trà đálê thường nguyên |
Tin : Amoklảufer - Sáng ngày... một người đàn ông Việt Nam, 68 tuổi, đã về hưu, đi đến thăm cặp vợ chồng là em vợ mình ở cùng thành phố Koblenz, như những lần viếng thăm bình thường trước. Trong khi hai người này đang ăn điểm tâm thì người đàn ông rút khẩu súng trong túi áo và bắn chết cả hai người . Sau khi thi hành xong, ông ta trở về nhà, đến cùng buổi trưa hôm đó ông ta đi đến chiếc cầu nhỏ ở gần nhà và rút súng tự tử ngay trên cầu. Hiện chưa rõ nguyên nhân, vì thù hận riêng hay vì bất đắc chí, mà người đàn ông có hành động sát nhân trên. Sự việc còn trong vòng điều tra.
..........
- Này, xem trang trong đi có tin giật gân về đồng hương mày.
Stella đưa tôi xem tờ báo cũ từ hôm kia, góc trái bản tin là một tấm hình, hơi thiếu ánh sáng. Người đàn ông trong hình chừng hơn 50 tuổi, áo sakko, cravat nghiêm chỉnh, gương mặt lạnh, vẻ bình thản, không nét gì đặc sắc. Một dạng công chức bình thường, sáng xách cặp đi, chiều tan sở về, trình diện vợ, rất đúng giờ. Có cái gì nổi loạn đàng sau vẻ lặng lẽ ấy. Một mối hận thù lâu đời cần phải thanh toán? Một sự câm nín quá lâu phải bật lên như mũi tên căng quá sức chăng ?
- Người quen không? Stella hỏi
- Có thể, nhưng chịu thua, không nhớ ở đâu.
Khi đi ngang qua gian hàng café Quick Service ở phi trường, bỗng dưng tôi như nhìn thấy ông đứng cạnh cửa, lặng lẽ, đăm đăm nhìn vào đám đông như đang tìm ai, chờ ai.
Phải, tôi đã cùng ông ta lần nào đó ngồi uống cafe, nói đôi ba câu chuyện bâng quơ ở đây.
- Xin lỗi tôi muốn được hỏi thăm, cô là người Việt Nam?
Người đàn ông đột nhiên chặn tôi lại ở chân cầu thang, hỏi.
- Dạ phải, ông cần hỏi gì không?
- Không đâu, tôi không cần gì hết, tôi thấy cô mấy lần ở đây, nhưng không chắc cô là người Việt Nam.
- Tôi làm việc ở đây, bên Check-in, nếu ông đi du lịch nhiều thì chắc chắn là gặp tôi, bên Check-in không có nhiều người Việt Nam như ở bộ phận khác.
- Tôi không du lịch nhiều nhưng ra phi trường thường xuyên, để... ngó này nọ chơi thôi. Xin lỗi, hôm nay cô rãnh không, xin phép được mời cô uống nước.
Ông ta mời với vẻ thành thực. Hơi bị bất ngờ, nhưng ánh mắt khẩn khoản làm tôi chùng lòng, mái tóc bạc nhiều làm tôi yên tâm. Một người bạn đã kể tôi nghe, ba mẹ nó quanh quẩn ở nhà không biết làm gì, mỗi ngày thức dậy, nhìn thấy nhau, pha trà, nướng bánh mì rồi cùng ngồi vào bàn, ăn, mà chẳng cần nhìn nhau, cũng không còn gì để nói với nhau sau hơn 40 năm chung sống, nên đôi ba ngày lại dẫn nhau ra phi trường làm như đi đón ai, mà thực ra là chỉ để nhìn ngắm những người xa lạ, đến, đi và tiễn biệt.
Gương mặt ông ta tươi lên khi tôi nhận lời, nhưng chỉ mười phút sau thì tôi bắt đầu hối tiếc cho lòng tốt của mình. Phải nghe những câu hỏi vu vơ, những lời kể lể nhạt nhẽo, về một cuộc đời quá đỗi bình thường, như uống phải một ly trà đá nguội ngắt, mà lại nhạt thếch, không chanh không đường.
Ông ta dường như không cần biết tôi có nghe hay không, mà chỉ muốn nói, nói và nói... Tôi nhớ đến những nhân vật của García Marquez với Trăm năm cô đơn.
Tôi nhìn ra phi đạo để tránh ánh mắt ông ta. Chưa bằng Marquez nhưng chắc cũng có hơn nửa thế kỷ cô đơn, không biết tâm sự than thở với ai, vớ được tên ngu như tôi chịu nghe nên phải tuôn ra cho hết, một sự tra tấn vô cùng lương thiện. Và tôi thở dài. Thế mới càng tai hại, ông ta tưởng tìm được một sự đồng cảm, tiếp tục buông ra toàn bộ bản lý lịch, rồi kết luận :
- Cô thấy không, nhiều khi tôi cảm thấy tôi đã sống một cuộc đời vô ích chán chường như một ly trà đá vậy.
- Cái gì cơ, trà đá à, làm sao, ở đâu ?
Tôi như tỉnh lại khi nghe hai chữ '' trà đá''. Ông ta đọc được ý nghĩ mình chăng? Nhưng không, gương mặt đó vẫn rầu rầu, ngó xuống mặt bàn..
Tôi gượng gạo nói:
- Ừ, trà đá bao giờ uống cũng chán chết đi được.
Ông ta nhìn tôi chằm chằm, như không hiểu tôi muốn nói gì.
Khi thoát được màn độc thoại đó thì tôi đã trễ hai chuyến tàu điện về nhà. Trời mùa đông đêm tối đến sớm. Ánh đèn vàng hắt ra từ những cửa sổ thường làm tôi mủi lòng, nhớ đến thân phận tha hương của mình. Người đàn ông đó gìờ cũng đang ngồi trong một toa tàu điện nào đó đi về căn phòng đơn độc, giữa bốn bức tường, trống trải, nhàm chán. Có thể đêm nay ông ta ngủ được một giấc lâu hơn vì đã trút ra được tâm sự của mình. Thôi, ít ra mình cũng giùp đỡ được một kẻ hơn nửa thế kỷ cô đơn bớt cô đơn trong gần một giờ kể lể, tôi tự an ủi cái ngu của mình. Mà cũng chẳng nhớ ông ta nói cái gì.
Một cuộc đời ít thăng trầm, học sinh ở tỉnh lẻ nào đó, lớn lên đi học ở Saigon thường rong xe đạp loanh quanh mấy trường nữ, ngắm các cô học sinh áo trắng, yêu thầm một cô Gia Long nào đó nên hay rình ngày thứ hai đến trường để ngắm cô ta trong áo dài xanh. Rồi phải về quê nhà, lấy vợ do cha mẹ lưạ chọn, một cuộc hôn nhân có sắp đặt, tưởng là tình yêu tự động đến sau khi sống chung với nhau. Tuần tự lũ con theo nhau ra đời, một cuộc đời công chức tẻ nhạt, ở một tỉnh nhỏ, đều đều với những bổn-phận-sự và trách-nhiệm-vụ. Rồi trôi dạt xứ người, may mắn kiếm được chân thư ký phụ việc cho một người bà con, lại tiếp tục cuộc sống lặng lẻ đơn điệu như cũ. Biến cố chỉ xảy ra là sau khi ông thất nghiệp, phải về hưu luôn, thì bỗng dưng bà vợ gần 60 tuổi, muốn ly dị để đi tu.
Ông ta nói, gần như cao giọng hơn để nhấn mạnh cái bi kịch cuối cùng:
- Cô nghĩ xem, hơn 40 năm chung sống với nhau, không bao giờ có chuyện cãi nhau. Đôi khi tôi nổi nóng la mắng lũ con hay rầy rà luôn bả thì bả đều im, đâu có vấn đề gì. Bỗng dưng gần cuối đời thì bả dở chứng tuyên bố muốn vô chùa ở, vì con cái bây giờ đã lớn, ra riêng hết rồi, tôi còn mạnh khoẻ, vậy là bả đã xong nợ, nên bả muốn ra đi, lấy lý do là không thể sống với tôi được nữa, cô nghĩ như vậy bả có điên không chứ?
Suýt nữa thì tôi buột miệng theo thói quen hay khôi hài, ''cũng hơi hơi'' nhưng kịp dừng lại, khi nhìn đôi mắt đã phai màu như ứa nươc mắt. Tôi muốn hỏi, ''thế còn ông thì sao?'' nhưng ông ta im lặng hồi lâu, thong thả rút cái nón trong túi áo, đội lên đầu ngay ngắn, chào tôi: ''Rồi thì cũng xong một đời thôi, có gì đâu, thôi tối rồi, ta về đi, cám ơn cô.''
Chiếc xe Bus thả tôi xuống con dốc gần công viên. Tôi đi chầm chậm lên dốc, hàng thông hai bên đưòng sẫm đen. Khi mới dọn đến đây tôi yêu quá đỗi con dốc uốn khúc này, nó gợi nhớ cho tôi con đường dốc dài và hẹp dẫn lên thác Cam ly ở Dalat khi xưa. Một lần tôi nói với chồng tôi :
- Em muốn đi Đà Lạt chừng 3, 4 ngày thôi.
Anh la lên ngay tức khắc:
- Bộ điên hả, tháng này Đà Lạt vào mùa mưa rồi, có đẹp gì đâu, mà tụi mình cũng hết phép rồi.
Tôi nói:
- Anh vẫn đi làm, báo với cơ quan là em nghỉ bệnh, chắc họ tin mà.
- Sao, em nói gì, định đi một mình à, quái đản thật.
Rồi nhìn tôi chăm chăm như thẩm định mức độ điên của tôi. Bao giờ anh hiểu được có lúc tôi chỉ muốn có một mình, tách biệt tất cả mọi người, chìm xuống trong nỗi cô đơn riêng mình. Tôi muốn lang thang ở Đalat vào lúc chuyển mưa, gió bạt ngàn thổi ào ạt, cả rừng cây ầm ầm rung chuyển đổ mưa. Mưa như giông như bão tối sầm trời đất. Ở đâu có một tình yêu như thế. Nó làm ta lảo đảo, ngây ngất, choáng váng như vừa nốc cạn một ly rượu Rhum, dịu ngọt mà say đắm nồng nàn, chứ không nguội ngắt nhạt nhẽo như ly trà đá.
■
Ông ta xoay xoay cái mũ xám trên tay, xếp lại làm hai rồi làm tư, rồi lại mở ra.
- Hồi đó tôi đang học lớp đệ nhất, sau này đổi lại là lớp 12, thì má tôi cho người lên Saigon báo tin ba tôi bị bệnh nặng, phải về gấp. Nhà tôi ở một xã nhỏ gần biên giới Kampuchia, về đến nơi tôi ngạc nhiên thấy ông già vẫn khoẻ mạnh đứng trước cửa chờ tôi. Ở nhà đã sắp xếp đâu đó xong xuôi. Ba hôm sau là đám cưới, tôi mới biết mặt người vợ của mình. "Nó giỏi lắm, con biết không", má tôi thì thào, "nó lên Saigon học được nghề may, giờ về đây mở tiệm, con có người vợ có nghề mà nết na, công dung ngôn hạnh có đủ.
Sau khi ra trường trung học, ba tôi nhờ người bạn xin cho tôi chân thư ký ở tòa án tỉnh, rồi bên nhà vợ cho tiền mua được căn nhà nhỏ ngay thị xã. Tôi có việc làm, vợ làm nghề may thêm, bạn bè nói số tôi may mắn, cuộc sống lặng lẽ trôi. Chiến tranh đang hồi sôi động nhưng không ảnh hưởng gì đến cái gia đình bé nhỏ này, và tôi an phận ẩn nấp bên cuộc đời không sóng gió, không làm phiền đến ai mà cũng không muốn ai quấy nhiễu đời sống mình.
Chỉ có một lần, vì công việc ờ Tòa án tôi phải đi Saigon, ở đó 3 ngày. Ngày cuối cùng, tình cờ gặp một người bạn học cũ, giờ đang là sĩ quan, được phép về thăm gia đình ở thành phố. Gặp lại nhau dù trước không là bạn thân, hai đứa cũng vui mừng, rủ nhau đến một nhà hàng khá nổi tiếng ở Saigon lúc đó để nghe nhạc. Đấy là lần đầu tiên tôi bước vào " chốn ăn chơi" của Saigon. Người bạn tửu lượng mạnh nhưng thấy tôi chỉ uống coca nên cũng tạm thắng bớt thú say sưa, để tán gẫu và nghe nhạc. Đúng ra là anh ta nói và tôi thì nghe nhiều hơn. Đêm về khuya, ca sĩ mệt mỏi, mà khách nghe cũng bớt hăng hái kêu "bis, bis". Một nhạc sĩ già, tóc bạc, nổi hứng lên sân khấu chơi solo alto-saxophone, ông ta chơi một bài đã cũ "Besame mucho".
Đó là lần đầu tiên tôi nghe saxophone. Tiếng kèn tha thiết như quấn hút người tôi, đầu tôi choáng váng, trái tim như thắt lại, không chút rượu mà thấy ngây ngất như chìm xuống nước sâu. Tôi không nhớ đã ra về với anh bạn như thế nào, hắn vực tôi về nhà, rồi bỏ đi mất biệt. Hôm sau thay vì phải ra bến xe đò để trở về quê, tôi tìm cho được một tiệm bán nhạc cụ ở trung tâm thành phố, dự tính mua cây kèn saxophone; nhưng cái bảng giá làm tôi sững sờ, gấp ba lần lương một thư ký có hơn 10 năm thâm niên !!
Cả ngày đó tôi lần hết tài sản của mình, trương mục tiết kiệm, cái nhẫn vàng, cái đồng hồ cũ nhưng còn tốt, gộp lại cũng không đủ. Nhớ đến anh bạn tối qua, hắn vừa đi phép về chắc còn tiền lương, đêm qua hắn chi tiêu sộp lắm. Khi nghe tôi ấp úng mượn tiền, hắn ngạc nhiên rồi phá ra cười :
- Ông hỏi chậm quá, đêm qua tôi chơi bài với thăm em út, cạn ráo, mà ông cần tiền làm gì.
Tôi lặng câm. Hắn tiếp:
- Nếu định trốn bà xã để thăm em út thì theo tôi, khỏi cần tiền. "
Tôi đỏ mặt lặng im. Hắn nhìn tôi đăm đăm, lắc đầu, bỏ đi.
Đêm đó tôi trở lại nhà hàng một mình, cho đến đêm khuya vắng khách, tôi đưa người nghệ sĩ hôm qua nắm tiền, yêu cầu ông chơi lại bản nhạc cũ. Tuy đã mệt, nhưng ông ta mừng rỡ nhận tiền, chơi tiếp thêm mấy bài khác, Đôi mắt huyền, Về mái nhà xưa, Ánh đèn màu, Blue velvet, và Thuyền viễn xứ..... cho tôi. Tiếng kèn saxophone nức nở da diết hút lấy hồn tôi, nước mắt ứa ra không biết vì sao, trong tôi như tuyệt vọng một điều gì .
Hôm sau trở về nhà, trở về với công việc thường ngày. Tôi bắt đầu thấy mỗi ngày nặng nề chán nản. Mấy đống hồ sơ chỉ toàn những vụ kiện cáo lặt vặt quen thuộc đến phát ngấy. Mấy con đường tỉnh lộ sao mà đơn điệu, nhỏ hẹp. Con sông sau nhà nước cứ dập dềnh ở một mực đều đặn, không lên không xuống, mấy đám lục bình cứ đọng lại một chỗ, không trôi xa được. Như cuộc đời tôi.
Tiếng kèn saxophone đến với tôi chỉ trong giấc ngủ. Trong mơ, người nhạc sĩ cúi xuống dưới ánh đèn xanh, những ngón tay gầy lướt qua từng nốt, giòng nhạc Besame mucho nghẹn ngào, tha thiết , quặn thắt tim tôi. Tỉnh dậy, giữa đêm khuya. Vợ tôi bên cạnh vẫn ngủ yên, một con người hết sức đơn giản. Cuộc đời với cô ấy là những đường may làm sao cho thật thẳng, thế là đủ, không thắc mắc. Giá như tôi kể được với cô ấy là tôi đang ước ao nghe điệu kèn saxophone như thế nào, có lẽ nỗi đau sẽ vơi đi, những giấc mơ với tiếng kèn có lẽ cũng bớt dằn vặt giấc ngủ của tôi. Nhưng chắc chắn cô ta sẽ tròn mắt ra mà hỏi :
- Anh nói cái gì, saxophone là cái gì mà cần phải nghe, thích văn nghệ thì mai đi coi kịch hay cải lương đi.
Thế cũng đủ cho tôi câm lặng. Tôi ra sau hè ngồi ở bậc thềm hút thuốc, nghe tiếng dế nỉ non một điệu đều đều bất tận, nhàm chán. Như cuộc đời tôi.
Thời gian và nhịp sống với những việc phải lo toan dìm dần điệu kèn saxophone xuống tận đáy lòng. Tôi vẫn phải thở, phải ăn, phải sống, nhưng lâu lâu cứ như rơi vô một hành tinh khác, tách biệt. Tôi trở nên ít nói và thẫn thờ.
Sau lưng tôi dường như thiên hạ thì thào, "Tay này cứ như bị ma hớp hồn hay bị cô nào bỏ bùa mê chăng?" Vợ tôi thì hỏi,"Anh bệnh chăng, em đi hốt thuốc cho." Tôi lắc đầu. Cô ta mua nhang đèn về cúng, khấn vái thần linh hằng tháng. Tôi im lặng chẳng can ngăn, cũng không giải thích, mà biết giải thích thế nào. Sau cùng cô ta để tôi yên, không thắc mắc.
Tôi không trở lên thành phố lần nào nữa nên cũng không biết người nghệ sĩ già với điệu kèn saxophone tha thiết ấy còn đó, ở nhà hàng ca nhạc cũ hay trôi nổi nơi nào.
Sau này sống trên xứ người, muốn tìm một đĩa nhạc nghe một nhạc sĩ độc tấu saxophone không có gì khó khăn. Tôi đã nghe vài nghệ sĩ nổi tiếng của thế giới, nhưng không ai làm sống lại trong tôi cái cảm xúc mãnh liệt, say đắm như lần đầu. Người ta thường khó quên mối tình đầu, tin tưởng đó là tình yêu đẹp nhất, thực ra chỉ vì hương vị tinh khôi ban đầu thường mạnh mẽ làm người ta ngây ngất xúc động khó quên thôi.
■
Lần thứ hai ông ta cũng đón tôi ở chân cầu thang. Đang vào mùa du lịch hè, phi trường tấp nập người. Tôi đã quên khuôn mặt ấy, nhưng khi ông đội cái mũ xám ngay ngắn trên đầu thì tôi chợt nhớ. Ông tự nhiên hỏi tôi:
- Hôm nay trông cô không mệt như bữa trước, trời nóng quá, ta uống cái gì cho mát, nước cam được không?
Tôi nói:
- Có lẽ nước thường thôi, tôi không thích uống nước ngọt.
Ông nheo mắt, hơi cười:
- Thế thì trà đá vậy?
Tôi cũng cười:
- Trà đá chán chết đi !"
Ông ngó mông lung ra phi đạo, nói như riêng với chính mình:
- Vậy mà tôi đã phải uống trà đá suốt một đời tôi.
Tôi im lặng, chờ đợi. Ngồi cạnh ông, nghe ông nói đều đều, cho tôi cảm giác như những giọt nước mưa từ mái hiên đọng lại, lặng lẽ rơi xuống đất.
Hai ly nước trên bàn đã cạn. Hành khách vơi dần, nắng chiều cũng nhạt dần, nhưng ông vẫn lặng im. Tôi muốn cáo từ ra về. Ngày mai tôi phải làm ca sớm.
Ông quay lại nhìn tôi, đôi mắt xa xăm:
- Tôi nghĩ vợ tôi là người đơn giản đến tẻ nhạt, bà ta không bao giờ hiểu được khát vọng trong tôi. Vậy mà gần cuối đời khi quyết định xa rời tôi, bà ấy nói, "Tôi chịu đựng đến ngày nay là quá đủ, ông lấy tôi vì bổn phận hiếu để với cha mẹ ông, chúng ta sống bên nhau như những đồ đạc trong nhà, được đặt cạnh nhau mà không hề có cảm xúc, không có tình cảm gì với nhau. Cả với đàn con, ông cũng vô tình lắm. Ông sống cứ như trong cõi riêng nào đó của ông." Rồi bà ấy ra đi, không một lần quay lại. Đám con im lặng chấp nhận, nhìn tôi như kết tội, rồi cũng lánh xa tôi .
Tôi chới với hụt hẫng. Một mình đi ra đi vào căn nhà lạnh lẽo trống vắng. Họ có bao giờ hiểu rằng chính vì họ, chính vì những bổn phận tôi phải đeo lên lưng tôi, khiến tôi phải giết chết cái đam mê điệu kèn saxophone say đắm trong tôi. Cũng chẳng có thời gian nào cho tôi sống thực với con người tôi. Hóa ra sự hy sinh nỗi khát vọng bấy lâu của tôi vì những trách nhiệm, những lo toan cho họ chỉ là bọt biển. Tôi đã sống một cuộc đời hết sức vô dụng.
Tôi ít giao tiếp nên cũng ít bạn bè, đi lại thăm viếng chỉ vài người bà con. Người tôi ghé thường xuyên là vợ chồng người em vợ. Hắn trước đây có lẽ không mấy quí mến gì tôi, nhưng bây giờ về già cũng không còn ai để trò chuyện. Có lần tôi đem nỗi thắc mắc về bà chị của hắn ra hỏi. Hắn đăm đăm ngó tôi, gằn giọng nói :
- Bả sống với anh như tù, ai mà chịu đựng bộ mặt lầm lì như cai ngục của anh suốt đời được, gặp tôi là cho anh đi luôn từ lâu rồi, chứ đâu đợi tới ngày này. Anh cứ thử về soi lại bản mặt anh coi. Anh tưởng anh là cái gì kia chứ.
Rồi hắn phá ra cười với bà vợ như thú vị với ý nghĩa khôi hài câu nói của mình. Tôi rợn người như bị ai tạt nước vào mặt, cảm giác như bị sỉ nhục, lặng lẽ bỏ về.
■
Cũng bất ngờ như lần đầu, tôi gặp lại ông ta trước cửa quán cafe Quick Service sau buổi tan ca.
- Cô rảnh không. Mời cô uống nước.
Tôi ngơ ngác. Tấm hình và mấy dòng tin trên báo là như thế nào?
Ông ta bình thản đặt trên bàn ly trà đá. Cái mũ xám ngay ngắn trên đầu che khuôn mặt hơi tối. Đôi mắt phai màu như ứa nước mắt nhìn tôi lặng lẽ, mệt mỏi. Cái mỉm cười gượng gạo, cay đắng, tuyệt vọng. Rồi ông bỏ đi lần ra cổng, lần này có cây gậy đi kèm. Ông đi chầm chậm hướng ra phía Autobahn. Đủ loại xe cộ vùn vụt qua lại mà ông thản nhiên đi giữa lòng đường, chầm chậm từng bước, đi mãi, đi mãi.....
Trên bàn tôi ly nước cạn không. Tôi ra dấu gọi người bồi bàn, nói:
- Xin cho một ly chanh Ruhm, càng nhiều Ruhm càng tốt, cám ơn.
Lê Thường Nguyên
■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■
Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách
Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập