 1975. Sau tài liệu Ngũ giác đài, sau Watergate, tổng thống Hoa Kỳ đã không còn toàn quyền như trước. Việt Nam trở thành nạn nhân của tinh thần bất tuân dân sự của Daniel Ellsberg. Ðể chứng minh Daniel Ellsberg đúng, Việt Nam phải là vũng lầy sai lầm của các tổng thống Mỹ. Ðể Daniel Ellsberg được tự do, miền Nam Việt Nam phải mất tự do của mình...
■
Phải đợi 30 năm sau mới tung ra hồi ký của mình, điều này có nghĩa là tác giả đã suy nghĩ và viết lách khá cẩn thận. Có lẽ vì sự thận trọng này, Max Frankel của New York Times cho là tác giả đã không thật sự bộc lộ chính mình, tác giả đã không cho biết gì thêm về những tình cảm và xâu xé nội tâm của ông khi đi từ thái cực này qua thái cực khác. Từ diều hâu sang bồ câu. Từ chiến sang hòa. Trên một bài viết khác của Douglas Valentine, người ta khám phá ra một Daniel Ellsberg khác hơn trong thời gian ở Việt Nam. Ông can dự vào cuộc tình tay ba với Michel Seguin, một tay buôn lậu nha phiến người đảo Corse và người đẹp Germaine, một phần lai Pháp, ba phần Việt (6). Câu chuyện rất Graham Greene và Ian Fleming này không được ông nhắc đến trong hồi ký. (Và có phải đó là điều Max Frankel không muốn nói thẳng ra?)
Phải đợi 30 năm, Daniel Ellsberg tất phải nghĩ đến và chọn thời điểm để tung ra hồi ký này. Tiếp tục phản chiến đến cùng, ông xuất hiện trước công chúng khá nhiều gần đây với những điều ông nghĩ, trước sau 30 vẫn đúng. "Chúng ta bị lừa dối để can dự vào Việt Nam và chúng ta hiện đang bị lừa dối để tham gia chiến tranh bây giờ." Ông đã tuyên bố như thế trước một đám đông ở Commonwealth Club trong cuộc đối thoại với Phil Bronstein, chủ biên của báo San Francisco Chronicle vào tháng Mười, năm trước. Người ta còn thấy hình ảnh ông bị còng tay cùng với nhiều người khác trong cuộc biểu tình chống chiến tranh với Iraq trước trụ sở của Liên Hiệp Quốc ở New York, trong ngày 10 tháng Mười Hai, 2002.
Lần này, đã 72 tuổi, ông không thể (muốn) chậm trễ như 30 năm trước nhưng, khác với lần trước, ông không có (còn) tài liệu nào để chứng minh.
Thượng Văn
Chú thích:
(*) Daniel Ellsberg, Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers. New York: Viking, 2002. Số trang trong toàn bài trích từ tác phẩm này.
(1) Nicholas Lemann, "Paper Tiger" The New Yorker, Nov. 2, 2002. <http://www.newyorker.com/critics/books/?021104crbo_books> (Nov. 2, 2002)
(2) Michael Shelden (trong quyển Graham Greene. The Man Within. Heinemann, London. 1994) cho rằng chính Graham Greene phủ nhận điều này nhưng nhiều người không tin như vậy.
(3) Max Frankel, "Secrets: The Unclassifier of the Pentagon Papers." The New York Times, Nov. 17, 2002. <http://www.nytimes.com/2002/11/17/books/review/17FRANKET.html> (Nov. 16, 2002)
(4) Daryl Lindsey, "My only regret." Salon.com, April 28, 2000 <http://dir.salon.com/news/feature/2000/04/28/ellsberg/index.html> (Jan. 6, 2003)
(5) Jon Carroll, "Lies, damned lies and ongoing dread." San Francisco Chronicle, Oct. 29, 2002 <http://www.sfgate.com/cgi-bin/article.cgi?file=/chronicle/archive/2002/10/29/DD37372.DTL> (Nov. 2, 2002)
(6) Douglas Valentine, "The clash of the icons." nthposition.com. <http://www.nthposition.com/politics_valentine4.html> (Jan. 4, 2003)
■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■
Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách
Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập