Pablo Picasso - War and Peace

david halberstam
sống chết với nghề nghiệp

thượng văn

 

 

Đời sống không bao giờ thiếu chuyện bất ngờ. Tin tức về cái chết của nhà báo nổi tiếng David Halberstam là một.

 

Một tai nạn xe cộ xảy ra lúc 10:30 sáng thứ Hai ở thành phố Menlo Park như đã từng có bao nhiêu tai nạn như vậy xảy ra trên đường phố Hoa Kỳ. Nhưng lần này, người ngồi cạnh tài xế lại là David Halberstam. Ông chết ngay tại chỗ. Người lái xe chở ông đi là một sinh viên ban báo chí của Đại Học Berkeley. Thứ Bảy, ông nói chuyện ở UC Berkeley đề tài “Turning Journalism into History.” Thứ Hai, chuẩn bị tài liệu cho quyển sách dự định sẽ viết  “The Game,” ông trên đường đi đến gặp và phỏng vấn Y. A. Tittle, cựu quarterback của đội banh New York Giants về trận tranh giải vô địch giữa đội Giants và Baltimore Colts vào năm 1958 mà hầu hết mọi người đều cho là trận football hay nhất cho đến nay. Ông trễ hẹn lần cuối cùng trong đời năm ông 73 tuổi.

 

David Halberstam sinh ngày 10 tháng Tư, 1934 ở New York City. Cha là bác sĩ giải phẫu, mẹ là cô giáo. Người cha ở trong quân đội và như thế Halberstam thời nhỏ sống bất định theo gia đình ở mọi nơi Texas, Minnesota, Connecticut. Lớn lên ông theo học Đại Học Harvard và tốt nghiệp ngành báo chí ở đây.

 

Ông bắt đầu vào nghề báo từ năm 1955 với tờ Daily Times Leader ở West Point, Mississippi, một nhật báo nhỏ có số ấn hành 4,000 số. Ông là phóng viên duy nhất trong tòa soạn mà ngài chủ bút lại không ưa cậu ấm Do Thái tốt nghiệp Harvard. Ông tiến thêm bước nữa làm việc cho tờ Tennessean ở Nashville, rồi sau đó đặt chân vào tờ New York Times năm 1960.

 

Cuộc đời David Halberstam bắt đầu có chuyện đáng nói từ lúc đó hay nói đúng hơn từ khi ông được báo gửi đi làm phóng viên ở Việt Nam vào năm 1962.

 

Halberstam gia nhập vào hàng ngũ của phóng viên Mỹ đầu tiên, cùng lứa đôi mươi, không tên tuổi, bắt đầu xây dựng sự nghiệp bằng chiến tranh Việt Nam.

 

Có nhiều giai thoại về Halberstam thời đó ngày nay vẫn còn được nhắc lại trên báo chí khi tin ông mất được loan truyền. Mùa thu 1963, có tin một trận đánh quan trọng xảy ra ở đồng bằng Cửu Long, các phóng viên không được phép tháp tùng để quan sát và viết bài. Neil Sheehan cùng với ông bèn điện thoại cho tướng chỉ huy lực lượng Hoa Kỳ là Paul Harkins và Đại Sứ Henry Cabot Lodge. Chiều hôm đó, trong cuộc họp báo ở MACV (Military Assistance Command, Vietnam), thay cho một đại úy hay thiếu tá theo thường lệ, lần này tướng hai sao Dick Stillwell chủ tọa. Ông này mở đầu bằng câu chuyện có người trong số phóng viên đã gọi điện thoại cho Tướng Harkins và Đại Sứ Lodge, “Các ngài ấy là người rất bận rộn; các ngài không có thì giờ trả lời điện thoại. Các anh nhớ lấy điều tôi vừa nói.”

 

Neil Sheehan nhìn thấy sự giận dữ mỗi lúc một tăng lên trên nét mặt của Halberstam. Cuối cùng, câu trả lời bật lên như một thách thức, “Thưa thiếu tướng, ông không hiểu. Chúng tôi không phải là hạ sĩ của ông; chúng tôi không làm việc dưới quyền của ông. Chúng tôi làm việc cho các chủ bút. Nếu ông có điều gì phải than phiền về chúng tôi, hãy liên lạc với chủ bút của chúng tôi. Chúng tôi có quyền gọi tướng chỉ huy trưởng tại nhà bất cứ lúc nào chúng tôi cần để hoàn thành công tác. Dân chúng Hoa Kỳ có quyền biết chuyện gì đang xảy ra ở đây.”

Một câu chuyện khác còn được nhắc là Tổng Thống Kennedy tìm cách làm áp lực cho tờ New York Times thuyên chuyển cái gai nhọn David Halberstam ra khỏi Việt Nam. Báo này chẳng những từ chối mà còn hủy bỏ dự tính rời Việt Nam của Halberstam để chứng tỏ họ không nhượng bộ trước quyền lực ở Washington.

 

David Halberstam đã ở lại và sau đó được giải Pulitzer năm 1964 qua các bài phóng sự của ông về chiến tranh cũng như vụ đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm. Trong đội ngũ phóng viên thời đó được giải Pulitzer còn có Malcolm Browne, Peter Arnett, Neil Sheehan và Horst Faas (hai lần).

 

Sau này khi nhớ lại thời kỳ sôi động đó ở Sài Gòn, David Halberstam lên tiếng cho cả thế hệ phóng viên trẻ tuổi và lý tưởng, có mặt trong cuộc chiến về niềm tin và ước mong Hoa Kỳ chiến thắng ban đầu. Cho đến khi họ khám phá ra điều họ không muốn khám phá. Họ muốn chuyện phải thành. “Đến khi chuyện không thành, chúng tôi bắt đầu nói chuyện sẽ không thành. Đó là lúc họ bắt đầu tấn công chúng tôi bằng cách nói ‘Đây là bọn muốn chúng ta thất bại.’”

 

Sau Việt Nam, dường như David Halberstam không còn cảm thấy thích hợp cho bất cứ chỉ định việc làm nào khác từ New York Times. Ông được điều động đi Warsaw, Ba Lan. Có chỉ thị từ tờ báo cho các phóng viên trong trường hợp nghi ngờ hãy viết bài đúng 600 chữ. Halberstam viết cho bạn: “Chỉ có hai loại chuyện trên thế giới này: có loại tôi không muốn viết nhiều đến 600 chữ, và loại tôi muốn viết nhiều hơn 600 chữ. Nhưng chẳng có câu chuyện nào mà tôi muốn viết đúng 600 chữ cả.”

 

Halberstam lấy cô vợ là diễn viên Ba Lan Elzbieta Czyzewska năm 1966 rồi cả hai bị trục xuất trong năm sau vì dám viết bài phê phán chế độ cộng sản ở đây. (Họ ly dị năm 1977. Ông lập lại gia đình với Jean Sandness Butler năm 1979 và sống cho đến ngày ông mất.)

 

Không hài lòng, Halberstam bỏ tờ New York Times năm 1967 sang làm cho tạp chí Harper’s để được viết dài theo ý thích.
 

Nhà văn Gay Talese, bạn thân trong gia đình, nhận xét, “Ông là người không có một khúc xương lười biếng nào trong cơ thể.” Thật vậy, ông viết rất nhanh và nếu cần ông đóng cửa ở nhà, làm việc theo một kỷ luật sắt cho đến khi hoàn thành một tác phẩm dự định. Ông viết hai tác phẩm trong thập niên 1960, ba trong thập niên 1970, bốn trong thập niên 1980 và sáu trong thập niên 1990. Đề tài ông lựa chọn đụng chạm đến mọi khía cạnh trong đời sống Hoa Kỳ. Cuốn “The Powers That Be” đề cập đến giới truyền thông. “The Breaks of the Game” viết về bóng rổ. “The Reckoning” nói về sự suy sụp của kỹ nghệ sản xuất xe hơn của Hoa Kỳ và sự phát triển của kỹ nghệ này của Nhật...

 

Nhưng nhớ đến David Halberstam, người ta không thể quên, không thể không nhắc đến hai tác phẩm ông viết về chiến tranh Việt Nam: Quyển “The Making of a Quagmire” (1965) và quyển “The Best and The Brightest” (1972). Trong hai tác phẩm này quyển thứ hai được coi như sách để đời của ông. Cuốn sách gắn liền với tên tuổi ông. Tựa sách đi vào luôn trong ngôn ngữ Anh nói lên tình trạng trớ trêu, nghịch lý của Hoa Kỳ thời Kennedy và Johnson trong liên hệ với chiến tranh Việt Nam. Những khuôn mặt chính trị trong chính phủ lúc bấy giờ được ông nâng lên hàng “the best and the brightest” của Hoa Kỳ để nói lên một điều duy nhất: họ bất lực trong việc giải quyết chiến tranh Việt Nam. Tiếng nói của ông góp thêm một phần âm thanh vào phong trào phản chiến ở Hoa Kỳ. Ông đứng ở một phía của cuộc chiến để nói lên những điều ông biết rõ hơn điều ông không biết ở chiến tuyến bên kia. Vì thế những điều ông biết và viết ra không thể không thiên lệch. Trên biên giới được ông góp phần vạch ra, làm rõ nét hơn giữa chủ chiến và phản chiến, ông không được một bên ưa thích cả ở Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa.

