dẫn nhậpđặng phùng quân |
Theo Heidegger, định hướng tư tưởng “không chỉ nói đến một hướng đặc thù của triết học, mà là một khả năng tiếp tục tồn tại tới ngày nay, nghĩa là làm thế nào để tư tưởng đạt tới chính sự vật, nói rõ hơn: đạt được vấn đề tư tưởng” (thư gửi Eugen Fink nhân sinh nhật Sáu Mươi - Freiburg-im-Bridgsau ngày 30 tháng Ba 1966).
Triết học cho đến nay vẫn là lãnh vực xa lạ với nhiều người, mặc dầu từ ngữ ấy thật quen thuộc trong đời sống hàng ngày. Chẳng hạn khi xem xét một sự kiện lên hàng vấn đề, dùng đến vài biện luận thông thường, người ta đánh giá ngay đó là triết lý. Song, tranh biện triết lý như vậy dựa trên cơ sở nào, người ta không rõ. Một phán đoán, một phát biểu bao giờ cũng đưa ra lý tắc, có thể xây dựng theo lẽ thường và như vậy đã lập thành trên một căn cứ nào đó. Nguồn gốc căn cứ như thế nào, người ta không rõ. Tranh biện như thế không đến một chung cuộc. Và lịch sử vẫn tiếp diễn.
Những vấn đề thảo luận trong sách này có thể đòi hỏi người đọc phải trang bị một số kiến thức nhất định, làm quen với những lý luận và những khái niệm không cần ghi chú xác định và diễn tiến xẩy đến trong quá trình lịch sử. Do đó ở phần dẫn nhập này, tác giả muốn đưa ra một cách khái quát hai thiết bị sơ cấp, trình bày với giới không chuyên môn dự trình đi vào triết học. Thứ nhất là những định nghĩa, danh mục từ ngữ triết đến những xu hướng, chủ nghĩa và nhân vật trong lịch sử triết học.
Phần thứ nhất này là khởi thảo công việc Dự thảo từ điển triết học giản yếu đang biên soạn. Trong công trình dài hạn này, mỗi từ mục được xét dưới một hay nhiều góc độ khác nhau: chẳng hạn một chữ, như chữ A sử dụng theo nhiều hình thái, hoặc một khái niệm, một định nghĩa, hoặc một danh tính triết gia, hoặc một trường phái, một chủ nghĩa v.v..trong quá trình lịch sử văn hóa.
A: Chữ đầu tiên trong mẫu tự quốc ngữ được dùng nhiều trong những bản văn triết học như:
1/ một thuộc từ trong những ví dụ luận lý học của Aristote: “A không là B”, trong lý thuyết hoán vị “không A nào là B” thành “không B nào là A” v.v..
2/ trong nguyên tắc đồng nhất” A=A, A tượng trưng cho bất kỳ sự vật nào trong phát biểu “sự vật thì bằng chính nó”.
3/ A được nhà luận lý Lukasiewicz dùng làm ký hiệu đặt trước trong một mệnh đề 'Apq' có nghĩa 'poq' (pvq).
4/ trong một bài luận văn nổi tiếng “La différance” của Jacques Derrida, mở đầu với câu: tôi sẽ nói về một chữ. Chữ đó chính là chữ A để Derrida đưa ra một từ ngữ mới và một khái niệm mới về sự khác biệt giữa hai từ: différence và differance. Différance là từ mới Derrida đề ra cho thấy chỉ có sự khác biệt đồ họa (graphique): a thay vì e mà không khác biệt về âm; điều đó cho thấy nó được viết ra hay được đọc nhưng không để được nghe (viết hay đọc khác nhau ở nguyên âm, song phát âm không khác). Do đó Derrida dẫn đến những hệ luận: không có văn tự (thuần túy) ngữ âm, có nghĩa là không có những âm vị/phonè thuần túy ngữ âm; khác biệt đó cũng không nằm trong trật tự của khả giác hay khả tri (như thường thấy trong sự đối lập cơ bản của triết học), nghĩa là không liên hệ với theorein/lý luận bắt nguồn từ nhìn hay trí năng/entendement bắt nguồn từ nghe/entendre, có thể nói khác biệt ở giữa ngôn từ và văn tự; khác biệt về chữ a cũng không thể trưng ra phải trở nên hiện diện trong chân lý của nó, song khác biệt này không trưng ra hiện diện, nghĩa là vượt qua trật tự của chân lý. Đó là những điểm cơ bản trong lý luận hủy tạo của Derrida.
Phần thứ hai là trình bày khái lược lịch sử triết học Đông/Tây - công việc này đã được nhiều nhà triết học thực hiện tùy thuộc vào quan niệm thẩm định lịch sử ấy theo một chiều hướng nhất định:
Những công trình về lịch sử triết học Trung quốc của Hồ Thích, Phùng Hữu Lan mang những sắc thái khác nhau. Chẳng hạn Hồ Thích đem tinh thần thực dụng áp dụng vào việc xem xét những tác phẩm cổ đại, dựa trên những lý chứng quy phạm, ngữ học ông hoài nghi tính chính thống cũng như niên biểu của một số những sự kiện thông thường người ta tin tưởng. Phùng Hữu Lan sử dụng phép biện chứng để phác họa diễn biến của các trường phái trong dòng lịch sử.
Triết học Ấn độ là một nguồn suối văn hóa phong phú, đã đưa vào Aâu châu từ thời đại Hegel qua công trình đóng góp của Henry Thomas Colebrooke, hay Anquetil-Duperron nói đến tư tưởng Upanishad ngay từ 1801. Ở phương tây, vào đầu thế kỷ XX có những công trình của Max Müller (1899), Heinrich Zimmer, Helmut von Glassenap, Paul Masson-Oursel, E. Frauwallner. Song lĩnh hội được tư tưởng triết học Aán tại bản địa cơ bản vẫn là những công trình của S. Radhakrishnan, M. Hiriyama, Surendranath Dasgupta.
Nishi Anime đã dùng từ ngữ tetsugaku (1874) để chỉ triết học du nhập ở phương tây vào Nhật bản. Đã có những công trình của Hajime Nakamura về sự phát triển tư tưởng Nhật suốt từ năm 592 đến 1868 (thời Minh trị), của K. Tsuchida về triết học hiện đại.
Những triết gia cận đại không nhằm viết lịch sử triết học như Karl Jaspers, Martin Heidegger, song đã đóng góp những lý giải đặc sắc vào việc xây dựng công trình này. Bộ Die grossen Philosophen/Những triết gia lớn của Jaspers chẳng hạn đã đem lại một tinh thần mới trong việc nghiên cứu tư tưởng nhân loại, khi ông xét đến những nguồn tư tưởng khác nhau, không dựa trên bình diện lịch đại:
Trong quyển I, ông viết về những người lãnh đạo mẫu mực nhân quần/Die maßgebenden Menschen là Sokrates, Buddha/Phật Thích Ca, Konfuzius/Khổng Phu Tử, Jesus hay những nhà tư tưởng siêu hình nguyên ủy/Aus dem Ursprung denkende Metaphysiker như Anaximander, Heraklit, Parmenides, Plotin, Anselm, Spinoza, Laotse, Nagarjuna (Jaspers giải thích: Vì bản chất của tư tưởng (siêu hình) này thì vĩnh cửu và phi lịch sử, vươn lên khỏi mọi lịch sử, tư tưởng siêu hình không trói buộc vào một khu vực văn hóa nào cả, không giới hạn ở phương Tây. Tôi chọn nói về những nhân vật của Á châu là Lão tử và Long thọ1).
Giáo trình về Những quan niệm cơ bản trong triết học cổ đại của Heidegger vốn bắt nguồn từ lối lý giải tư tưởng và ngôn ngữ hy lạp theo tinh thần thông diễn luận riêng đã soi rọi một số những vấn đề triết lý:
Trong giáo trình dẫn trên vào năm 1926, ông nói mục đích nhằm chỉ ra sự khác biệt, có thể là lập lại khởi sự của triết học, đồng hành với khởi sự đầu tiên quyết định của triết lý khoa học, khai phá hữu khởi từ hiện thể.
Những công trình của các nhà viết lịch sử triết học cũng chứng tỏ chuyển biến tư tưởng nhân loại không trong tinh thần nhất/nhị mà khả dĩ là đa nguyên:
Nhiều bộ lịch sử triết học với những tên tuổi như Karl Vorländer, Wilhelm Windelband, Emile Bréhier đã là những tác phẩm tham khảo quan trọng đối với giới học thuật, tuy vậy vẫn còn khiếm khuyết. Chẳng hạn bộ lịch sử triết học của Windelband, dựa trên nguyên tắc trình bày lịch sử theo hai chiều hướng: vấn đề và quan niệm, khi nói đến triết học Hy lạp thì xét dưới ba góc độ vũ trụ luận, nhân loại luận và hệ thống luận, sang đến thời kỳ Hy-La thì xét theo hai mặt đạo đức và tôn giáo, thời Trung Cổ và Phục hưng thì xét theo tinh thần nhân bản và khoa học tự nhiên, thời Khai sáng thì xét theo những vấn đề về lý luận và thực tiễn, khảo riêng về triết học Đức mà ông coi là thời kỳ nở rộ trong lịch sử tư tưởng châu Âu, trong bốn thập niên (1780-1820) có thể so sánh với sự phát triển vĩ đại của triết học Hylạp từ Socrate đến Aristote, phân chia hai giai đoạn Kant phê bình lý trí và sự phát triển của chủ nghĩa duy tâm, khái quát diễn tiến của triết học thế kỷ 19 (tức là thời đại của ông) mà ông đánh giá là không có gì chủ yếu và có giá trị mới xuất hiện, siêu hình học của thế kỷ 17 cũng như thời khai sáng của thế kỷ 18 bị tư tưởng triết lý tự nhiên ngự trị, và nhiều khoa học mới hình thành như xã hội học, tâm lý học, trong khi đề cập thời đại này, Windelband nói đến Dilthey, Nietzsche mà bỏ quên Brentano, Kierkegaard.
Quyển Lịch sử triết học phương tây của Bertrand Russell có lối nhìn phiến diện, chỉ chú trọng đến triết học phân tích mà bỏ qua mảng lớn triết học lục địa hiện đại, như hiện tượng luận, cho nên đề cập Frege mà không đả động đến Husserl.
Trong truyền thống Hegel, để viết một lịch sử triết học của triết học, Alexandre Kojève đã đề xuất ba Dẫn nhập cho một dự trình Hệ thống Trí năng gồm ba phần Khái niệm, Thời gian và Diễn ngôn - Dẫn nhập thứ nhất về mặt tâm lý của Khái niệm, dẫn nhập thứ hai về mặt luận lý và dẫn nhập thứ ba về mặt lịch sư2 của tác phẩm Essai d'une histoire raisonnée de la philosophie païenne/Khảo luận của một lịch sử biện lý của triết học vô tín ngưỡng.
Triết học vô tín ngưỡng là thời kỳ trước Ki tô giáo mà Kojève quan niệm có những thông đề/para-thèse khởi từ tư tưởng hy lạp, và ông chia ra hai chủ đề chính là tâm lý (Aristote) và luận lý (Platon).
Kojève đã khai triển và bổ xung biện chứng Hegel với khái niệm thông đề: theo ông, “nói chung, đặt một thông đề bên cạnh hay thêm vào một đề và phản đề của nó là có ý nói rằng ý nghĩa của điều ta nói là một “hợp đề” hay, đúng hơn, một tổng số những nghĩa của đề và phản đề này mà ta chỉ dùng từng phần của chúng”. Dự thảo lịch sử của Kojève gồm ba thông đề: Platon (đề), Aristote (phản đề) và dự triệu vô tín ngưỡng của thông đề do thái -ki tô giáo (hợp đề).
Một công trình khai triển Những dòng chính trong triết học được tổng kết và biên soạn của Paul Ricoeur vào năm 1978 đặt trọng tâm trên vấn đề tư tưởng xét đến những hình thái nhận thức của con người:
Phần một bàn về Triết học của Luận lý và Luận lý của triết học nhằm giải đáp hai vấn nạn: đâu là mối quan tâm của những công trình trong quá khứ liên hệ với những nghiên cứu trong hiện tại và đâu là mức độ chân lý hàm chứa trong một công trình triết học như vậy, đối với việc thúc đẩy nhà triết học viết khi lịch sử triết học được coi là tiêu chí của chân lý3.
Đó cũng là lý do Martial Guéroult khi dự tính khai triển một khoa học ông gọi là Dianoématique đã xác định là “khoa học về những điều kiện khả hữu của những tác phẩm triết học vì chúng có một giá trị triết lý không thể hủy diệt” - trên cơ sở chân lý phán đoán/veritas in intellectu.
Một chiều hướng như vậy có hẳn toan tính giấc mơ của những nhà tư tưởng trước đây muốn xây dựng ra một triết học vĩnh cửu/philosophia perennis?
Những công trình biên soạn lịch sử triết học cập nhật hóa hiện đại mang tinh thần tập thể như bộ sử do Châtelet, hay Belaval chủ trương, giao cho những nhà chuyên khảo về từng triết gia, hoặc trường phái nhằm bảo đảm tính công chính là những tài liệu tham khảo có giá trị. Những công trình tập thể chú trọng giới thiệu đến sự phát triển triết học ở từng nước châu Âu do Raymond Klibansky chủ trương bước đầu đã vượt qua thành kiến thiển cận (chỉ coi triết học tập trung ở Đức và Pháp), cho thấy sinh hoạt phong phú của triết học hiện đại.
Để có một cái nhìn toàn cảnh triết học tây phương, tác giả trình bày lịch sử này một cách khái quát dành cho độc giả không chuyên môn, bắt đầu từ triết học Hy lạp:
Khởi nguyên của triết học hy lạp không phải là đối lập giữa huyền thoại/mythos và lý ngôn/logos như quan niệm về sau, mà ở thời cổ đại từ ngữ mythos để chỉ ngôn từ, ngay trong những thiên đối thoại của Platon4 -cho nên ngôn từ triết học hy lạp cổ đại tạo nhiều lý giải khác biệt sau này. Từ ngữ triết học/philosophia để chỉ việc đi tìm minh trí, vì khởi sinh của minh trí/sophia chính là đi tìm mẫu mực và công lý. Triết học cổ đại này đánh dấu từ những nhà minh triết thường được kể là nhóm thất hiền (Solon, Chilon, Pittacos, Cleobule, Bias, Myson, Thalès) vốn là những nhà lập pháp và những nhà tư tưởng như Épiménide và Phérécyde với những huyền thoại phổ hệ nhằm đi giải thích quan hệ của con người với thế giới.
Một lối phân chia khá phổ biến và quy ước là phân chia triết học cổ đại làm hai thời kỳ: tiền Socrate từ Thalès đến những nhà ngụy biện. Thalès (624-546 trước công nguyên), Anaximandre (610-546), Anaximène (585-528), Anaxagore (500-438), Parménide (540-480), Héraclite (544-483) được gọi là những triết gia tiềnSocrate/présocratiques. Những nhà tư tưởng này được biết đến như đã giải thích khởi nguyên của thế giới, theo Thalès là nước, theo Anaximandre là khí/apeiron, theo Anaximène là bốn thành tố (khí, đất, nước và lửa), theo Anaxagore là tinh thần/Nỏs, theo Héraclite là lửa. Parménide quan niệm vạn vật không thay đổi, trái lại Héraclite quan niệm vạn vật thay đổi (mọi sự luân lưu, do đó không tắm hai lần trong cùng dòng sông), Pythagore quan niệm nguyên lý thống nhất với con số lập ra trật tự, Empédocle coi những lực động như yêu, ghét tác động mọi sự, trong khi Anaxagore cho tinh thần là nguyên nhân duy nhất.
Hai châm ngôn nổi tiếng của triết học cổ đại: “hãy tự biết mình” và “đừng làm gì thái quá” lanhững câu sấm từ đền Delphes nhằm đi tìm công lý và tiết độ, phản ảnh mối liên hệ cân bằng giữa thần quyền và thế quyền, giữa con người và vũ trụ.
Nếu ta so sánh sự phát triển tư tưởng cùng thời kỳ này giữa Đông và Tây, quan niệm về một, về vô, về khí, về am dương cũng theo đuổi mục đích như những quan niệm theo người hy lạp nói đến ở trên nhằm tìm bản nguyên của mọi vật, hay lời của Khổng tử: “thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ” tương đồng với lý luận chuyển biến của Héraclite. Luận ngữ, Mạnh tử, Nam hoa kinh viết thật khúc chiết giống như những thiên đối thoại của Platon.
Cho đến nay, tư tưởng của những triết gia tiền Socate chỉ là những đoạn thiên còn lại trong những sách vở thời sau, trong khi Socrate (469399) là người không viết gì cả, song lại xem như một điển hình của triết gia, đánh dấu khúc quanh của tư tưởng Hy Lạp với Platon (427-347) xây dựng trường gọi tên là Academos (tên một người anh hùng trong truyền thuyết hy lạp) và Aristote (384-323) xây dựng trường Peripatos/nơi đi dạo trong khuôn viên Lyceum (thánh địa thờ Apollon Lycien).Tổ chức của hai trường này với những thư viện, giảng đường, ghi chép có thể xem như khuôn mẫu của đại học thời sau. Platon và Aristote là những triết gia lớn của phương Tây đầu tiên đã để lại những tác phẩm hoàn bị, về cả hai mặt triết lý và khoa học/epistémè.
Những thiên đối thoại của Platon trình bày tranh luận giữa Socrate và nhiều người khác về mọi vấn đề, như lời của Socrate: “Công việc duy nhất của tôi quả thực là ra ngoài đường để thuyết phục mọi người, già cũng như trẻ, đừng quá bận tâm về thân thể cũng như tài sản của mình say đắm như bận tâm về tâm hồn mình, làm sao để trở nên tốt hơn.” Theo như vậy, đối với Socrate và Platon, tri thức gắn liền với đạo đức. Những lý luận chính của triết học Platon thường được nói đến là ẩn dụ hang động (con người sống như bị nhốt trong hang, chỉ nhìn thấy bóng của mọi sự vật phản chiếu trên vách), thuyết hồi ức/anamnhsiV (liên quan đến những Ý tưởng nguyên mẫu, do đánh động tri thức mà nhớ lại), lý luận Ý tượng là thực tại phi vật chất/aswmaton quan niệm ý tượng hay hình thái là nguyên mẫu mà qua hồi ức hay mô phỏng chẳng hạn, ta biết đến qua hình ảnh của chúng, quan hệ giữa ý tượng và thế giới hiện tượng qua hành động tham dự/meqeziV hay hiện diện/parousia5. Aristote là triết gia đầu tiên xây dựng một hệ thống luận lý/Οργανον làm nền tảng phương pháp luận cho tư tưởng. Ông kế thừa công trình của những triết gia về trước, kể cả phái Ngụy biện (về nghệ thuật chứng cớ và phủ bác), đề ra khái niệm diễn dịch/άπόδείξις suy ra cái riêng từ cái chung, xây dựng học thuyết tam đoạn luận/ συλλογισμός là diễn dịch một phán đoán rút ra từ hai phán đoán có trước, gồm ba hạn từ là chủ từ, thuộc từ và trung từ đã tạo ra những hình thái tư tưởng, cho nên luận lý học này gọi là luận lý học hình thức. Trong hệ thống lý luận của Aristote, có những cơ sở tư duy như những khái niệm, phạm trù, nguyên tắc mâu thuẫn giúp ta có thể tư duy trừu tượng. Ông cũng đi xa hơn những triết gia tiền bối như Démocrite (giải thích hiện tượng qua thuyết nguyên tử và chuyển động) hay Platon (thuyết ý tượng và nhân quả) qua việc xét những mặt đa dạng của hữu thể, đề ra khái niệm về quan hệ và khai triển giữa hình thái và chất thể. Nếu những thiên đối thoại của Platon khai triển nhiều chủ đề khác nhau, thì với Aristote, những tác phẩm để lại là một hệ thống hoàn bị của triết học, từ luận lý học đến vật lý học, siêu hình học, tâm lý học và khoa sinh học (có tính thực nghiệm, nhờ vào thời gian ông tự lưu đày trên đảo Lesbos). Giải quyết vấn đề bản thể, Aristote đi tới một triết học hành động, cho nên đời sau xem ông là tiêu biểu chủ nghĩa duy thực, đối lại với chủ nghĩa duy tâm của Platon.
Vào thời đại của Platon và Aristote, phát triển nhiều trường phái. Học thuyết nguyên tử của Démocrite (khoảng 460-360 trước C.N.) cùng vào lúc với những nhà Ngụy biện. Démocrite quan niệm tư tưởng/διάνοια là một tri thức cao hơn cảm thức/αϊσθησις của nhà Ngụy biện Protagoras, giản lược mọi hiện tượng vào hoạt động cơ chế của nguyên tử. Cũng như người tiền bối Leucippe, Démocrite quan niệm nguyên tử vận động trong không gian rỗng, từ vận động này giải thích mọi hiện tượng về mặt lượng cũng như phẩm của thế giới vật lý và tinh thần, đưa ra một lý luận về ảnh tượng/εϊδωλα là cơ sở của tâm lý sinh lý học duy vật. Ở cuối thế kỷ thứ tư trước công nguyên xuất hiện bốn trường phái lớn khác là những triết gia khắc kỷ, những khuyển sĩ, những nhà tư tưởng hoài nghi và những người theo Épicure.
Phái khắc kỷ Stoa/Στοά ποικίλη do Zeno (khoảng 340-265) xướng xuất từ năm 308 và những môn đệ như Cléanthe, Chrysippe quan niệm nhân vị là nguyên tắc chính yếu, nhà hiền triết là người có lý trí/νοûς thuận theo tự nhiên, vượt lên những đam mê làm xáo trộn tâm hồn. Tinh thần khắc kỷ là chuyển hóa những kích thích của cảm quan thành những hoạt động của ý chí, đạo đức khắc kỷ nhằm hướng thiện, thắng điều xấu vốn dùng những đam mê để kiềm chế lý trí, dửng dưng/άδιάΦορα, phi cảm/άπάθεια. Phái khắc kỷ cũng là học thuyết đầu tiên sử dụng từ ngữ hệ thống/η để chỉ một hệ thống triết lý, quan niệm một khoa học về những sự vật của thần và của người, sử dụng từ ngữ luận lý/ι để chỉ một khoa học về đúng và sai, mà đối tượng là sự vật được xác định, diễn tả được/. Luận lý học về sự vật diễn tả được hàm ngụ một khoa ngữ học đầu tiên phân biệt ngữ ý/ và ngữ thái/η Lấy thí dụ hai người có ngôn ngữ khác nhau, chẳng hạn nói tiếng Anh và tiếng Việt, một người phát âm “dog” người kia nghe được hoàn toàn tiếng đó và cả hai đều biết “sự vật” mà người thứ nhất chỉ thị song hai người không thể thông cảm lẫn nhau. Như vậy giữa âm phát ra/ngữ thái và sự vật được chỉ định phải có một lãnh vực về cái được chỉ thị/ ngữ ý. Phái khắc kỷ đanhận ra điều mà ở thế kỷ 19, Frege mới phát hiện là ngôn ngữ không nói trực tiếp sự vật, mà phải qua một hệ thống ý nghĩa. Chân lý theo nhận thức luận khắc kỷ xuất hiện trong biểu tượng/ và quá trình này có thể diễn tả như chuyển động của bàn tay: mở ra tượng trưng cho biểu hiện, nắm lại tượng trưng cho đồng thuận, lĩnh hội và khoa học. Triết lý hành động của khắc kỷ đòi hỏi thuận theo tự nhiên, song mặt khác, hiền nhân là người biết sống hài hòa nội tại, dửng dưng với ngoại tại, xem ra có vẻ tự mâu thuẫn nhưng thực ra tự nhiên của khắc kỷ là một tổng thể hợp nhất, để thực hiện điều này nhà hiền triết khắc kỷ phải thực hành một đời sống đạo đức theo một vận hành biện chứng, và đó cũng là nhược điểm làm đối tượng phê phán của những triết gia về sau.
Tương phản với khắc kỷ là những người theo triết học của Épicure (341-270), người có tuyên ngôn là “nguồn gốc và căn để của điều thiện ở trong khoái lạc của bụng” làm mục tiêu cho những phê phán đương thời cũng như sau này coi như một thứ triết học duy vật thấp kém. Épicure kế thừa tư tưởng của Aristippe, môn đệ của Socrate, với quan niệm lạc thú là điều thiện cao cấp tương phản, với đau đớn là điều dữ tệ hại nhất, và thuyết nguyên tử của Démocrite, cơ sở của chủ nghĩa duy vật, giải phóng con người thoát khỏi mê tín, sợ hãi thần thánh. Épicure đưa ra một quan niệm tri thức thực tiễn/ có quy củ trong một tác phẩm về tự nhiên (đã thất lạc), và sau này Lucrèce khai triển trong Về bản nhiên mọi sự vật/De natura rerum. Cũng như những nhà khắc kỷ, Épicure thiên về thực nghiệm, không tin vào những suy luận phổ quát như Platon và Arisote, dựa trên chứng cớ của giác quan và quan sát/. Thuyết duy cảm của Épicure tri giác, căn bản là xây dựng trên lý luận tiếp cận sự vật một cách cụ thể như thị giác, thính giác và trong trường hợp không có tiếp cận trực tiếp, thì có những dự cảm mà ông gọi là dự bác pháp, vận động của những ảo tượng/ do sự vật phát ra có chức năng tiếp cận với những giác quan tương ứng. Những nhà theo thuyết hoài nghi có phản ứng đối lập với người khắc kỷ hay khoái lạc theo Épicure, thật ra đã có một quá trình lịch sử lâu dài, ngay từ Pyrrhon d'Élis, người sống cùng thời với Aristote. Pyrrhon quan niệm chân lý không thể đắc thủ và bản nhiên của sự vật có tính không biểu hiện. Tuy ba trường phái hoài nghi, khắc kỷ, khoái lạc khác nhau, song cũng tương đồng ở chỗ quan niệm hạnh phúc là ở chỗ vô cảm và vô tư; phái hoài nghi giải thích vô tư dựa vào bất xác, nghĩa là không khẳng định, cũng không phủ định mà trong tình trạng giảm trừ phán đoán/, do đó không thể đắc thủ chân lý, cũng như bản chất của mọi sự vật không biểu hiện. Những triết gia hoài nghi kế tục như Aenésidème, Sextus Empiricus khai triển những phép chuyển nghĩa/tropes, những lý chứng cho rằng không có nhân quả, phê phán chủ nghĩa giáo điều, có thể coi như những người tiên khu của Montaigne và Hume sau này.
Cuộc khủng hoảng hoài nghi chống lại xu hướng giáo điều, chứng tỏ tính phủ định và tự do của tư tưởng kéo dài suốt thời kỳ ảnh hưởng tinh thần hy lạp cho đến việc xuất hiện tư trào triết học mà những nhà viết sử triết học mệnh danh là chủ nghĩa tân Platon, với Plotin (205-270). Những khuyển sĩ như Antisthène, Diogène de Sinope, Crate, Ménippe là những người có tinh thần nổi loạn của thời cổ đại, chống lại mọi quy ước xã hội, bất kể về mặt tôn giáo, phong tục. Tuy họ quan niệm sống như loài khuyển/ (do đó có từ khuyển sĩ) song trường phái này có thể có tên từ tên Cynosarges, và trái với tiếng Cynique sau này để chỉ người vô sỉ, những nhà tư tưởng khuyển sĩ có quan niệm nhất định về đức hạnh, biết kiềm chế dục và sống tự nhiên/. Những nhà khắc kỷ chịu ảnh hưởng quan niệm này. Tư tưởng khuyển sĩ phát sinh trong khoảng thể kỷ thứ tư và thứ ba trước công nguyên ở Hy lạp và phục sinh vào thời đế chế La mã để trở thành một thứ triết học đại chúng.
Triết học nói tiếng Hy Lạp - François Châtelet lập lại lời Heidegger -để chỉ khởi thủy của triết học phương tây, có thể nói tận cùng là Plotin (mà Pierre Aubenque đã chứng tỏ rõ ràng thành kiến sai lầm về việc coi học thuyết này là tiếng vọng của tư tưởng thiên chúa giáo, hoặc coi như sửa soạn của giai đoạn thần học sắp tới), với nỗ lực đi tìm một Nguyên lý thứ nhất, khởi sinh của phức thể từ nhất thể, kế thừa tư tưởng về cái Một của Parménide và Platon, triết học Aristote và khắc kỷ. Ở vào nửa sau của thế kỷ hai mươi, những triết gia của thời đại như Michel Foucault, Gille Deleuze dấy lại cái sinh động của khắc kỷ, Barbara Cassin khai triển hiệu quả của lý luận nguỵ biện, Marie-Odile Goulet-Cazé, Peter Sloterdijks, Margerethe Billerbeck, André Glucksmann phân tích tinh thần khuyển sĩ trong hiện tại6 ...
Sự bành trướng của đế chế La mã mở một bước ngoặt trong tư tưởng phương tây, đánh dấu một thời kỳ mà Bertrand Russell gọi là triết học Ki tô giáo thống trị suốt mười thế kỷ, quyền lực của Giáo hội, bắt đầu từ Augustin (354-430) đến thời Phục hưng. Ông nhận xét: Trong những thế kỷ trước Augustin, là những triết gia của Khắc kỷ và tân Platon, sau thời Phục hưng, ngay cả những triết gia thiên chúa giáo chính thống cũng không quan tâm đến những nhà kinh viện và truyền thống Augustin nữa.
Những nhà tư tưởng trong thời kỳ này đáng kể là triết học kinh viện với Anselm, Abélard phát triển tri thức luận và luận lý học, Thomas d'Aquin (1225-1274) khai triển tư tưởng Aristote theo chiều hướng độc tôn thần học đã mở ra một dòng thần học ảnh hưởng vẫn tồn tại đến ngày nay. Roger Bacon (1214-1294), Duns Scotus (1266-1308) và William of Ockham (1385-1349) là những nhà thần học thuộc dòng Francis, khác với giáo lệnh của dòng Dominic (quan niệm không nên học những khoa học và học thuật mỹ nghệ thế tục), là những học giả không chấp nhận quyền lực độc đoán của Thomas d'Aquin, như Bacon chẳng hạn đã viết Compendium Studii Philosophiae công kích sự ngu muội của hàng tăng lữ, Duns Scotus khai triển lý luận những phạm trù, William of Ockham ngoài những tư tưởng chính trị sôi nổi đã phát triển luận lý học Aristote, với một châm ngôn thời danh (thường gọi là “dao cạo của Ockham”) là “những thực thể không thể tăng gấp bội nếu không cần thiết”7, có ý nghĩa mọi sự trong khoa học có thể lý giải mà không cần phải dựa vào thực thể giả định này nọ, mà Russell cho là nguyên tắc phong phú nhất trong phân tích luận lý.
Sau 15 thế kỷ chìm đắm trong “bóng tối mù ám” của thần học và phong kiến, những nhà tư tưởng như Thomas Müntzer hay Giordano Bruno bị xử tử, như Karlstadt hay Galilée (Galileo Galilei) bị chết trong lưu đày, những thế quyền và thần quyền cũng không ngăn cản được sự phát triển trí thức vào thế kỷ XVII, đánh dấu thời đại mới. Một triết học mới khởi sự từ Descartes - người mà Hegel coi là nhà tư tưởng hiện đại đầu tiên.
Chủ nghĩa Descartes/Cartésianisme với những triết gia tiêu biểu là Descartes (1596-1650), Malebranche (1638-1715), Spinoza (16321677) mở ra trang sử triết học hiện đại/philosophie moderne, có thể nói như quang cảnh mới của một triết học nở rộ giống như thời Hy lạp cổ đại, và sinh hoạt đó tồn tại và tiếp diễn đến ngày nay. Một số những đặc điểm cơ bản của triết học này như: khu biệt triết học và thần học (ngay đối với một người sùng tín như Malebranche, sau khi khám phá ra học thuyết Descartes), một lối tư duy mới (trong hướng tính xây dựng một khoa học phổ quát), như Yvon Belaval mệnh danh “thế kỷ của phương pháp” với Phương pháp luận của Descartes, Tư duy nghệ của phái Port-Royal, Luận lý học cũ và mới của Clauberg, Luận về cách tân tri thức của Spinoza, Khảo về chân lý của Malebranche, Y lý tinh thần của Tschirnhaus8 v.v..
Hành trạng tư tưởng Descartes khởi sự với tinh thần duy lý như ông bầy tỏ trong Phương pháp luận: “Trước hết tôi thích thú toán học vì tính chính xác và hiển nhiên trong những lý lẽ của khoa học này”. Những môn toán như hình học, đại số có thể giảm trừ vào một phương pháp mà tiêu chí rõ rệt là hướng dẫn lý trí và tìm ra chân lý, như một phương pháp phổ quát cho nhận thức những sự vật hiện hữu. Những tác phẩm chính của ông như Những quy tắc hướng dẫn tinh thần (1628), Phương pháp luận (1637), Những suy niệm siêu hình học (1641), Những nguyên lý triết học (1644), Luận về những đam mê của linh hồn (1649)9 chỉ ra cuộc đời của ông là một khai phá đi tìm những nguyên lý thật sự của một người tiền phong trên con đường triết học mới, xây dựng một hệ thống những tri thức của con người, giống như một cái cây, gốc rễ là siêu hình học, hay triết học đệ nhất, thân là những khoa học, nghiên cứu bản chất của người cũng như mọi vatä. Khai phá này có thể diễn tả qua ba chặng: chủ thể Descartes hoài nghi, nhận ra cái tôi đang suy nghĩ tức là hiện hữu - cogito ergo sum. Lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng, hoài nghi kiểu Descartes này mang tính phương pháp, triệt để vì ông quyết định là “giả vờ như mọi sự vật đối với tinh thần không có thực như những ảo tưởng trong giấc mộng” nghĩa là hoài nghi tới tận cùng nguồn gốc của mọi nhận thức, ông phát hiện ra là “có một kẻ đánh lừa rất quỷ quyệt và đầy quyền năng, dùng mọi xảo kế để lừa tôi. Không thể nghi hoặc được là nếu y có lừa tôi, tôi vẫn hiện hữu; giả như y có lừa tôi thế nào đi nữa, cũng không bao giờ có thể làm cho tôi không là gì hết, khi tôi suy nghĩ là một cái gì đó.” Song chỗ dựa của Descartes ở đâu? Trong Phương pháp luận cũng như Suy niệm siêu hình học, ông khẳng định: Cần thượng đế để nhận thức chắc chắn bản chất của tôi và tôi là “một bản thể mà cả bản chất hay bản nhiên chỉ là suy nghĩ”. Trong Những nguyên lý triết học, ông giải thích, khi phát biểu mệnh đề Tôi suy nghĩ vậy tôi hiện hữu là mệnh đề đầu tiên và chắc chắn nhất đối với ai muốn hướng dẫn tư tưởng của mình theo trật tự, không thể phủ nhận là trước tiên phải biết cai gì lasuy nghĩ, chac chắn, hiện hữu và để suy nghĩ, phải hiện hữu.
Từ Descartes, khởi đầu một triết học chủ thể và một khái niệm rõ rệt về “ý thức”. Cũng trong thế kỷ XVII này, Malebranche tiếp nối truyền thống Descartes, tuy nhiên trong Khảo về chân lý (1674-75) phê phán khái niệm cogito vì “cái tôi suy nghĩ/cogito khai lộ cho chúng ta là chúng ta hiện hữu, song nó không cho chúng ta biết chúng ta là cái gì”, loại bỏ lý luận về những ý tưởng bẩm sinh, cũng như tác động nhân quả của linh hồn trên thân thể hay ngược lại. Malebranche đưa ra khái niệm cơ hội, áp dụng vào sự va chạm của những vật thể, xét mối quan hệ giữa tinh thần và thân thể; ông quan niệm tinh thần không tạo ra những ý tưởng, và những ý tưởng thì không phải là đã có khi sinh ra. Linh hồn có một bản nhiên tâm linh, và trong khái niệm “tham dự” chỉ ra một hữu thể tinh thần. Chúng ta nhận biết được bản chất của mọi vật thể qua ý niệm về một trương độ khả niệm/étendue intelligible, ý niệm này chứa đựng toàn bộ những quan hệ về những đặc tính của vật thể, vận động và tri giác vật thể. Ý niệm trương độ khả niệm này chỉ ra giới hạn lãnh vực của nhận thức vào lãnh vực của toán học và vật lý học, và cũng trong truyền thống Descartes, thuộc về ngôn ngữ của toán học, thượng đế không phải là đối tượng của ý niệm, mà hiển nhiên và trực tiếp đối với tri thức của con người.
Spinoza sử dụng lối trình bày hình học như trong Những nguyên lý triết học của Descartes và Đạo đức học vẫn là hình thức quen thuộc của chủ nghĩa Descartes. Ông quan niệm trái với mục đích luận, “những nguyên nhân cứu cánh chẳng là gì khác những hư cấu của con người”. Triết học vùng Xứ Hạ này phát triển từ thời Trung Cổ, và chủ nghĩa Descartes với những khoa vật lý toán học được đón nhận nhiệt tình tại Louvain. Thời đại hoàng kim của sinh hoạt triết học Hoà lan được kể là ở vào thế kỷ XVII, với Arnold Geulincx dung hợp chủ nghĩa Descartes với thần học theo Jansenius (chủ nghĩa dương thân) và khuôn mặt tư tưởng tiêu biểu là Spinoza, người kế thừa truyền thống Descartes về lý tưởng toán học, quy tắc của chân lý, nguyên tắc khu biệt sự vật tinh thần và vật chất, loại trừ cứu cánh luận, song cũng chỉ ra những sai lầm của Descartes về bản tính của nguyên nhân thứ nhất và bản tính tinh thần của con người. Spinoza cũng đưa ra những phê bình tôn giáo, những suy nghĩ hiện sinh ý thức về phù phiếm của cải vật chất, thay vì coi chúng chỉ là những phương tiện hữu ích trong Luận về cách tân tri thức. Lý tưởng của đời sống như Spinoza đã xác định ngay ở phần đầu tác phẩm Đạo đức là “mọi người sinh ra không có nhận thức về những nguyên nhân mọi sự và thích thú đi tìm điều gì hữu ích cho họ và họ ý thức điều đó”. Theo ông bản nhiên của Tối Thiện là có được “nhận thức về phối hợp của tinh thần với tự nhiên”. Về điểm này ông chịu ảnh hưởng của Bacon khi quan niệm natura naturans là nguồn gốc năng động của tự nhiên phân biệt với natura naturata là toàn bộ sự vật hiện hữu xét về phối trí và kết hợp. Ông cũng nhìn ra thiện và ác chẳng là gì khác ngoài những quan hệ cần phải đặt chúng trong thực thể của lý trí/entia rationis ngay từ tác phẩm đầu tay Giản luận về thượng đế, con người và chân phúc (1660). Quan niệm thượng đế hay tự nhiên/Deus sive natura của ông xem như đồng nhất với tự nhiện, vô ngã gặp nhiều chống đối, cũng như bị coi là phiếm thần, song triết học của ông mở ra nhiều ngả tự do cho những triết gia sau này.
Triết học Đức khởi từ khoảng thế kỷ thứ chín với những trường đầu tiên do Alcuin, Hrabanus Maurus xây dựng, những học thuyết của Aristote, Platon, Ki tô giáo, thần bí giáo như Hildegards von Bingen (10981173), Otto von Freising (1114-1158), Johann Eckhart (1260-132), Nikolaus Cusanus (1401-1464) thời Phục hưng chủ yếu vẫn là công việc nhà trường, thừa hưởng tinh thần nhân bản và kinh viện cho đến Leibniz (1646-1716) đánh dấu bước ngoặt từ thời đại trung cổ sang hiện đại.
Leibniz ở vào thời đại thừa hưởng tính thực nghiệm của Hobbers và Bacon, cùng với tinh thần Descartes nên ông có những công trình khoa học như Những giả thuyết mới về vật lý học, Những phương pháp mới về cực đại và cực tiểu (trình bày phép tính vi tích phân), Chứng minh ngắn về một sai lầm đáng kể của Descartes (phê phán những định luật của Descartes về va chạm của những vật thể), Về chính tự nhiên, hay lực nội tại và tác động của mọi vật, những tác phẩm triết học như Những suy niệm về nhận thức, chân lý và ý niệm, Luận về Siêu hình học, Về cải tổ triết học đệ nhất và khái niệm bản thể, Những luận văn mới về tri thức con người, Đơn tử luận, Thần nghĩa luận, Những nguyên lý về tự nhiên và ân sủng xây dựng trên lý trí10. Trong khi Descartes quan niệm thực tại cơ bản gồm hai bản thể, mà Spinoza chủ trương chỉ có một, Leibniz đưa ra một lý luận mới là thực tại bao gồm vô số những bản thể phi vật chatámà ông gọi là đơn tử/monade là những bản thể đơn giản không có những bộ phận, vào trong những hợp chất, cũng không có cửa sổ để bất kỳ vật nào có thể đi vào hay đi ra, một quan niệm về những thành tố của mọi vật. Từ lý luận đơn tử, Leibniz đã xây dựng một học thuyết về điều hoà tiền định, không có những mâu thuẫn, không có phân cách giữa thân thể và linh hồn, vì đơn tử bao hàm nhất thể và phức thể, đồng nhất và khu biệt, mối quan hệ giữa thân thể và linh hồn giống như quan hệ giữa dấu chỉ và ý niệm (theo lối diễn tả ngày nay, là quan hệ giữa ngữ thái và ngữ ý), song hành với nhau, hay có thể nói linh hồn có thân thể vì có vô số những đơn tử mà mỗi đơn tử biểu hiện theo cách của nó, ở mỗi vị thế nhất định. Chính từ thế giới quan này, Leibniz đã có ý niệm về nhân tố nhị phân, về phép tính vi tích và một lý luận về độ hình học/topologie.
Descartes mở đầu một dòng triết học mới ở phương tây, có thể nói sau ông, người ta không thể tư duy triết lý như trước nữa. Một phương pháp hoài nghi đã làm nổi bật chủ thể và ý thức (cogito ở đây không phải là cái tôi đơn giản mà là chủ thể của chân lý), tự do của ý chí, chính xác của thuần lý khoa học. Những nhà tư tưởng sau ông như Pascal (trong lý luận về niềm tin, phát hiện một thượng đế dấu mặt/deus absconditus - trời có nói gì đâu, như chính ngôn của Khổng tử: thiên hà ngôn tai), Hobbes (quan niệm bản tính con người vốn ác - homo homini lupus), Spinoza (trong quan niệm toàn thiện - homo homini deus), Locke (thực nghiệm đối chứng những ý niệm bẩm sinh) đã vĩnh viễn đóng lại con đường kinh viện, mở ra chân trời mới của tư duy. Hume đã đưa tư tưởng triết học từ chỗ duy tâm nơi Berkeley đến nghi hoặc giáo điều về quan niệm nhân quả. Song phải tới sau thời kỳ khai sáng/Aufklärung đánh dấu thời kỳ trưởng thành của những khoa học tự nhiên, một tinh thần phê phán mới thực sự đưa triết học sang một bước ngoặt khác.
Immanuel Kant (1724-1804) đã khai phá con đường tri thức mới làm nền tảng cho những bộ môn triết học sau này phát triển: tác phẩm Phê bình lý trí thuần túy xuất hiện vào giai đoạn chín muồi trong cuộc đời ông khi ông đã 55 tuổi, ví như hành trạng triết học nhân loại đã ở vào tuổi già (người ta bắt đầu nói đến cáo chung của siêu hình học, lịch sử) Cũng như những nhà triết học đi trước (Descartes, Leibniz) theo truyền thống thuần lý, Kant khởi sự với những công trình về các khoa học khác nhau, bàn về những vấn đề vật lý, thiên văn, toán học v.v.. Giai đoạn này trong đời Kant được gọi là thời tiền phê bình, vì quả thực sau đó Kant đã tập đại thành ba tác phẩm lớn mang tên: Phê bình lý trí thuần túy, Phê bình lý trí thực tiễn, Phê bình quyền năng phán đoán11 chỉ ra ba bước chính là tri thức luận nhằm vượt siêu hình hoc, đạo đức luận nhằm đưa ra những tiêu chí thực hành và mỹ học hiểu theo nghĩa rộng rãi (mà Kierkegaard sử dụng) nhằm chỉ ra khả năng con người có thể làm gì, phản ánh tư tưởng đi tìm giải đáp ba vấn nạn: tôi có thể biết gì? tôi phải làm gì? tôi được phép hy vọng gì? Triết học Kant không phải gò bó trong hình thức luận đạo đức, có nghĩa là không phải ông đưa ra những luật lệ đạo đức như thể trước đó nhân loại sống trong mông muội, nhưng ông đi tìm lý tưởng tự do, như chính Kant chỉ ra: “Điều mà Archimède yêu cầu song không tìm ra nó là một điểm cố định, ở đó lý trí có thể dựa vào đòn bẩy, nó không ở trong thế giới hiện tại, cũng không ở trong thế giới vị lai, nhưng trong Lý tưởng nội tại của tự do mà luật lệ đạo đức bất di dịch đặt ra cho nó như nền tảng kiên cố để nhờ vào những nguyên tắc này mà ý chí con người có thể khởi động trong đối đầu với toàn thể tự nhiên.” Khi đi tìm đâu là định hướng cho tư tưởng, Kant đã chỉ ra cơ bản của triết lý phê bình là “phải tự chính mình tư tưởng, tức là đi tìm trong tự bản thân, trong lý trí của chính mình hòn đá tảng thử nghiệm của chân lý” - và phương châm luôn luôn tự mình tư tưởng đó chính là khai sáng/Aufklärung. Điểm then chốt trong triết học phê bình của Kant là xác định, khác với những quan niệm triết lý trước đây coi nhận thức của con người tùy thuộc vào thiên nhiên, mọi sự vật được nhận thức theo chủ thể, cho nên ông gọi đây là cuộc cách mạng Copernic (người đảo lộn quan niệm cổ điển khi đưa ra thuyết trái đất quay xung quanh thiên thể, không phải những thiên thể quay quanh trái đất). Tuy nhiên, cũng chính từ góc nhìn đó, Kant phân biệt thực thể/Noumenon, tức sự vật tự nội/Dinge an sich là sự vật không biết được với hiện tượng/Phänomenon là những điều tri thức con người nhận biết. Kant cũng chỉ ra những phán đoán phân tích (ví dụ, người cao là người, ở đó thuộc từ chứa trong chủ từ) khác với những phán đoán tổng hợp (ví dụ, Quang Trung là người anh hùng, ở đó không thể dùng những khái niệm phân tích để biết mà phải thông qua kinh nghiệm để tổng hợp), khái niệm toán học là phán đoán tổng hợp tiên nghiệm và đưa ra một vấn nạn đặc sắc: những phán đoán tổng hợp tiên nghiệm có thể khả hữu? Sau khi chỉ ra những nghịch lý và nan đề vì nhận thức không thể vượt khỏi những giới hạn của kinh nghiệm khả hữu, Kant là người đã đưa triết học ra khỏi bế tắc của triết học giáo điều và hoài nghi khi quan niệm ở trong những nguồn thực tiễn, con người có thể nhận biết lại quyền năng thực tiễn tối cao của lý trí, hiểu được tính hữu hạn của lý trí và đó cũng là mục tiêu lý tưởng của cuộc đời ông trong phương châm thời danh: bầu trời ở trên tôi và luật lệ đạo đức ở trong tôi12.
