đọc ngoài tác phẩmlâm văn sang |
Người ta có thể đọc ngoài tác phẩm được hay không? Câu trả lời là người ta vẫn thường xuyên đọc ngoài tác phẩm (có thể không biết). Từ bao giờ thiên hạ khám phá ra điều này? Từ khái niệm về cái chết tác giả và từ sự khai sinh của khái niệm độc giả. Tác giả là người viết ra tác phẩm; độc giả là người viết tiếp tác phẩm trong khi đọc. Tương tự như viết là tạo ra xương cốt; đọc là tô bồi thêm da thịt.
Đọc là một thao tác tinh thần bao gồm nhiều vận động. Đọc là nhớ lại (từ kinh nghiệm đời sống: từ điều đã học, từ điều đã đọc). Đọc còn là tưởng tượng thêm vào (vốn không hiện hữu, ở ngoài kinh nghiệm - chưa có kinh nghiệm, hay kinh nghiệm mới đang thành hình - không bị giới hạn bởi văn bản đang đọc, ở ngoài tác phẩm đang đọc...).
Bùi Giáng đọc “Trăm năm trong cõi người ta” để viết tiếp câu bát “Ấy từ tính mệnh yêu là yêu nhau.” Câu đầu của Truyện Kiều đó của Nguyễn Du còn trở thành hai câu lục bát khác của Bùi Giáng: “Cõi người ta! Cõi người ta / Thâm thu quý tiết hoàng hoa đằm đìa.”
Philip Roth viết The Breast sau khi đọc qua The Nose của Gogol và Metamorphosis của Kafka.
Dường như trường hợp tương tự cũng xảy đến khi tác giả trở thành độc giả đọc lại chính tác phẩm của mình. Bằng một lý do bí ẩn nào đó (có thể hắn – tác giả-độc giả - không hài lòng với điều đã viết) hắn trở lại với cùng một đề tài đã viết cho một tác phẩm khác và bằng một cách khác.
Như thế, đọc một cách nào đó luôn luôn dẫn tới sự thành hình trong tưởng tượng một văn bản khác, một tác phẩm chưa viết ra, không hẳn sẽ được viết ra và cũng không cần phải viết ra. Ở đây, tôi chỉ muốn nói: đọc ngoài văn bản là chuyện bình thường có thật. Cảm hứng có thể là một tên gọi khác cho hành vi (đọc ngoài văn bản) này.
Đọc Cơ Sở Tư Tưởng Thời Quá Độ là cơ hội (cho tôi) nghĩ tới một tác phẩm khác (lẽ ra) phải được viết ra trước và (bởi vì chưa ai viết) nên cấp thiết hơn phải được viết ra sau này.
Đọc triết là đi vào một thế giới khác, thế giới của tư tưởng, của lý luận siêu hình, trừu tượng. Một thế giới khác thường. Trong thế giới đó, người viết, các triết gia, phát minh ra từ ngữ mới, đặt ra ý nghĩa mới cho từ ngữ cũ là hiện tượng bình thường. Trong thế giới đó, vượt ngang qua những biên giới ngôn ngữ là chuyện bình thường khác.
Trường hợp Việt Nam, người Việt, muốn tìm đến tác phẩm triết, thường rất hiếm hoi, bắt buộc phải đọc một hay nhiều ngôn ngữ khác. Con đường đi ngược từ ngôn ngữ nước ngoài trở về với ngôn ngữ Việt Nam khá chông gai. Đọc sách triết tiếng Việt, người đọc phải đối phó với chông gai đó.
Thành ngữ Pháp có câu: “Raison, c’est la torture” – Lý lẽ là sự tra tấn. Người đọc triết không lo ngại sự tra trấn của lý lẽ bởi vì họ lựa chọn để cho bị tra tấn. Nói theo ông Đặng Phùng Quân trong Cơ Sở Tư Tưởng Thời Quá Độ, “Tri thức tuyệt đối là mục tiêu của triết học” thì để đi đến mục tiêu đó trong tư cách người đọc, họ không có lựa chọn nào khác.
Nhưng, bị tra tấn vì từ ngữ sau khi chữ nghĩa đã vượt biên nhiều lần là điều không thú vị lắm. Không thú vị thay vì đi thẳng vào nội dung của tác phẩm, người đọc (ở đây trường hợp Việt Nam, người Việt) phải vượt qua cửa ải từ ngữ trước tiên.
Paul Ricœur vượt biên bằng thuyền qua Đại Tây Dương, thuyền bị vỡ đôi cắt rời chữ “o” và “e.” Vượt qua biên giới Anh-Pháp Platon, Aristote trở thành Plato, Aristotle. Việt Nam sau nhiều lần vượt biên qua thế giới Tây phương, trao đổi văn hóa, những chữ như Vietnam, Hanoi, Saigon vẫn chưa tách rời ra được, vẫn chưa được bỏ dấu dù rằng bảng chữ Unicode ngày nay đã phổ biến rộng rãi.
