doris lessing,
|
Trao giải thưởng văn chương Nobel năm 2007 cho nhà văn nữ người Anh Doris Lessing, ban giám khảo của Hàn Lâm Viện Thụy Điển, một lần nữa, lại tạo bất ngờ đầy ngạc nhiên thích thú cho mọi người.
Với cách làm việc hoàn toàn khép kín trong bí mật, người ta không biết ngay cả sự lựa chọn đó dựa trên một danh sách đích xác nào và gồm những ai. Trong điều kiện đó, hàng năm chỉ có những phỏng đoán mò có tính cách bói toán hay đánh cá như thường lệ.
Trên Ladbrokes.com, một “website” dành cho dân cá độ thể thao, người ta có thể tò mò đọc qua danh sách 52 nhà văn tên tuổi được liệt kê ra theo thứ hạng có thể đoạt giải. Và trong số này, được biết đến nhiều hơn hết có: Haruki Murakami (8/1), Adonis (9/1), Amos Oz (10/1), Joyce Carol Oates (10/1), Yves Bonnefoy (16/1), Antoni Tabucchi (20/1), Margaret Atwood (20/1), Milan Kundera (20/1), Carlos Fuentes (40/1), Ian McEwan (40/1), Mario Vargas Llosa (50/1), Michel Tournier (50/1), Umberto Eco (50/1), Salman Rushdie (100/1). Người đứng cuối sổ là Bob Dylan (150/1) được biết như một nhạc sĩ nhiều hơn là nhà văn. Và người đứng đầu sổ là nhà văn Philip Roth (5/1).
Danh sách đó không có tên Doris Lessing.
Năm 1998, Modern Library có lập ra hai danh sách 100 quyển tiểu thuyết Anh ngữ hay nhất của thế kỷ XX, một do ban biên tập chọn và một do trưng cầu ý kiến của độc giả. Doris Lessing cũng không có tên trong cả hai danh sách này.
Danh sách của Modern Library đã làm sôi nổi một thời giới truyền thông và ở cả hai phía: người viết và người đọc. Nhiều danh sách khác được công bố sau đó. Tên tuổi của Doris Lessing xuất hiện hai trong số các danh sách được thành hình sau này: thứ nhất, danh sách 100 quyển tiểu thuyết hay nhất của nữ giới trong thế kỷ XX (với quyển The Golden Notebook); thứ hai, danh sách 100 tác phẩm do thư viện công cộng Madison thực hiện (với quyển Martha Quest và The Four-Gated City).
Gần đây nhất, trong tác phẩm đồ sộ dầy 600 trang “13 Ways of Looking at The Novel,” (Knopf, 2005), nhà văn nữ Jane Smiley (giải Pulitzer 1992) chọn đọc 100 tác phẩm văn chương toàn thế giới. Không có tác phẩm của Doris Lessing trong số 100 quyển sách được chọn với tính cách giới thiệu cho người đọc tác phẩm nào cần đọc. Ngay cả tên tuổi của bà cũng không được nhắc đến trong sách.
Giải thích cách nào đi nữa cho những sự kiện nêu trên, một Doris Lessing kể từ tháng Mười, năm 2007, sẽ là một Doris Lessing khác. Dưới tác động bí ẩn của giải Nobel Văn chương, người ta sẽ tìm đọc, đọc lại bà khác hơn, sẽ để dành cho một chỗ quan trọng trên “chiếu văn” thế giới trong những danh sách nhà văn có tên tuổi cần nhắc tới của mọi thời (!?).
Vinh quang này đến với Doris Lessing khá trễ muộn. Tin tức loan ra vào ngày 11 tháng Mười, chỉ còn không bao nhiêu ngày nữa (ngày 22) bà sẽ tròn 88 tuổi, là người phụ nữ thứ 11 và là người lớn tuổi nhất thắng giải trong 106 năm lịch sử của Nobel Văn chương.
Giải thích về vinh quang đến muộn này, Robert McCrum trên tờ Guardian (Oct 14, 2007) kể lại câu chuyện do chính bà nói. “Một vài năm trước đây” trong một buổi dạ tiệc ở Thụy Điển một người trong ủy ban chấm giải đã nói thẳng với Doris Lessing: “Bà sẽ không bao giờ thắng giải Nobel. Chúng tôi không thích bà.” Cũng câu chuyện tương tự được Phil Miller trên tờ The Herald (Oct 12, 2007) ghi lại vào một thời điểm khác, “trong thập niên 1960” với lời bình luận của Doris Lessing: “Thế là bây giờ họ đã quyết định trao giải thưởng đó cho tôi. Tại sao? Tôi muốn nói, tại sao họ lại thích tôi bây giờ nhiều hơn trước kia? Họ không thể trao giải thưởng cho người chết. Tôi nghĩ dường như họ nghĩ tốt hơn nên trao giải thưởng cho tôi bây giờ trước khi tôi qua đời.”
Thật hay không, với câu chuyện kể trên, việc trao giải Nobel cho Doris Lessing năm 2007 không phải chỉ là điều ngạc nhiên cho thế giới mà còn cho cả người nhận giải.
Doris Lessing sinh năm 1919 ở Kermanshah, thuộc Ba Tư (ngày nay là Bakhtaran, Iran) trong gia đình cha, Alfred Cook Taylor, là đại úy trong quân đội Anh thời Đệ Nhất Thế Chiến, mẹ, Emily Maude Taylor, là một y tá. Trong quyển tiểu sử “Doris Lessing. A Biography” Carole Klein cho biết bà mẹ sinh khó, mệt mỏi không còn đủ sức đặt tên cho con. Bác sĩ hỏi đề nghị tên “Doris,” người mẹ không đủ sức trả lời, im lặng và ông coi đó như là đồng ý.
Thời của “mặt trời không bao giờ lặn trên đế quốc Anh” sự kiện công dân Anh phải mưu sinh ở thuộc địa không là chuyện lạ. Năm 1925, bà theo gia đình di chuyển đến một thuộc địa Anh khác với hy vọng cải thiện lợi tức bằng nghề nông ở Nam Rhodesia (ngày nay Zimbabwe).
Trả lời phỏng vấn cho đài phát thanh BBC, Doris Lessing kể lại thời thơ ấu của bà trải qua trong kinh nghiệm vừa nghe người mẹ đàn dương cầm nhạc Tây phương vừa nghe tiếng trống của người bản xứ vọng lại từ xa. “Thời đó tôi không nghĩ ra lý do nào tại sao người ta không thể cùng chơi nhạc với nhau. Sau này khi lớn lên tôi mới hiểu tiếng trống Phi châu và Chopin không thật sự là một phần của cùng hiện tượng.”
Doris Lessing bỏ học nửa chừng vào năm 14 tuổi.
Sau này nhìn lại, bà nghĩ mình may mắn không phải học văn chương, lịch sử và triết học. Nhờ vậy bà không vướng phải nhãn quan “châu Âu là trung tâm” như nhiều người Âu châu khác. “Điều hầu như không thể có được bất cứ ai ở phương Tây mà lại không chủ trương phương Tây là món quà của Thượng Đế ban phát cho thế giới.” (NY Times, July 25, 1982).
Những năm sau đó, bà làm đủ nghề lặt vặt để sinh sống trong đó có nghề viết báo và viết truyện ngắn. Năm 1939, bà lập gia đình với Frank Charles Wisom. Họ có hai con, một trai (John, một gái (Jean) và chia tay nhau vào năm 1943. Năm 1945 bà lập gia đình lại với Gottfried Lessing, một người di dân Đức gốc Do Thái, thuộc một nhóm mác-xít hoạt động thiên về vấn đề chủng tộc ở Rhodesia. Với nhau họ có một người con trai (Peter). Kế tiếp, năm 1949, bà ly dị và cùng với Peter di chuyển về nước Anh. Ở Luân Đôn, bà bắt đầu sự nghiệp viết lách. Quyển sách đầu tiên The Grass Is Singing của bà phát hành năm 1950 đã được đón chào thật nồng hậu. Tựa sách lấy từ câu thơ trong bài Waste Land của T. S. Eliot: “In this decayed hole among the mountains / In the faint moonlight, the grass is singing.” Sách được tái bản 7 lần trong vòng 5 tháng. Được hỏi về hiện tượng này, bà khiêm tốn cho biết Alan Paton vừa tung ra cuốn “Cry, the Beloved Country” kế tiếp đến quyển sách của bà ra mắt và như thế, “Tôi hết sức may mắn nhờ đúng lúc.” Bà chỉ sơ ý tính sai một chuyện: bà tưởng khi về nước bà có thể sống nhờ vào viết lách. Sự thành công chữ nghĩa của tác phẩm đầu tay không đáp ứng được sự an toàn về tài chính trong đời sống ở Luân Đôn lúc bấy giờ. Có người bắt gặp bà đi và khóc ngoài đường thời đó.
Ngoài viết văn, Doris Lessing còn là một người hoạt động chính trị. Trong những năm 1952 và 1956, bà là đảng viên của Đảng Cộng Sản Anh và đứng trong chiến dịch chống vũ khí nguyên tử. Sau này, khi Stalin bị hạ bệ, khi Liên Sô đàn áp cuộc nổi dậy ở Hung Gia Lợi và khi nghĩ lại về thời kỳ sôi động đó, bà mô tả những người cộng sản như là “bọn sát nhân với lương tâm trong sáng.” Năm 1982, bà tuyên bố mãi cho đến năm 1967 bà vẫn còn tin rằng các nước cộng sản sẽ ngày một dân chủ hơn. Chính điều phi lý một thời đó, bà tham gia vào việc đòi hỏi quân đội Sô viết rút ra khỏi A Phú Hãn. Năm 1988, trong cuộc trả lời phỏng vấn với phóng viên David Streifeld, bà nghĩ mình đã can dự vào chính trị quá nhiều và “Tôi không còn có thể tin cậy vào những lá thư khởi đầu bằng câu ‘Chúng tôi, ký tên dưới đây...’” (Washington Post, Dec. 25, 1988)
Vì phê phán chống lại chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi bà đã bị cấm không cho vào nước này từ 1956 cho mãi đến năm 1995. Bà cũng bị cấm không cho vào Nam Rhodesia cũng vì lý tương tự vào năm 1956.
Doris Lessing tiếp tục sáng tác và cho ra đời một số tác phẩm khác sau quyển The Grass Is Singing. Năm 1962, quyển The Golden Notebook có thể được coi là sự xuyên phá về mặt sáng tác của bà. Tác phẩm dường như là một sự đúng lúc khác của Doris Lessing, đã khai thác ngay vào mối quan hệ nam nữ vào lúc phôi thai của trào lưu nữ quyền thời đó. Nhưng, tác phẩm không chỉ giới hạn trong biên giới đó. Nó mô tả toàn bộ khí hậu xã hội của thời đại từ bước ngoặt đi xuống của chủ nghĩa cộng sản vào năm 1956 cho tới những xung đột về đời sống kinh tế, tinh thần của mọi cấu trúc cá nhân, xã hội đương thời. Tác phẩm còn được hình thành theo một thể dạng mới như một quyển sổ tay ghi chép những mẩu chuyện trong đời của Anna Wulf, nhân vật chính. Sổ tay đó được gìn giữ theo bốn màu đen, đỏ, vàng và xanh. Màu sắc đó được chia theo từng phần đời của nhân vật. Màu đen tượng trưng cho thời đầu đời ở châu Phi. Màu đỏ là thời nhân vật dấn thân theo con đường cộng sản chủ nghĩa. Màu vàng là thời phấn đấu để viết, để hoàn thành một tác phẩm. Màu xanh là một ghi chép bình thường của một quyển nhật ký trong đó ghi chép về đời sống tình dục của nhân vật và kinh nghiệm của cô với phân tâm học.
Có thể nói The Golden Notebook là tác phẩm mọi người đều nói tới, khen ngợi, nhưng, lại là tác phẩm không bán chạy lắm lúc mới phát hành. Tác phẩm tiếp tục chinh phục người đọc sau đó không phải chỉ trong thế giới Anh ngữ mà còn trên khắp thế giới. Trong lời tựa cho tác phẩm, viết cho ấn bản Anh ngữ năm 1993, Doris Lessing cho biết bà nhận lời mời viếng thăm Trung Quốc là nơi ấn bản Hoa ngữ được in ra 80 ngàn quyển, “không nhiều lắm so với đất nước mênh mông này,” nhưng, sách đã bán hết sạch trong vòng ba ngày.
Thập niên 1970, bà đi theo lý thuyết thần bí của Tây Á và bắt đầu viết truyện khoa học giả tưởng. Đầu thập niên 1980, không lấy tên thật, bà cho xuất bản hai tác phẩm dưới bút hiệu Jane Somers. Bà vẫn tiếp tục sáng tác đều đặn cho đến nay. Tác phẩm mới nhất của bà The Cleft vừa phát hành bởi nhà HarperCollins trong tháng Bảy vừa qua. Hơn 50 tác phẩm là một cuộc hành trình dài hiếm hoi của nửa thế kỷ.
Chọn Doris Lessing cho giải Nobel Văn chương năm nay, bà được đánh giá là “người viết sử thi của kinh nghiệm nữ giới, với tinh thần hoài nghi, quyền năng đam mê và viễn kiến đã đặt một nền văn minh phân hóa trước xét nghiệm.”
Được hỏi ý kiến về tuyên bố này, bà đáp trong hoài nghi về sự hiểu biết của chính mình, “Tôi không thật sự biết họ có ý tưởng gì khi viết ra câu đó.” Bà nghĩ, phải tổng kết toàn bộ tác phẩm của bà trong sự phức tạp của chúng để tóm tắt vào một câu duy nhất chắc chắn phải là một việc làm “kinh khủng.” (Xem phỏng vấn trên nobelprize.org)
Vâng, mỗi năm, người của Nobel tung ra một câu rối rắm, chết người tương tự để chứng tỏ quyền năng của chữ nghĩa bằng cách hy sinh sự rõ ràng, trong sáng nhân danh cho sự cao cả của trừu tượng.
Tin tức Doris Lessing được giải Nobel Văn chương năm nay đi kèm theo sự hài lòng của giới cầm bút trên thế giới. Ít ra tên tuổi của Doris Lessing không đến đỗi không ai biết tới như vài năm trước đây họ trao giải cho Imre Kertész hay Elfriede Jelinek. Chúc mừng Doris Lessing có Umberto Eco, Joyce Carol Oates, A. S. Byatt, Margaret Atwood...
Trừ một người...
Đó là nhà phê bình văn chương nổi tiếng của Hoa Kỳ Harold Bloom. Trong tuyên bố với AP, ông nói lên một điều hàng năm người ta vẫn nói: quyết định của Hàn Lâm Viện Thụy Điển là “pure political correctness.” Và điều thứ hai, không ai dám nói, “mặc dù cô Lessing trong buổi đầu của sự nghiệp viết lách đã có được một vài phẩm chất đáng ngưỡng mộ, tôi thấy tác phẩm của cô trong 15 năm qua đọc không vô... loại khoa học giả tưởng nằm ở hạng thứ tư.”
Harold Bloom có bao giờ nặng lời như vậy với ai hay chưa trước đây? Tôi không được biết.
Thượng Văn
■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■
Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách
Thư Viện |
Thư Quán |
Nối Vòng Tay |
Biên Tập