Sau Kant, những người kế thừa và phát triển chủ nghĩa duy tâm tại Đức là J. G. Fichte (1762-1814) và F.W.J. Schelling (1775-1854), mở ra hai ngả tư duy đối lập trước khi tới chủ nghĩa duy tâm tuyệt đối nơi Hegel. Tư tưởng của Fichte tập trung ở tranh biện về chủ thể tuyệt đối là cái Tôi đối lập với tự nhiên về hai mặt nhận thức và hành động. Ông khởi sự thành công với một tác phẩm đầu tay dưới dạng phê phán, được tiếp nhận nồng nhiệt như thể Kant viết ra và một tác phẩm chính trị luận về Cách mạng Pháp, trước khi trình bày triết học của ông qua tác phẩm Luận thuyết khoa học/Wissenschaftslehre. Triết học thực tiễn nơi Kant nhấn mạnh đến khả năng tự quyết của ý chí như thể cơ sở của luật lệ, nơi Fichte khẳng định “nhân loại nắm giữ trong tay phụ thuộc vào chính ý niệm của họ, tự lập với một quyền năng tự do tuyệt đối với tất cả những gì họ muốn làm”. Lý luận chính trong tư tưởng của Fichte là quan hệ giữa Ngã trong biện chứng liên chủ thể, giải đáp vấn nạn: làm thế nào để một ý thức có thể hiện hữu với một ý thức khác? Nhìn nhận tha nhân cũng là nhìn nhận hiện hữu của một thế giới, đạo lý và pháp lý làm cơ sở cho những lý luận về thông giao xã hội sau này.
Quan hệ giữa Ngã và Phi-Ngã của Fichte khá phức tạp, nơi nguyên lý đồng nhất A=A dựa trên nguyên lý thứ nhất Ngã=Ngã chứa đựng trong quan niệm: tất cả những gì hiện hữu chỉ có khi đặt ra trong Ngã và ngoài Ngã không có gì hết, do đó triết học Fichte thường được mệnh danh là một chủ nghĩa duy tâm chủ quan, đối lập với chủ nghĩa duy tâm khách quan của Schelling. Triết học theo Fichte được xác định “không phải là một công cụ chết, mà người ta có thể tuỳ thích chấp nhận hay liệng bỏ, mà do tinh thần của con người sở hữu nó và dấy động lên nó.” Ông còn khẳng quyết: tất cả những gì hiện hữu chỉ có khi nào vẫn đặt để trong Ngã và ngoài Ngã không có gì hết, Luận thuyết khoa học phải trở thành một lịch sử thực dụng của tinh thần con người. Schelling trong tác phẩm Hệ thống chủ nghĩa duy tâm siêu nghiệm/Sytem des transzendentalen Idealismus xuất hiện năm 1800 nhằm trình bày triết học của Fichte, đã khai triển lối phân chia hai hệ thống triết học phê bình của Kant trong những giới hạn của cogito với triết học Spinoza phủ nhận chủ thể trong Bản thể tuyệt đối và đưa ra quan niệm Ngã tuyệt đối. Ông cũng đưa ra một nguyên lý thứ hai, Vô-Ngã đối lập với Ngã tuyệt đối, tức vô tuyệt đối không là vật tự nội, song là một thực tại trong Ngã. Trong quá trình vận động của Ngã hữu hạn khai triển tổng hợp của Ngã tuyệt đối với Vô-Ngã là một vận động biện chứng hủy diệt/Aufhebung thực hiện trong thời gian. Vận động này là trực giác trí thức/intellektuelle Anschauung mở ra con đường dẫn tới Tuyệt đối. Schelling khẳng định: Mọi người chúng ta có một quyền năng nhiệm màu, nhiệm màu ở chỗ đưa chúng ta ra khỏi vận động của thời gian để trở về với chính chúng ta, gột bỏ Bản ngã của chúng ta những gì đến từ bên ngoài và khiến trong chúng ta trực giác được cái Vĩnh cửu dưới dạng bất biến.
Sự khác biệt giữa triết học của Fichte và Schelling ở chỗ trực giác trí thức nơi Schelling là hành vi toàn hảo của ý thức, triết học có thể đi từ hữu hạn đến vô hạn. Tác phẩm đầu tay của Hegel (1770-1831) Sự khác biệt giữa hệ thống triết học Fichte và Schelling/Differenz des Fichteschen und Schellingschen Systems der Philosophie nhằm chỉ ra tư tưởng triết học của Fichte và Schelling biểu trưng cho hai giai đoạn của chủ nghĩa duy tâm, một đằng là duy tâm chủ quan, một đằng là duy tâm khách quan mà hệ thống triết học duy tâm tuyệt đối của ông thống nhất hai mặt đối lập đó.
Hai tác phẩm lớn của G.W.F. Hegel đánh dấu một kết thúc giấc mơ viên mãn của nhiều nhà triết học đi trước là hoàn tất hệ thống triết học: Hiện tượng luận Tinh thần/Phänomenologie des Geistes xuất bản năm 1806/07 là một công trình diễn giải hành trạng của ý thức đi từ tri giác sơ đẳng đến tri thức tuyệt đối; hành trạng này là quá trình biện chứng được diễn ra trong nhiều thời khoảng của vận động phát triển: ý thức tự tại khởi từ cảm giác, tri giác, nhận thức thế giới và những luật lệ của nó, đến ý thức tự tại biểu hiện nơi khát vọng, đòi hỏi nhìn nhận rồi tiến lên một trật độ là ý thức tự tại cũng như tự tha với qua xã hội, biện chứng chủ-nô và khai phá ý nghĩa của lao động. Hệ thống tư tưởng của Hegel bao gồm những khai phá nơi Fichte và Schelling, vì tự nơi chủ thể như là chủ thể của hệ thống sự vật, ông đã phát hiện Lý trí trong lịch sử, chính trong lịch sử diễn ra đời sống của tư tưởng, triết học là nền tảng của thuần lý, là minh trí của hiện tại và thực tại, tóm gọn trong nguyên lý: “cái gì thuần lý là thực và cái gì thực thì thuần lý”13 Khoa Luận lý học/Wissenschaft der Logik năm 1912 gồm hai phần: luận lý khách quan và luận lý chủ quan, không là một quyển sách về luận lý học hiểu theo nghĩa thông thường, mà là một triết học suy lý tiếp nối quyển trước/Hiện tượng luận Tinh thần là một khoa học về kinh nghiệm của ý thức. Hệ thống tư tưởng của Hegel theo một trật tự nhất quán từ tác phẩm trước đến tác phẩm sau, song vận hành theo phép biện chứng từ hữu thể qua bản chất đến khái niệm; nhận thức là một tổng thể đi qua ba giai đoạn, từ cảm giác-tri giác qua nhận thức thuần tuý chủ quan đến tự thức; lý trí thể nghiệm qua kinh nghiệm nghệ thuật, tôn giáo và nhà nước. Phép biện chứng của Hegel được xác định theo mô hình vị thế, đối nghịch và vượt, hay thường diễn tả qua đề, phản đề và hợp đề có thể minh họa như sau: nói đến hiện hữu của hữu, là nói đến cái gì không có phẩm tính, có nghĩa là hư vô, như vậy hữu còn là vô, khi tư duy từ hữu qua vô là nói đến vận động thống nhất hữu và vô, đề và phản đề là chuyển biến. Đó là quy trình tam thế: hữu-vô-chuyển biến (Russell minh hoạ cụ thể qua ví dụ về Nhất thể của Parménide, vũ trụ thực hình cầu, nhưng không có gì là hình cầu trừ phi nó phải có ranh giới, song không thể có ranh giới nếu không phải giả sử có cái gì bên ngoài nó, thế nên giả sử vũ trụ này hình cầu là tự mâu thuẫn). Những mâu thuẫn này thiết yếu giải thích mọi vận động tư tưởng, song hợp đề cao nhất là tri thức tuyệt đối/das absolute Wissen. Tri thức tuyệt đối là mục tiêu của triết học.
Thế kỷ XVII đến nay đã qua năm trăm năm vẫn được coi như thời đại mới của triết học. Những triết gia như Descartes, Spinoza, Leibniz, Kant, Hegel không chỉ định vị trong thế kỷ của họ, dưới góc nhìn của những nhà triết sử mà còn nhập cuộc vào những tranh biện như những người đương đại. Những công trình của Jean-Luc Marion về Descartes, của A. Negri, G. Deleuze về Spinoza, của Hidé Ishiguro, M. Serres, B. Russell về Leibniz, của D. Henrich, P. Guyer, A. Renaut về Kant, của A. Kojève, J. Hyppolite, J. Derrida về Hegel chỉ ra tư tưởng của những nhà triết học này vẫn sinh động trong những vấn đề đặt ra ở thời hiện đại.
Tuy Hegel xây dựng một hệ thống triết học toàn diện, nỗ lực minh chứng vận động biện chứng của tinh thần theo một trật tự mà ông gọi là Lý trí của Lịch sử, khi đồng nhất Tri thức tuyệt đối với Ý niệm tuyệt đối, với chính Tuyệt đối song ông cũng nói: triết học luôn luôn đến trễ như chim cú Minerve (chỉ bay lên vào lúc hoàng hôn). Thế kỷ XIX sau Hegel diễn ra một quang cảnh đa điệu của văn hóa: phát triển khoa học kỹ thuật, kinh tế chính trị, những khoa nhân văn như tâm lý học, xã hội học, ngữ học v.v.. xuất phát từ một tinh thần mới nơi con người.