Bên trên chỉ mới là những thí dụ của danh từ riêng, cụ thể, còn có thể dễ dàng nắm bắt được, còn tương đối thú vị. Người đọc triết trên sách vở tiếng Việt không may mắn khi đi vào những danh từ chung dùng cho những khái niệm trừu tượng.
Tiếng Tây phương, đa âm, có gốc, có ngọn, từ ngữ mới được xây dựng trên nền móng đó. Người đọc có thể đoán ra nghĩa chữ được, có thể không đúng nhưng gần đúng. Điều này tạo ra một hiện tượng lạ thường trong kinh nghiệm của nhiều người, tôi biết. Người ta nói đọc sách triết bằng tiếng nước ngoài dễ hiểu hơn đọc sách triết tiếng Việt. Tình trạng này rõ ràng là có vấn đề.
Thử nghĩ lại coi. Nếu tách rời chữ và nghĩa, trong một chừng mực nào đó, tôi không đi muốn đi sâu vào lãnh vực thuyên thích học (hermeneutics), người Tây phương chỉ lo nghĩ đến “nghĩa”. Trong trường hợp tiếng Việt, sự bất ổn (instability) xảy ra ở vừa cả chữ lẫn nghĩa. Cả hai đều nằm trên một mảnh đất trơn trợt, không dễ nắm bắt. Tình trạng bất ổn này xảy ra không phải chỉ vì từ ngữ khác nhau được sử dụng bởi các tác giả khác nhau mà còn vì từ ngữ khác nhau được sử dụng bởi cùng một tác giả. Chưa kể, chúng ta còn làm khó nhau bằng cách đặt ra thêm chữ mới trong khi đã có chữ cũ. Một cách khác, chúng ta vô phương hy vọng.
Chúng ta không có một cuốn tự điển đàng hoàng, được cập nhật hóa thường xuyên. Chúng ta chỉ có những cuốn tự điển được sao chép lại. Về triết học trước kia chúng ta có một cuốn tự điển của Trần Văn Hiến Minh. Chúng ta cũng có một cuốn “Danh từ triết học” mỏng hơn của các ông Cao Văn Luận, Đào Văn Tập, Nguyễn Văn Trung, Trần Văn Tuyên và L.M. Xuân (Corpet) biên soạn. Tác phẩm này có tính cách đối chiếu từ Pháp/Anh sang từ Việt. Tất cả đều già trên dưới nửa thế kỷ.
Ông Đặng Phùng Quân dường như cũng biết vấn đề này. Ông có nói qua về “Dự thảo từ điển triết học giản yếu” đang biên soạn. Ông có giới thiệu một phần của việc làm này trên trang nhà của ông. Đó là nỗ lực cá nhân hay chúng ta chỉ còn có nỗ lực cá nhân bây giờ? Nỗ lực đó đòi hỏi rất nhiều thì giờ (ông đi sâu vào định nghĩa nghĩa chữ), là một nỗ lực đường dài, một cần thiết về sau. Còn trước mắt? Dường như, chúng ta dễ đồng thuận ở nghĩa chữ nhiều hơn là ở chữ. (Nghĩa chữ thường được các triết gia tự định nghĩa lấy và mặt khác có không thiếu những bộ tự điển từ chuyên môn cho đến không chuyên môn ở nước ngoài đã được soạn thảo và đã được ấn hành). Tại sao không thực hiện nhanh theo kiểu cuốn Danh từ triết học nói trên, nghĩa là một bảng danh từ đối chiếu ngắn gọn giữa từ ngoại quốc và chữ Việt tương đương? Và tại sao đó không thể là một công trình chung (chưa phải là Hàn Lâm Viện Việt Nam, chúng ta vẫn nại cớ vì không có định chế này nên không làm hoặc/và tranh cãi với nhau trên từng chữ, từnh lời) dùng web làm một tự điểm với sự góp ý của mọi người, mọi nơi, đúng theo cảnh ngộ của người Việt bây giờ? Và tại sao lại chờ đợi lâu hơn nếu trên mỗi quyển sách triết, tác giả chịu để dành ra vài trang làm bảng danh từ đối chiếu cho những chữ dùng trong sách cho người đọc đỡ khổ?
Trường hợp Việt Nam, tôi nghĩ cần phải vượt qua được cửa ải ngôn từ trước khi bàn đến chuyện tương lai triết học Việt Nam. Tương lai triết học thế giới là chuyện khác.
Lâm Văn Sang
■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■
Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách
Thư Viện |
Thư Quán |
Nối Vòng Tay |
Biên Tập
