Lady Borton - The Defiant Muse

thi ca ăn bám nữ quyền

thượng văn


Nhà xuất bản The Feminist Press của City University of New York tháng Tám năm nay vừa tung ra một tuyển tập thơ song ngữ Anh-Việt có tên The Defiant Muse: Vietnamese Feminist Poems from Antiquity to the Present, a Bilingual Anthology. Chủ biên thực hiện tuyển tập này là Nguyễn Thị Minh Hà, Nguyễn Thị Thanh Bình, và Lady Borton. Minh Hà và Thanh Bình là biên tập viên của nhà xuất bản Phụ Nữ ở Hà Nội; Minh Hà đặc trách phần văn học hải ngoại, còn Thanh Bình đảm nhiệm văn học Việt Nam. Lady Borton sinh sống ở Hà Nội, giáo sư phụ giảng chương trình Nghiên Cứu Đông Nam Á của Đại học Ohio. Bà là tổng biên tập của 25 tiểu phẩm song ngữ về văn hóa Việt Nam.
 

Tác phẩm được thành hình từ một gợi ý mười năm trước giữa Trần Thu Hương, giám đốc hồi hưu của nhà xuất bản Phụ Nữ; Florence Howe, sáng lập viên của nhà xuất bản The Feminist Press; và Cora West, chủ tịch của Samuel Rubin Foundation ở New York. Họ đã góp phần cho sự ra đời của tác phẩm.
 

Năm 2003, nhà xuất bản Phụ Nữ cho in cuốn “Tuyển thơ Tác giả nữ Việt Nam” do Lại Nguyên Ân, Ý Nhi, Ngô Thế Oanh, Mai Hương và Phạm Xuân Nguyên biên tập. The Defiant Muse ra đời dựa trên tác phẩm đi trước này bằng cách: “Chúng tôi bắt đầu với tuyển chọn của họ, rồi lựa ra một số bài thơ khác của một số nhà thơ họ đã chọn, và thêm vào một số nhà thơ trẻ hơn vừa xuất hiện.” (tr. XV)*
 

The Defiant Muse mở ra trang sử trong thi ca Việt Nam bằng những bài ca dao mặc dù đây không phải là vết tích cổ xưa nhất về thơ còn để lại cho đến ngày nay. Những “bài thơ” truyền khẩu này chỉ hiện hữu trong văn bản viết đầu tiên được biết tới từ cuối thế kỷ 18 cho một truyền thống lâu đời hơn có thể khởi đầu từ trước năm 1000 sau Công Nguyên. Một số bài ca dao đã được chọn in trong 18 trang đầu tiên (9 trang chữ Việt) dù người sáng tác (vô danh) có chọn đề tài phụ nữ, có liên hệ với phụ nữ nhưng không hẳn do phụ nữ sáng tác. Sự mơ hồ đó (về phái tính và thời điểm lịch sử) còn có thể chấp nhận được.
 

Bài thơ “Sinh Lão Bệnh Tử” của ni sư Diệu Nhân, (4 chữ, 8 câu) sáng tác trong khoảng cuối thế kỷ 11 – đầu thế kỷ 12, in đầu tiên sau phần ca dao, có thể coi là đóng góp đầu tiên của phái nữ vào kho tàng thi ca Việt Nam. Những đóng góp kế tiếp kéo dài cho tới bài “Hai sắc hoa tigôn” của T.T.KH năm 1937, thuộc thời kỳ văn học tiền chiến. Tất cả chiếm 64 trang.

Phần dài nhất còn lại, 122 trang, bắt đầu từ bài “Tơ tằm” của Cẩm Lai viết năm 1948 cho tới bài “Hồng hồng tuyết tuyết” của Vi Thùy Linh, năm 2005. Trong phần tiểu sử, Cẩm Lai (1923-2006) là người từng tham gia vào cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Vi Thùy Linh là người trẻ nhất (sinh 1980) tốt nghiệp ngành báo chí trong nước và có thơ dịch ra tiếng Pháp, Mỹ và Đại Hàn. Ba nhà thơ nữ miền Nam duy nhất có mặt trong The Defiant Muse là Cao Ngọc Anh (bài “Tự trào”), Trần Thị Tuệ Mai (bài “Vu Quy”) và Trần Mộng Tú (bài “Con mèo cô đơn”). Tiểu sử của Cao Ngọc Anh (1878-1972) cho biết bà là người có in tập “Khuê sầu thi thảo” năm 1953 và lập ra Thi Đàn Quỳnh Giao vào đầu thập niên 1960 để khuyến khích các nhà thơ nữ ở miền Nam. Tiểu sử của Trần Thị Tuệ Mai (1828-1983) có ghi nhận “Năm 1966, bà nhận được giải thưởng Văn chương của Nam Việt Nam cho tập ‘Không bờ bến’” và tập thơ cuối cùng của bà “Suối mây hồng” xuất bản năm 1973. Đóng góp của Trần Mộng Tú được Lady Borton trong phần “Dẫn Nhập” coi như là “tác phẩm của các nhà thơ Việt Nam sống ở quốc gia khác.” (tr. 27) Tổng cộng có tất cả 72 người làm thơ có mặt trong tác phẩm.
 

Những bài thơ đó được trình bày liên tục theo thứ tự phần lớn của thời gian và tiếng Việt bên trái, tiếng Anh bên phải. Nếu có một sự phân chia nào đó, người đọc phải liếc nhìn vào Mục lục. Ở đó, sau ca dao là bảng sắp xếp thơ theo thế kỷ: một, từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 15 dành cho thi ca chữ Hán; hai, từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19 cho thi ca chữ Hán và Nôm; ba, thế kỷ 20 đến ngày nay cho thi ca chữ quốc ngữ. Đọc từ cách trình bày này, người ta dễ có cảm tưởng The Defiant Muse đã xóa lằn ranh chính trị phân chia lịch sử Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua, đã vượt lên trên sự bình (tầm) thường của chính trị, đã đặt chính trị ngoài thi ca, đã bỏ lại quá khứ phía sau. Bài viết của Lady Borton trong phần Dẫn Nhập đã chứng minh ngược lại khi đi vào phân tích, diễn giải cho thời kỳ thứ ba, từ thế kỷ 20 đến nay.
 

Trước hết là giai đoạn từ đầu thế kỷ 20 đến năm 1945.
 

Cuốn phim quá khứ giai đoạn này quay thật nhanh trong hai thập niên đầu và bỗng dưng quay chậm lại kể từ năm 1930 khi Đảng Cộng Sản Đông Dương (tiền thân của Đảng Cộng Sản Việt Nam bây giờ) ra đời. Mọi hình ảnh từ đây đều được phóng lớn lên cực đại. Việc dịch thuật các tác phẩm chính trị của nước ngoài để phổ biến tư tưởng mới và xây dựng ý thức dân tộc chủ nghĩa lớn rộng chỉ có được từ Đảng hay đúng hơn “từ các tổ chức địa phương và người tham dự các tổ chức quần chúng” (tr. 15).
 

Tên tuổi nổi bật được nhắc đến trong giai đoạn này có Nguyễn Thị Manh Manh, Anh Thơ (người phụ nữ duy nhất sau này được trao giải thưởng “cao quý” nhất là giải Hồ Chí Minh về Văn học và Nghệ thuật), và Nguyễn Thị Minh Khai. Tại sao Nguyễn Thị Minh Khai trong số người (hiếm hoi) được nhắc tên này? Lady Borton giải thích, “Mặc dù không phải là một thi sĩ có tác phẩm xuất bản, Nguyễn Thị Minh Khai là đề tài của không biết bao nhiêu bài thơ của nhiều người nam và nữ bình thường viết ra.” (tr. 18).
 

Và một người khác không thể không nhắc đến tên là Hồ Chí Minh. Ông có làm thơ và sau này thơ ông được xuất bản không biết bao nhiêu lần và được dịch ra nhiều thứ tiếng. Thơ ông được mang ra giảng dạy ở học đường. Ông không cần được nhiều người nam, nữ (bình thường) làm thơ nhắc tên như Nguyễn Thị Minh Khai. Ông được rất nhiều người tăm (tai) tiếng (famous/infamous) làm thơ về ông. Ở đây ông được nhắc tên vì một lẽ khác, bên ngoài lý do lãnh tụ. Ngày 2 tháng Chín, 1945, ông có đọc Tuyên Ngôn Độc Lập cho Việt Nam. Bài diễn văn được nhiều người nói đến vì câu trích dẫn từ Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ: Mọi người sinh ra đều bình đẳng. Lady Borton nói họ Hồ không chỉ trích dẫn, ông còn sửa đổi lại câu này. “...từ hồi còn ở Boston trong năm 1913, ông đã biết Tuyên Ngôn Hoa Kỳ chỉ khẳng định quyền bình đẳng cho đàn ông da trắng sở hữu tài sản thôi.” (tr. 19). Bởi thế câu “all men are created equal” năm 1776 trở thành “all people are created equal” năm 1945. Trong văn cảnh của một tuyển tập thơ lên tiếng nói cho phụ nữ, điều này được Lady Borton giải thích không phải ông Hồ chỉ bao hàm trong khái niệm “people” gồm cả nam lẫn nữ thôi mà còn kể cả dân tộc thiểu số nữa. Tính thông minh, sáng suốt và đúng đắn chính trị của một người chỉ có vốn học không nhiều lắm, từ trong nước mới bước chân ra thế giới, khi chưa tiếp xúc với chủ nghĩa Marx, khi cách mạng vô sản ở Nga chưa ai kịp nghĩ tới, quả lạ thường. Ông đi trước, nghĩ trước mọi người. Ông du hành vào những nơi chưa ai đặt chân tới. Mà có thật vậy hay không? Ông chỉ nói lên điều này vào năm 1945 hay người đời sau cố gắng đưa vào ý thức ông như chuyện đã xảy ra từ năm 1913. Và cho dù ông ý thức về sự phân biệt nam nữ từ năm đó, liệu ông có phải là người đầu tiên, tiến bộ khám phá ra điều này? Năm 1848, tại hội nghị ở New York mang tên Seneca Falls Women’s Rights Convention, Lucretia Mott và Elizabeth Cady Stanton đã lên tiếng đòi sửa đổi lại câu đầu của Tuyên Ngôn 1776 thành ra “all men and women are created equal.” Ý thức bình đẳng về phái tính (gender) đã có lịch sử khá lâu đời ở Tây phương. Tác phẩm “A Vindication of the Rights of Women” của Mary Wollstonecraft đã viết ra từ năm 1792. John Stuart Mill viết “The Subjection of Woman” từ năm 1869. Chuyện chẳng có gì mới mẻ vào năm 1913 để khám phá và làm lớn chuyện. Có ba vấn đề ở đây: đầu tiên là liên hệ giữa chữ và nghĩa; thứ hai, diễn giải một văn bản cổ; sau cùng, việc chuyển dịch từ ngôn ngữ này qua ngôn ngữ khác. Ngày nay khi nói “All men are created equal” người ta mặc nhiên hiểu là “all people” mà không cần phải đổi thay văn bản cũ thêm vào chữ “and women.” Câu này được dịch ra tiếng Việt và được hiểu “Mọi người sinh ra đều bình đẳng.” Dấu vết phân biệt phái tính không còn nữa nhưng tại sao “created” lại được dịch là “born” (sinh ra)? Phải chăng đó vết tích tôn giáo (God created man in His own image) còn sót lại và chỉ bị xóa bỏ khi di chuyển qua biên giới ngôn ngữ Anh-Việt? Dường như họ Hồ chưa dành quyền khám phá ra chi tiết này.
 

Giai đoạn thứ hai từ năm 1945 đến 1986.
 

Lady Borton say sưa nói chuyện đánh Pháp và Mỹ, nói về thơ của Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp... rồi đề cập tới Nguyễn Thị Định bằng mô tả tương tự như Nguyễn Thị Minh Khai bên trên: “Tướng Nguyễn Thị Định từng là đề tài cho nhiều bài thơ do người thường dân viết ra.” (tr. 23). Được kể tên thêm trong giai đoạn này là Cẩm Lai, Trần Thị Mỹ Hạnh, Lê Thị Mây, Xuân Quỳnh, Ý Nhi và Trần Mộng Tú. Không lời lẽ nào được viết dành cho thi ca ở chiến tuyến đối diện (trong giai đoạn 1945-1975) cũng không nhắc tới lý do nào, như trường hợp Trần Mộng Tú, thi ca Việt Nam hiện diện ở hải ngoại.
 

Giai đoạn thứ ba từ năm 1986 đến nay.
 

Bỗng dưng ở vào đầu thời điểm này “Đổi mới vào cuối năm 1986 đã mở cửa cho Tây phương, sáng kiến kinh tế cá nhân, và tự do về nghệ thuật và cá nhân lớn rộng hơn.” (tr. 28). Không lý do nào được nói đến về chính sách đổi mới đó. Dưới ngòi bút của Lady Borton “Những nhà thơ nữ trẻ xuất thân từ thế hệ đầu tiên của người Việt trong nhiều thế kỷ được lớn lên trong thời bình. Họ đủ ăn. Họ hưởng được nhiều tự do mà ông bà họ lớn lên trong tinh thần Khổng giáo chưa bao giờ tưởng tượng ra được.” (tr. 29). Người đọc chỉ có thể hiểu ngược lại mô tả này để đoán ra những gì không được người viết nói ra ở giai đoạn trước. Và bằng cách đó, họ cũng không biết gì rõ hơn tình trạng thực sự của thi ca hiện nay nếu không chờ thêm vài chục năm nữa.
 

Điều lạ lùng hơn hết có lẽ là trong 33 trang Dẫn Nhập, Lady Borton đã chẳng nói gì về hết tính chất “nữ quyền” (feminist) của tuyển tập. Lời nói đầu của bà Grace Paley (sáng lập viên nhà xuất bản The Feminist Press, vừa mất trong tháng Tám, 2007) có được một câu: “Kể từ thập niên 1930, đã có nhiều bài thơ ‘nữ quyền’ can đảm.” (tr. XIII).
 

Khó khăn nhất có lẽ phát xuất từ chủ nghĩa duy vật lịch sử của Marx. Bất bình đẳng phái tính xét dưới cái nhìn của Marx chỉ là vấn đề của chủ nghĩa tư bản và chỉ được giải quyết khi xã hội cộng sản được thực hiện. Với Marx đấu tranh giai cấp chứ không phải đấu tranh phái tính mới là căn bản của một giải pháp thực sự. Nhưng, cũng không phải vì vậy khi cách mạng Nga thành công, chính quyền vô sản đầu tiên không thử nghiệm tìm cách tiêu diệt chế độ gia trưởng, gia đình và thực hiện bình đẳng giữa nam và nữ. Kết quả của việc làm này của Lenin và Stalin ra sao? Kate Millett trong tác phẩm nổi tiếng Sexual Politics (1969, còn tiếp tục được đọc và lần tái bản cuối cùng là năm 2000) đã viết khá chi tiết về kinh nghiệm này. Millett viết, “... lý thuyết Marx đã thất bại không cung cấp được căn bản ý thức hệ đầy đủ cho một cuộc cách mạng giới tính và tỏ ra rất ngây thơ trước sức mạnh lịch sử và tâm lý của chế độ gia trưởng.” Kinh điển dựa vào cuốn “Nguồn gốc gia đình” của Engels cũng chẳng giúp đỡ gì hơn. Thập niên 1930, thời Stalin, thất bại hoàn toàn, Liên Sô lần hồi quay trở lại củng cố định chế gia đình. Người ta có thể đọc thấy trên tờ Pravda những nhận định như: chỉ có người đàn ông gia đình gương mẫu mới có thể là một công dân Sô viết gương mẫu, hay nhà nước không thể hiện hữu nếu không có gia đình. Quốc Tế Cộng Sản theo đuôi. Paul Vaillant-Couturier trên tờ báo Pháp L’Humanité hô hào, “Hãy cứu vãn gia đình!... Liên Sô đã chỉ đường. Nhưng điều cần thiết là phải thực hiện những biện pháp tích cực để cứu vãn giống nòi.”
 

Dùng từ “feminist” (nữ quyền) thay cho “feminine” (nữ phái) hay “female” (nữ giới) ban biên tập của The Defiant Muse đã đi xa hơn giới hạn thời gian, tính chất lịch sử của từng thời kỳ phát triển văn học thiên về nữ quyền mà theo Elaine Showalter chỉ kéo dài từ 1880 đên 1920. Tôi không tin vào việc gọp chung thơ của mọi thời, dán lên nhãn hiệu “nữ quyền” và xuất bản.
 

Sau cùng, chủ nghĩa nữ quyền ngày nay có gì đáng nói? Chúng ta còn chủ nghĩa phê bình văn học nữ quyền, một sản phẩm trực tiếp từ phong trào phụ nữ của thập niên 1960. Chúng ta còn những nhà đấu tranh nữ quyền không dám lên tiếng nói cho số phận của phụ nữ Hồi giáo khắp nơi trên thế giới chỉ vì phải bảo vệ tinh thần đa văn hóa.
 

Có nghĩa gì không cái gọi là mới bây giờ đã cũ trước khi mới? Tôi đọc câu thơ đòi “cự tuyệt vai trò thứ yếu” (tr. 240) của nhà thơ nữ quyền Vi Thùy Linh như thế.

 

Thượng Văn

Chú thích:

(*) Số trang ghi lại từ The Defiant Muse: Vietnamese Feminist Poems from Antiquity to the Present. A Bilingual Anthology của Nguyễn Thị Minh Hà, Nguyễn Thị Thanh Bình và Lady Borton, do nhà The Feminist Press ấn hành, New York, 2007.


 

■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■

Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách

Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập
 

Hit Counter