Khoa học kỹ thuật hưng phấn và tiến bộ cũng khởi từ thế kỷ XVII với những tên tuổi tiêu biểu như Copernicus (1473-1543) người Ba lan, với tác phẩm De Revolutionibus Orbium Coelestium, Kepler (1571-1630) với ba định luật về chuyển động hành tinh, điểm đặc biệt khác với quan niệm cũ ở chỗ xác định những hành tinh chuyển động theo quỹ đạo ellipse làm cơ sở chứng minh cho định luật về trọng lực của Newton sau này, Galileo (1564-1642) có thể được coi như nhà khoa học lớn nhất của thời hiện đại đã xây dựng khoa động lực học, phát hiện những định luật về gia tốc, về chuyển động, về vật thể rơi tự do (khi một vật rơi tự do, gia tốc của nó không thay đổi), Newton (1642-1727) hoàn tất những thành quả viên mãn của những công trình Copernicus, Kepler, Galileo khai phá, với khái niệm về lực (nguyên nhân biến đổi của chuyển động), định luật về trọng lực phổ quát (mọi vật hút vật khác với một lực tỷ lệ thuận với trọng lượng của nó và tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng). Cùng với tiến bộ lý luận khoa học là những phát minh kỹ thuật như viễn vọng kính để quan sát thiên văn của Lippershey, nhiệt kế của Galileo, phong vũ biểu của Torricelli, máy bơm hơi của Guericke, nam châm của Gilbert, Harvey phát hiện sự tuần hoàn của máu, Loeuwenhoek tìm ra tinh dịch v.v..
Không phải tình cờ xuất hiện ra những tư trào duy nghiệm của Anh với Francis Bacon (1561-1626), trong tác phẩm Tiến bộ của học thuật/The Advancement of Learning đề cao sức mạnh của tri thức, xây dựng lý luận quy nạp là cơ sở của khoa học, Hobbes (1588-1679) thể hiện hai nguồn tư tưởng duy danh chỉ ra ưu thế của ngôn ngữ (mọi vật không gì phổ biến ngoài danh xưng, chúng ta không thể có ý niệm tổng quát nếu không có những từ ngữ, thật/giả chỉ là những thuộc từ của diễn ngôn), và duy vật quan niệm luật chuyển động làm cơ sở cho tâm lý học.
Sau Descartes, John Locke (1632-1704) với tác phẩm Luận về Nhận thức của con người/An Essay concerning Human Understanding xuất bản năm 1690 đã mở ra một con đường tư tưởng mới làm cơ sở cho thế kỷ XVIII, không những về mặt tri thức mà cả mặt đạo lý, chính trị. Ông mở đầu tác phẩm với nhận xét là không có những ý tưởng bẩm sinh, cả nơi những nguyên lý đồng nhất hay bất mâu thuẫn. Tư tưởng cấp tiến, tự do về mặt chính trị ở tác phẩm Khảo về chính quyền dân sự chỉ ra phép quy nạp đã chứng minh thực tế của quy luật tự nhiên nơi con người, sống trong xã hội có quyền tư hữu, con người có “tự do tuyệt đối, công chính và chân thực, bình đẳng và toàn vẹn”, xã hội phải xây dựng trên sự đồng thuận hữu hiệu của mọi người công dân, quyền phản kháng lại áp bức của chính quyền. Tư tưởng tự do của Locke xây dựng trên lý luận của nhận thức phủ nhận những ý niệm tiên thiên nơi Descartes làm cơ sở cho triết học duy nghiệm, xây dựng nhận thức trên kinh nghiệm. Nhận thức về mặt thực tiễn của Locke cũng khai mở ký hiệu học, có tham vọng xem xét bản chất của những ký hiệu mà tinh thần sử dụng dùng để thông hiểu sự vật hay chuyển tải nhận thức của mình cho người khác. Ông có thể được coi như người tiên khu của triết học phân tích sau này khi nhấn mạnh đến bản chất, sử dụng và ý nghĩa của ngôn ngữ.
David Hume (1711-1776), người đã thức tỉnh Kant ra khỏi giấc mộng giáo điều triết lý, khởi đi từ vấn đề lớn theo ông là “chính nơi bản nhiên con người mà tôi quyết định coi là chủ đề chính để nghiên cứu và xem xét như nguồn suối để rút ra mọi chân lý của phê bình cũng như của đạo lý”. Tác phẩm chính của Hume là Khảo luận về bản nhiên con người/A Treatise of Human Nature đã chỉ ra bí mật của bản tính con người, vạch rõ phù phiếm của những nỗ lực siêu hình hay tôn giáo trong giải đáp về những vấn nạn liên quan đến cứu cánh sau cùng của cuộc đời. Hume đi tìm khởi sinh của những quan năng nhận thức mà ông gọi là sản phẩm những tri giác của tinh thần, chứng tỏ những tư tưởng là của tri tưởng. Hume tiêu biểu cho một tinh thần triết lý hoài nghi, ông quan niệm nguyên nhân không thuần lý, không có gì thuần lý hay luận lý trong những sự kiện như việc nhiệt làm tan nước đá, không có nguyên lý nhân quả như việc trái banh A là nguyên nhân cho trái banh B bị thúc đẩy di động. Hume, cũng như George Berkeley (1685-1753) chính là những người thày tư tưởng của chủ nghĩa duy nghiệm. Mặc dầu Berkeley xem như đại biểu của chủ nghĩa duy tâm giáo điều (theo Kant chẳng hạn) vì coi mọi vật trong không gian chỉ là hư tưởng, song chính ông mở đường cho Hume từ một nguyên lý mới xác quyết thực tại và tri giác đồng nhất: esse est percipi. Hiện hữu là được tri giác, hay tri giác cho nên trong học thuyết Berkeley, biểu lộ hai lý luận, một là phi vật chất vì hiển nhiên là không cần thiết phải giả định vật thể ngoại tại trong việc tạo ra tư tưởng (tương tự như những lý luận trong khoa học tri thức ở thế kỷ XX quan niệm không cần vật thể ngoại tại, có thể hình dung ra được một trí năng tác động bởi những cảm giác và ý niệm), hai là thuyết duy danh trong nhận thức vì khoa học cơ bản là một ngôn ngữ hoàn tất, thế giới gồm những thực tại cá biệt mang những từ ít nhiều có tính khái quát.
Sau Locke, Berkeley và Hume triết học Anh Mỹ phát triển muôn màu muôn vẻ, gần như ít chịu ảnh hưởng tư tưởng lục địa, với những người duy dụng/utilitarianism như Bentham (1748-1832), J.S. Mill (18061873) chủ trương một luận lý duy nghiệm như Mill trình bày trong Hệ thống luận lý học (1843) với định nghĩa luận lý học là một khoa học khảo sát những tư kiến của tinh thần con người trong mục đích đi tìm chân lý, ông loại bỏ một tri thức tiên nghiệm về thực tại, ngay trong quan niệm toán học tương ứng với những dữ kiện của kinh nghiệm, diễn dịch tam đoạn luận gần với phép quy nạp mới thực sự là một khai triển cho phép phát hiện chân lý trong mọi lãnh vực, Herbert Spencer (18201903) chịu ảnh hưởng tiến hóa luận của Darwin, những nhà tư tưởng lãng mạn như Coleridge (1772-1834), Carlyle (1795-1881) gần với chủ nghĩa duy linh Pháp, hay duy tâm như T.H. Green (1836-1882). Tuy nhiên, tiêu biểu cho chủ nghĩa duy tâm với ảnh hưởng phép biện chứng và quan niệm Tuyệt đối của Hegel là F.H. Bradley (1846-1924) và Bernard Bosanquet (1848-1923). Trong tác phẩm chính Bộ diện và Thực tại/Appearance and Reality, Bradley quan niệm siêu hình học là một toan tính nhận thức thực tại đối lập với bộ diện bên ngoài, tìm hiểu những nguyên lý đầu tiên hay chân lý sau cùng, và kinh nghiệm siêu hình học là một hoàn tất của cái thực vì mọi nhân tố của vũ trụ, từ tình cảm, ý chí, tư duy, cảm xúc đều bao gồm trong một hoat động nhậy cảm toàn diện/comprehensive sentience.
Ở bên kia bờ Đại Tây dương, triết học khởi sắc với chủ nghĩa thực dụng của C.S. Peirce (1839-1914), J. Dewey (1859-1952) và William James (1842-1910). Với định ý xây dựng một lý luận về ý nghĩa/meaning làm quy luật của tri thức để cấu thành những tổng hợp cho những dữ kiện của kinh nghiệm, triết học của Peirce chỉ ra ý nghĩa thực dụng/pragmatisch phân biệt với ý nghĩa thực tiễn/praktisch đã là cơ sở tiền phong cho triết học phân tích Anh Mỹ sau này.
Triết học nước Pháp sau Descartes vẫn kế thừa một truyền thống từ Montaigne là mục tiêu đạo đức, nơi Montesquieu, Pascal, những nhà duy vật Bách khoa (d'Alembert, Diderot v.v..), ở thế kỷ XIX cao điểm là chủ nghĩa duy linh/spiritualisme đi tìm chân lý trong một liên hiệp kinh nghiệm với lý trí. Chủ nghĩa duy linh từ Maine de Biran, người được coi là cách tân triết học (theo Ravaisson) đến trường phái “triết học tinh thần”/philosophie de l'esprit với Louis Lavelle và René Le Senne ở thế kỷ XX biểu hiện một cá tính chủ yếu của triết học Pháp là “hiểu biết nhu cầu đi tìm trong hành vi nguyên thủy của ý thức một con đường tiếp cận tuyệt đối, đặt tinh thần ngang bằng với thực tại, và thủ đắc một nhận thức siêu hình về vũ trụ bằng nghiên cứu sâu sắc kinh nghiệm thường nhật mà chính tự nơi chúng ta” (theo Lavelle). Truyền thống triết học này gắn liền với đại học, qua những nhà triết học sau Maine de Biran, từ Victor Cousin, Paul Janet, Renouvier, Hamelin, Lachelier, Lagneau, đến Léon Brunschvig dưới những phong cách tư duy khác nhau, song tựu trung vẫn thể hiện qua hình thái chủ quan của tác động tinh thần, cấu thành một triết học của “ý thức thuần túy”, qua xu hướng chiết trung. Những trào lưu tư tưởng mới khởi sinh từ giữa thế kỷ XX như chủ nghĩa hiện sinh, cấu trúc luận v.v.. là những phản ứng chống lại truyền thống triết học nhà trường, đồng thời chịu ảnh hưởng của Hegel và hiện tượng luận Husserl.
Triết học nước Đức sau Hegel phát triển nhiều mặt, từ những người được mệnh danh là môn đệ của Hegel như Anold Ruge, D. Strauss, Bruno Bauer, L. Feuerbach, Max Stirner, K. Marx v.v.. và xu thế biến đổi thế giới, cải tạo xã hội tới đỉnh cao nhất của nó là chủ nghĩa Mác, đến những triết gia hủy tạo tinh thần duy lý cực đoan là Schopenhauer, Nietzsche mở ra những ngã tư duy mới, đặt lại vấn đề hữu thể và hư vô, tư trào tân Kant vào cuối thế kỷ XIX tiêu biểu là trường phái Marburg, những triết gia như Lotze, Bolzano, Eucken, Rickert, Lask, Natorp v.v.. Tuy nhiên, ảnh hưởng sâu sắc tới sinh hoạt triết học thế kỷ XX vẫn là những học thuyết của Franz Brentano, Wilhelm Dilthey và Edmund Husserl.
Brentano (1838-1917) khởi từ quan điểm khai phá khoa tâm lý học mà ông mệnh danh là tâm lý học duy nghiệm/Psychologie vom empirischen Standpunkt nhấn mạnh đến hướng tính của ý thức, mở đường cho hiện tượng luận của Husserl. Những môn đệ của Brentano như Alexius Meinong, Anton Marty, Kasimir Twardowski tạo sự khởi sắc cho triết học Áo.