 

Giữa hai tác phẩm chính về chiến tranh Việt Nam nói trên, ông có viết một cuốn sách nhỏ 120 trang được ít người nhắc tới. Sách xuất bản năm 1971, được in lại năm 1987 có tựa là “Ho.” Để viết cuốn tiểu sử về Hồ Chí Minh, trong phần thư mục sách ông tham khảo đúng 11 cuốn sách trong đó có hai cuốn của Bernard Fall, một cuốn của Jean Lacouture, một cuốn của Joseph Buttinger, một cuốn của John McAlister và Paul Mus... và cuốn tiểu thuyết “The Quiet American” của Graham Greene.

 

Tại sao phải nhắc đến “Ho,” một tác phẩm không quan trọng của Halberstam? Sách chỉ trình bày sơ lược về cuộc đời của họ Hồ nhưng lại đặc biệt nói lên suy nghĩ, tinh thần của thời đại bấy giờ về Việt Nam. Trong đó chuyện Hồ Chí Minh bán cụ Phan Bội Châu cho mật thám Pháp để lấy 150,000 đồng tiền thưởng được Halberstam viết ra cũng lạnh lùng, khô khan cũng như việc cộng sản thanh toán các tổ chức “quốc gia” thời sau 1945. Nhưng khi viết về miền Nam Việt Nam sau 1954, ông linh động hơn trong phê phán. Việc Hoa Kỳ chọn Ngô Đình Diệm làm lãnh tụ được coi là “một người trật cho Việt Nam nhưng lại đúng cho người Mỹ.”

 

Ông giải thích: Họ Ngô là người Công Giáo trong một đất nước Phật Giáo, một người gốc miền Trung cầm quyền ở miền Nam, một ông quan không có đất đứng. Trước đó Halberstam đã chia xã hội miền Việt Nam thành hai tầng lớp hoặc là chống Pháp hoặc là đứng bên lề “chiến đấu chống lại tổ quốc, không làm gì cả hay thủ lợi trong thời chiến tranh giành độc lập.” Khi nói đến chuyện Tổng Thống Johnson gặp “chúa tể” (overlord) và “phi công chiến đấu” Nguyễn Cao Kỳ năm 1967, ông mở ngoặc chua thêm “Còn gì Mỹ hơn và ít Việt Nam hơn trong một quốc gia nơi dân chúng còn sống với con trâu trong khi một lãnh tụ lại đặt quyền lực trên một chiếc phi cơ phản lực.” Trong cuộc gặp gỡ đó, Tổng Thống Johnson thúc giục Nguyễn Cao Kỳ nhanh lên đi đến chiến thắng. Halberstam viết thêm “Như nhiều người khác trước ông, ông nghĩ chiến thắng đang gần kề; giống như nhiều người khác, ông lầm.”

 

Lúc Halberstam viết cuốn “Ho,” chiến tranh Việt Nam vẫn còn tiếp diễn. Ông thấy lúc đó “Giống như người Pháp, người Mỹ chỉ kiểm soát được nơi họ đứng...” Chuyện đếm xác chết sau mỗi trận chiến đã trở thành mối ám ảnh trước kia của Pháp và bây giờ của Hoa Kỳ. “Mỗi năm người Mỹ bắt đầu bằng việc ước tính con số kẻ địch trong nước; nếu giả dụ như là 75,000, năm đó họ có thể đã tiêu diệt được 85,000, nhưng đến cuối năm họ lại khám phá kẻ địch tăng lên 90,000.” Trong ngôn ngữ sắc bén của Halberstam, “Họ [Hoa Kỳ] chiến đấu chống lại mức sinh sản của một dân tộc.” Ông trích lại tiên đoán của Bernard Fall mà ông tin là đúng. “Người Mỹ mơ một giấc mơ khác hơn người Pháp nhưng lại bước trên cùng vết chân của người Pháp.”

Người ta có thể không tin vào tài tiên tri của Fall hay Halberstam. Người ta có thể không tin vào phân tích tình hình đúng của Halberstam nên chiến tranh mới kết thúc vào tháng Tư, 1975. Nếu như thế, tại sao người ta có thể tin rằng Halberstam hay cả phong trào phản chiến có thể khiến cho Hoa Kỳ và miền Nam thua trận? Có phải David Halberstam đã cố gắng chứng minh một lý do khác hơn trong “The Best and The Brightest?” Ông không phải là một sử gia. Ngôn ngữ ông dùng không phải là ngôn ngữ sử sách. Trước ngày tai nạn, ông chỉ mới hy vọng “Turning Journalism into History” thôi. Nhưng người viết sử không thể bỏ qua những gì ông đã viết chỉ vì ông phản chiến.

 

Một quyển sử đúng đắn cho chiến tranh Việt Nam vẫn chưa được viết ra. Người đóng góp thêm tài liệu cho giai đoạn đó vừa mới mất.

 

Thượng Văn
 

■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■

Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách

Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập
 

Hit Counter