Wilhelm Dilthey (1833-1911) cũng khởi đi từ một quan điểm tâm lý học mệnh danh là tâm lý học miêu tả và phân tích/beschreibende und zergliedernde Psychologie, nhấn mạnh đến khác biệt giữa khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn ở phương pháp giải thích và lĩnh hội. Dilthey cũng đưa ra lý luận vũ trụ quan triết lý/philosophische Weltanschauung phân biệt những mẫu hình triết học khác nhau. Trong nghiên cứu về học thuyết của Schleiermacher, ông đã tìm ra nơi nhà tư tưởng này, người tiên khu của thông diễn học, đồng thời xây dựng một cơ sở phát triển thông diễn học trong tư tưởng triết học, sử học, văn học và những khoa học tương cận.
Edmund Husserl (1859-1938) xây dựng một phương pháp tư tưởng mệnh danh là hiện tượng luận đã trở thành một khoa lý luận độc lập (như phân tâm học của Freud đối với tâm lý học và tâm bệnh học), một tư trào tư tưởng của nửa đầu thế kỷ XX. Từ ngữ “hiện tượng luận” đã được sử dụng từ thế kỷ 18 với Lambert trong Neues Organon (1764), cũng như trong nhan đề tác phẩm Hiện tượng luận tinh thần của Hegel, tuy nhiên đối với Hegel, hiện tượng luận là giai đoạn sơ khởi của tinh thần đưa vào khoa học luận lý, trong khi Husserl kế thừa tư tưởng khai lộ của Brentano khi coi đây là “tâm lý học mô tả của kinh nghiệm nội tại”, miêu tả hiện tượng trực tiếp cho chúng ta, chỉ ra hướng tính của ý thức, quan niệm ý thức là ý thức về chính sự vật, chú trọng đến kinh nghiệm sinh động, không có sự phân biệt giữa bộ diện và hữu, chứng cớ hiển nhiên là “hiện diện của chính sự vật”. Hiện tượng luận của Husserl có đối tượng là đi tìm bản chất, trực quan bản chất/Wesenschau. Khởi đi là một nhà toán học, Husserl đã nhận ra từ khoa toán học cũng như khoa hiện tượng luận nhằm phát hiện ý tượng thuần tuý/ein rein zu fassendes Eidos làm cơ sở lý luận, ông gọi phương pháp đắc thủ đối tượng này là giảm trừ ý tượng/eidetic reduction nhằm treo lửng phán đoán, đặt trong vòng khép những tư kiến, hiện hữu cá biệt đến từ khoa học tự nhiên cũng như nhân văn, nhằm đắc thủ bản chất, để nắm bắt chính sự vật/die Sachen selbst.
Gottlob Frege (1848-1925) là một nhà toán học khác của thế kỷ XIX đặt những nền tảng đầu tiên cho khoa luận lý toán học. Ông cũng là người phê phán kịch liệt xu hướng duy tâm lý (quan niệm không có thực tại khách quan hiện hữu bên ngoài ý thức cá thể của con người), mà ông ví nhà tư tưởng duy tâm lý này như thể người muốn biến đổi mặt trăng theo ý thích của mình, hay dùng một vài phương tiện tâm lý học sản sinh ra nó. Khi phê phán xu hướng duy tâm lý này trong tác phẩm đầu tay Triết học của khoa Số học, Frege đã đưa Husserl ra khỏi ảnh hưởng của xu hướng này, giống như Kant đọc Hume đã bừng tỉnh giấc mộng siêu hình của chủ nghĩa giáo điều. Frege quan niệm trong những nhiệm vụ của triết học “phá vỡ sự thống trị của từ ngữ nơi tinh thần con người, cũng như giải phóng tư tưởng của con người khỏi những quan niệm sai lầm do việc sử dụng từ ngữ một cách bất minh” nhằm hoàn thiện ngôn ngữ khoa học, ông đã phân biệt ý nghĩa và tham chiếu làm cơ sở cho khoa toán luận và triết học phân tích sau này.
Frege, Kierkegaard, Marx, Nietzsche là những người sinh thời không được tôn vinh bằng ảnh hưởng tư tưởng của họ đối với những thế hệ kế tiếp trên đấu trường triết lý. Thế kỷ XX là thời đại cực thịnh của triết học, của văn minh, văn hóa nhân loại so với những thế kỷ về trước. Tuy nhiên, chỉ trong nửa thế kỷ, nhân loại trải qua hai cuộc thế chiến, hai thể chế phát xít và cộng sản, tiến bộ khoa học-kỹ thuật cấp kỳ mau chóng làm thay đổi những niềm tin, thế giới quan và nhân sinh quan nơi con người. Câu hỏi con người đi về đâu gắn liền với vấn nạn định hướng của tư tưởng.
Triết học của thế kỷ phong phú đến độ những nhà triết sử đã phân chia các trào lưu triết học theo nhiều mặt: chẳng hạn, với Bochénski là triết học vật chất (chủ nghĩa tân hiện thực, tân thực chứng, duy vật biện chứng), triết học ý tưởng (Croce, Brunschvig, trường Marburg, tân Kant), triết học đời sống (Bergson, chủ nghĩa duy sử, chủ nghĩa thực dụng), triết học bản chất (Husserl, Scheler), triết học hiện sinh (Heidegger, Jaspers, Sartre, Marcel), triết học hữu thể (Chủ nghĩa duy linh, N. Hartmann, Whitehead); xét theo những tư trào lớn như chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa cấu trúc luận, chủ nghĩa thực chứng luận lý; lối phân chia triết học như Bochénski cần phải bổ sung triết học con người, triết học cấu trúc, triết học khái niệm, triết học lịch sử, triết học ngôn ngữ mới diễn đạt đầy đủ sự phát triển đa dạng của tư tưởng, như ngay đến nơi mỗi chủ nghĩa cũng phân hóa theo những góc nhìn khác nhau.
Ở Đức, sau Dilthey, Husserl, Max Weber, Georg Simmel là những khuôn mặt tiêu biểu của thế kỷ như Ernst Cassirer đại diện cho truyền thống tri thức tân Kant, Max Scheler với lý luận giá trị trong đạo đức, Nicolai Hartmann mở ra con đường mới của hữu thể luận, Martin Heidegger xây dựng lý luận hủy triệt siêu hình học, Karl Jaspers một triết học hiện sinh, lý luận phê bình với Horkheimer và Adorno, H. Marcuse, K. Lưwith, thông diễn luận với Gadamer, ký hiệu luận siêu nghiệm với K.-O. Apel, lý luận tác động thông giao với J. Habermas, lý luận tinh thần với W. Cramer. Những triết gia tên tuổi sử dụng ngôn ngữ Đức như R. Ingarden xây dựng một hiện tượng luận mỹ học, G. Lukács phát triển chủ nghĩa Mác.
Ở Pháp, sau Bergson, Brunschvig là tư trào hiện sinh với G. Marcel, Sartre, M. Merleau-Ponty, triết học lịch sử với R. Aron, cấu trúc luận trong khoa nhân học với Claude Lévi-Strauss, trong chủ nghĩa Mác với L. Althusser, thông diễn luận với P. Ricoeur, tri thức luận với Kojève, J. Cavaillès, Gilles Gaston Granger, G. Canguilhem, E, Weil, những tư trào hậu cấu trúc với M. Foucault, G. Deleuze, J. Derrida, P. Lyotard, M. Serres, hiện tượng luận với E. Levinas, Michel Henry, Jean-Luc Marion, Marc Richir, Maxence Caron, triết học hậu phân tích với J. Poulain, J. Bouveresse, A. Badiou v.v..
Nhìn toàn cảnh triết học châu Âu sau thế chiến Hai, giao lưu thông tin văn hóa và trao đổi đại học dường như bứt phá tính cục bộ truyền thống địa phương, việc sử dụng ngôn ngữ phổ biến, phát triển dịch thuật khiến người ta biết nhiều đến những sinh hoạt triết học tại những nước Bắc Âu như Thụy Điển với Axel Hägerström, Adolf Phalén, Stig Kanger, Đan Mạch với Peter Kemp, Alf Ross, Phần Lan với Goerg Henrik von Wright, Jaakko Hintikka, Na Uy với Egil Wyller chuyên khảo Về Platon, Guttorm Fløistad (luận về lĩnh hội, Spinoza, Heidegger), Johan Fredrik Bjelka (với lý luận về nhận thức giá trị, Husserl, Scheler, N. Hartmann), Steinar Mathisen về triết học siêu nghiệm/Transzendental Philosophie, Dagfinn Føllesdal về khoa học ngôn ngữ, luận lý, Bỉ thiên về luận lý nhận thức với J. Ladrière, I. Prigogine và I. Stengers, Ý với Gianni Vattimo, G. Agamben, Emanuele Severino, Galvano della Volpe, Lucio Colletti, Tây ban nha với những xu hướng hiện sinh, vô chính phủ, hư vô chống lại truyền thống ki tô. Những nước Đông Âu hậu cộng sản đã phát triển triết học đa nguyên, như Vladimir I. Sharogradsky xác định: triết học ở Nga cũng như bất kỳ xứ sở khác chỉ có thể phát triển nếu như xây dựng trên gia tài tư tưởng triết học của thế giới; việc tổng hợp một cách sáng tạo những tư tưởng vĩ đại như của Kant, của Hegel rất quan trọng trong việc phát triển triết học hiện đại. Phác thảo trình tự của một lịch sử triết học tây phương ở trên không nhằm thâu tóm toàn cảnh lịch sử ấy, cũng không học hỏi được triết học, song như Kant đã từng chỉ ra, người ta có thể học cách triết lý.xiv Tuy nhiên lịch sử biểu hiện cho chiến tranh, mà một lịch sử triết học diễn ra đấu trường của những tư tưởng, từ thăng hoa tới hủy tạo, ở đó con người mưu toan đi tìm một trí năng mới, một lý tính đa nguyên. Jaspers thì gọi triết học là hành cung của những tinh thần triết lý.
Nói đến lịch sử triết học còn phải kể đến hành trạng của những tư tưởng. Chắc hẳn, tiểu sử của một triết gia không phải chỉ thâu tóm trong mấy dòng như Heidegger đã từng nói về Aristote, bởi chính cuộc đời của Heidegger cũng trải qua những thăng trầm của thời đại ông sống đã tạo ra sóng gió, hoạn nạn tác động vào tư duy của ông. Cho nên, cấu trúc của tư tưởng bao gồm cả những biên tế triết học/marges de la philosophie.
Nói đến biên tế triết học là nói đến nhiều mặt đa dạng đi vào tư tưởng của triết học. Có thể đó là đối nghịch hay bổ sung giữa triết học và phi triết học (Merleau-Ponty, G. Deleuze và đặc biệt là trường phái Laruelle khai triển vấn đề này). Nếu như trong quá khứ, người ta tự hỏi triết học để làm gì, (một khi đi tới tận cùng của tri thức, nó đã trở thành một khoa học khác), như vậy triết học không thể đứng một mình (những mưu toan như vượt siêu hình học, hủy triệt triết học, biến đổi thế giới - cũng gắn liền với sinh mệnh triết học), triết học vẫn tồn tại trong tương lai ngay nơi sự cáo chung của tư tưởng. Tồn tại, có nghĩa là đời sống, bởi có một đời sống của triết học. Trong những góc nhìn muôn vẻ ấy của hành trạng tư tưởng, ghi nhận nơi đối thoại, tranh biện, chứng cớ dưới bất kỳ hình thức thông giao nào.
Trong một quyển sách nhan đề Heidegger tại Pháp/Heidegger en France của Dominique Janicaud gồm hai phần: truyện kể và chuyện trò, lần đầu tiên không chỉ ghi lại lịch sử một tiếp cận tư tưởng được phân tích không chỉ giới hạn trong một địa chí, một cộng đồng dân tộc mà âø tinh thần - ở đó còn mở rộng ra một trung tam điểm văn hóa vathông giao trí thức có một vai trò quan trọng trong việc chuyển tải và khởi sinh những tư duy đa dạng. Trong từng cuộc chuyện trò của tác giả Janicaud với mỗi nhà triết học có liên hệ với Heidegger15 - có thể là một người theo Heidegger/heideggérien, như những người theo Hegel/hégéliens ở thế kỷ XIX - người đọc hình dung được một môi trường sinh hoạt trí thức, một khí hậu triết lý sinh động của thời đại. Trong những điều người ta không gặp trên sách vở lý luận của những nhà triết học này như phần lớn biết đến Heidegger rat muộn trong thời gian họ theo học Đại học, ảnh hưởng tốt/xấu của Beaufret (một người coi như có thẩm quyền về nghiên cứu Heidegger) can thiệp vào những việc dịch thuật, xuất bản tác phẩm Heidegger ở Pháp, hậu chứng quốc xã/nazi trong tư tưởng Heidegger sau khi có những sách vở tố cáo, khai triển mối liên hệ của triết gia bậc thày này với chế độ phát xít, cuộc xung nộ giữa những tác giả tham dự vào một quyển sách dành vinh danh Beaufret, khi có người tố giác Beaufret từng có lời phát biểu bài do thái.
Trường hợp Heidegger cũng như Hegel hay nhiều nhà triết học khác trong dòng lịch sử định vị hay có những ảnh hưởng khá phức tạp, không nhất thiết theo một quy định không/thời gian. Vấn đề đặt ra là có phải những đầu óc tư tưởng, những tranh biện triết lý trực tiếp hay gián tiếp, minh thi hay ẩn giấu, đi tìm một minh trí, một chân lý thấp thoáng ở cuối đường trong cuộc hành trình?
Một lý luận về những phạm trù mà Aristote đề xuất từ thời cổ đại, chỉ xuất hiện hơn một lần trong học thuyết của Suarez, của Kant, của Nicolai Hartmann, tuy có biến đổi, bổ túc song vẫn là mẫu mực của ngữ pháp triết học?
Trong một hội thảo quốc tế tổ chức vào đầu thiên niên kỷ này16 mười phạm trù của Aristote là những tham luận của các nhà triết học có những xu hướng khác nhau khai triển, biểu hiện những chiều hướng/ý nghĩa khác nhau phải chăng minh họa tính đa nguyên của hữu thể, như Aristote đã dạy? Một thuyết trình viên của hội thảo, triết gia người Mỹ Donald Davidson nói lên xu hướng tư tưởng thời quá độ này là: Nhận thức của chúng ta về thế giới, nhận thức của chính chúng ta cũng như những đầu óc khác liên lỉ phụ thuộc lẫn nhau, để có thể nói là học cách biết điều gì những người khác nghĩ không chỉ là một bổ xung phức hợp vào nhận thức về thế giới mà chúng ta tham gia, trái lại chính là phần cốt cán của thế giới này. Tri thức học không thể là tác phẩm của một tinh thần cô lẻ...
Thông giao hay thông diễn, tranh luận đi tìm cơ sở cho tư tưởng trong quá độ giữa hai thế kỷ, ba trăm năm trước một nhà tư tưởng bất tử -Kant17, đã bày tỏ trước những ngổn ngang nghịch lý chính trị thời đại là dầu tư tưởng của chúng ta có tầm vóc công chính đến đâu, chúng ta cũng phải thông tin, trao đổi những suy nghĩ của ta với cộng đồng tha nhân, cũng như ngược lại họ trao đổi những suy nghĩ của họ cho chúng ta. Chân lý ấy có bao giờ thay đổi?
Đặng Phùng Quân
Chú thích:
(1) Weil das Ewige und Ungeschichtliche der Sinn dieses Denkens ist, es sich selber über alle Geschichte erhebt, ist die Verwandtschaft der Metaphysiker nicht an einen Kulturkreis, nicht an das Abendland gebunden. Ich wähle aus Asien Laotse und Nagarjuna. Jaspers dùng chữ maßgebenden nhắc người ta nghĩ đến câu nói của Protagoras “người là thước đo mọi vật”, ở đây hàm ngụ con người; có lẽ vì thế những dịch giả người Pháp chuyển ngữ thành “donné la mesure de l'humain”. Một tác phẩm khác viết về lịch sử triết học nhan đề Kleine Weltgeschichte der Philosophie của Hans Joachim Stưrig năm 1961 trong chiều hướng của Jaspers dành riêng phần I về minh triết của phương Đông/Weisheit des Ostens (hai chương về triết học cổ đại Ấn độ và Trung hoa), với đề từ của Jaspers: Die Wirkung der philosophischen Gedanken in der Welt ist heute nur mưglich, wenn sie die Mehrheit der Einzelnen erreicht. Denn gegenwärtig ist der Zustand: die Massen der Bevölkerung können lesen und schreiben, ohne doch den vollen Umfang abendländischer Bildung zu gewinnen. Aber sie sind die Mitwissenden und Mitdenkenden und Mithandelnden. Sie können dieser neuen Chance um so mehr genügen, je mehr sie in den vollen Umfang der hohen Anschauungen und der kritischen Unterscheidungen gelangen. Es ist für die Stunden der Besinnlichkeit aller Menschen daher notwendig, das Wesentliche so einfach, so klar wie möglich, ohne Einbuße an Tiefe, mitteilbar zu machen. (Ảnh hưởng của tư tưởng triết học trong thế giới ngày nay chỉ khả hữu nếu như tiếp cận được đa số con người. Hoàn cảnh hiện tại như thế này: nhiều khối dân tộc biết đọc biết viết vẫn chưa đạt tới tầm vóc đào tạo kiểu phương tây. Song họ có chung kiến thức, tư duy và hành động. Họ có đủ vận hội mới đắc thủ toàn diện những quan điểm cao cả và phân định phê phán. Do đó thiết yếu, đây là thời điểm chiêm ngưỡng của toàn loại có thể thông giao những điều cơ bản, khả dĩ minh bạch mà không hy sinh mất đi [cái bản chất ] sâu sắc.)
(2) Hai dẫn nhập đầu đã hoàn tất xuất bản dưới nhan đề Khái niệm, Thời gian và Diễn ngôn/Le Concept, le Temps et le Discours, 1968 và dẫn nhập thứ ba là một dẫn nhập lịch sử của khái niệm trong thời gian cũng như một dẫn nhập triết học của thời gian trong khái niệm mở đầu bộ sách dẫn trên.
(3) Xem Paul Ricoeur, Main Trends in Philosophy, 1978.
(4) Lambros Couloubaritsis trong nhiều bài viết chủ trương luận thuyết này (như Le statut transcendantal du mythe trong Figures de la rationalité; Mythe et philosophie chez Parménide, 1990; Aux origines de la philosophie européenne, 1991) cũng như phân biệt thần thoại với tôn giáo (như Mythe et religion: une alliance de raison).
(5) Lấy thí dụ, có ý tượng “người” và từ ngữ người đó phổ biến đối với mọi cá thể thuộc về “người” và con người cá thể như anh X, anh Y chết đi, song hữu thể người vẫn tồn tại.
(6) Một vài dẫn chứng: M.Foucault, L'Herméneutique du sujet, Cours au Collège de Franc (1981-1982). G. Deleuze, Logique du sens, 1969,Barbara Cassin, L'Effet sophistique, 1995, Peter Sloerdijks, Kritik der zynischen Vernunft, 1983, Marie-Odile Goulet-Cazé, L'ascèse cynique, 1986 (xuất bản Le cynisme ancien et ses prolongements, 1993 và đồng xuat bản với R. Bracht Branham, The Cynics, 1996), M. Billerbeck, x.b. Die Kyniker in der modernen Forschung, 1991.
(7) Entia non sunt multiplicanda praeter necessitatem
(8) Discours de la méthode, Art de penser, Logica vetus et nova, De intellectus emendatione, Recherche de la vérité, Medicina mentis.
(9) Regulæ ad directionem ingenii, Discours de la méthode, Meditationes de prima philosophia, Principia philosophiæ, Traité des passions de l'âme.
(10) Hyothesis physica nova, Nova methodus pro maximis et minimis, Brevis deonstratio erroris memorbilis Caresii, De ipsa natura sive de vi insita asctionibusque creaturarum, Méditations sur la connaissance, la vérité et les idées, Discours de Métaphysique, Sur la réforme de la philosohie première et sur la notion de substance, Nouveaux essais sur l'entendement humain, Monadologie, Theodicée, Prinicipes de la nature et de la grâce fondés en raison.
(11) Kritik der reinen Vernunft, Kritik der praktischen Vernunft, Kritik der Urteilskraft.
(12) Der bestirnte Himmel über mir und das moralische Gesetz in mir. (13) X. Enzyklopädie der philosophischen Wissenschaften im Grundrisse.
(14) X. Man kann also unter allen Vernunftwissenschaften (a priori) nur allein Mathematik, niemals aber Philosophie (es sei denn historisch), sondern, was die Vernunft betrifft, höchstens nur philosophieren lernen. (Kant, Kritik der reinen Vernunft, Die Architektonik der reinen Vernunft). Karl Jaspers trong Die grossen Philosophen cũng phát biểu: lịch sử triết học không thể khả hữu nếu như không chính mình triết lý/istPhilosophiegeschichte nicht möglich ohne eigenes Philosophieren.
(15) Trong quyển hai sách dẫn trên, có tiểu đề Entretiens, Janicaud chuyện trò với K. Axelos, W. Biemel, J.-F. Courtine, F. Dastur, M. Deguy, J. Derrida, E. Escoubas, J.-P. Faye, C. Geffré, G. Granel, J. Greisch, P. Lacoue-Labarthe, J.L. Marion, E. Morin, R. Munier, J.-L. Nancy, N. Parfait, Cl. Roüls, từ người lớn tuổi nhất như Walter Biemel, sinh năm 1918, trực tiếp học Heidegger ngay từ đầu thập niên bốn mươi, đến người ít tuổi nhất như Nicole Parfait, sinh khoảng cuối thập niên bốn mươi, với luận án Théorie (et) pratique chez Heidegger. Histoire d'une erreur đệ trình năm 1986 ở Paris là người chưa bao giờ gặp vị Thày.
(16) X. Colloque international tại trung tâm G. Pompidou vào tháng Hai năm 2000. Những tham luận trong hội thảo này gồm: Bản thể của Jules Vuillemin, Lượng của Jacques Bouveresse, Phẩm của Ian Hacking, Quan hệ của Vincent Descombes, Nơi chốn của Gilles-Gaston Granger, Thời gian của John R, Searle, Vị thế của Jocelyn Benoist, Sở hữu của Salvatore Veca, Hành động của Donald Davidson, Cảm thụ của Stanley Cavell in lại trong Quelle philosophie pour le XXIè siècle? Triết học nào cho thế kỷ XXI?.
(17) Kant: Allein wie viel und mit welcher Richtigkeit würden wir wohl denken, wenn wir nicht gleichsam in Gemeinschaft mit andern, denen wir unsere und die uns ihre Gedanken mittheilen, dächten! (Was heißt: Sich im Denken orientiren?).
■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■
Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách
Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập
