đời thường của một quá khứ bất thường

thượng văn

 

 

Đó là tập truyện có cái tên dài nhất, tôi nghĩ vậy. Mười bốn chữ đặt trên dưới ba hàng, viết thường, không chấm phẩy “ăn quá khứ / những mảnh thất tán giữa đời thường / đến những vô cùng.” Tập truyện là thế giới của ba cây viết ở Pháp: (một nam) Cổ Ngư, (hai nữ) Mai Ninh, Mạch Nha do nhà Văn Mới xuất bản đầu năm nay.

 

Thế giới đó có bề dầy 212 trang với một lời tựa của Nam Dao. Bên cạnh cái chung của những 22 bài viết (bình thường) với tựa ngắn, có một Mạch Nha (khác thường) thích tựa dài (chẳng hạn bài Bụi lưu cửu bay về từ biển của người đàn bà ở lại trong ngôi nhà không có gì để tháo gỡ, cả một chiếc bóng cũng không; và bài Mỗi lần Du Tử Lê xuất hiện, tôi thắp một nén hương cho Hạnh).

 

Tất cả được chia thành ba phần: Ăn quá khứ, Những mảnh thất tán giữa đời thường, và Đến vô cùng (không có chữ “những” như trên bìa sách).

 

Sự phân chia này, vì một lý do nào đó, không rõ ràng cho dù ông Nam Dao trong lời tựa gọi tác phẩm là “Tập Truyện và Ký” và có giúp người đọc nhận diện phần 2 là “tập hợp Ký” cho những bài mà ba tác giả nhắc nhở đến một số tên tuổi có thật như Du Tử Lê, Kiệt Tấn, Thanh Tâm Tuyền, Trịnh Công Sơn, Phùng Quán và Lê Uyên Phương và một số tên tuổi có thật nhưng ít biết khác như Võ Thị Cúc, Trần Thị Đương... Còn Hạnh, còn Lynh trong bài của Mạch Nha là ai? Họ có thật? Họ không thật thì đã sao? Có phải chúng ta bị ám ảnh quá nhiều về sự thật kể cả sự thật trong văn chương như một giá trị phổ quát? Bài Mùa Mưa Xa của Mai Ninh được ông Nam Dao nhận xét là “ký tuyệt vời, xa vắng, da diết, ngậm ngùi” tại sao lại nằm ở phần 3 của sách? Cũng trong phần này, bài Cõi Riêng của Cổ Ngư không phải Ký thì là gì? Thật hay hư cấu, mọi nhân vật thoát thai từ tác phẩm, ký hay truyện, đều mang hình ảnh chung, không khác hơn của “những mảnh thất tán giữa đời thường.”

 

Chữ nghĩa của “Ăn quá khứ...” là văn bản lưu vong. Đó là văn bản nhịp ba của ra đi, trở về, và lại ra đi. Của lê thi diem thúy trong The Gangster We Are All Looking For. Của Bich Minh Nguyen trong Stealing Buddha’s Dinner. Của biên giới không còn như một giới hạn. Của văn hóa không còn là duy nhất. Lưu vong nằm ngoài văn hóa số ít, nằm trong kinh nghiệm văn hóa số nhiều, sống xuyên văn hóa. Chấn động, xung đột xảy ra khi số ít va chạm với số nhiều. “Ăn quá khứ...” là vết tích của chấn động đó, xung đột đó được ghi lại từ nhỏ đến lớn. Đó có thể là thời tiết, môi sinh và cũng có khi chỉ là sự nhạy cảm từ một câu hỏi cần phải đi tìm câu trả lời đúng như Mai Ninh viết:

 

“Tôi nói cám ơn và ông hỏi: «Cháu từ ngoài vô Chẳng rõ tại sao tôi lúng túng, không muốn nói với ông cụ tôi là Việt kiều, cái âm kiều tôi không thích cả từ ngày bé, chẳng hạn Hoa kiều. Giản dị là thế chăng?” (tr. 159)

 

Hoặc có khi lại là điều hệ trọng hơn như chuyện sống/chết:

 

“Nhấp nhô ngôi mộ xây xi măng mang tấm bia sát cạnh cửa căn nhà, đâm thẳng góc vào một mả khác chỉ là nấm đất vun vun nằm dọc theo hàng hiên. Sự hỗn độn cho tôi cảm tưởng xác người đã đổ xuống nằm đâu người ta an táng ngay vị trí ấy, không dời đi, không sắp xếp lại. Và bao nhiêu căn nhà như túp lều này, mọc trên chính bãi chôn người cũng thể hiện những cuộc đời tả tơi, không thể tơ hào một xếp đặt nào cho đời sống. Bao câu hỏi tại sao, nào bực bội băn khoăn nào bất mãn từ lúc đặt chân về trên xứ sở này còn nên chăng, còn là quyền của tôi đâu khi tôi không phải là người đang sống lẫn lộn giữa tha ma và trần thế. (tr. 160)

 

Không phải là người đang sống lẫn lộn giữa tha ma và trần thế, tôi không còn cho mình quyền đặt câu hỏi cũng là một xác định khác về tư cách xa lạ của mình ngay trên chính quê hương (có còn là quê hương mình?).

 

Ở đây không phải là sự khác biệt hay giống nhau (văn hóa) làm con người gần nhau hay xa nhau hơn. Văn hóa không đứng yên một chỗ, trong cũng như ngoài nước. Đó là một bức tranh ráp nối, cắt dán của Braque, của Picasso. Quá trình mang chất liệu từ một văn cảnh này sang một văn cảnh khác (collage) và sắp xếp lại trong một bố cục mới (montage) chỉ có thể tạo nên một khách thể mới. Bức tranh đó trong văn cảnh lưu vong chỉ phản ảnh sự tái tạo của một thực tại duy nhất mà còn là những mảnh vụn của nhiều thực tại khác chồng chất lên nhau. Bức tranh đó không bao giờ giống như trước cũng như không bao giờ hoàn tất. Sự ngạc nhiên (thất vọng) của lê thị diem thúy, Bich Minh Nguyen trước kia, hay Mai Ninh, Mạch Nha, Cổ Ngư bây giờ (bất cứ ai) bắt nguồn từ ảnh tượng (simulacrum) của một trí nhớ luôn thiếu sót trong hy vọng vẽ lại với đầy đủ đường nét và màu sắc của quá khứ bằng ảo tưởng của con đường về nguồn. Ở cõi về (cội nguồn) là một bức tranh ráp nối, cắt dán khác. Ai có đủ lạc quan để phán: Hãy tìm sẽ gặp?

 

Ăn quá khứ...” có nhiều hơn sự đi tìm. Tác phẩm có một Mạch Nha viết hối hả, viết hụt hơi, viết như một chạy tới không ngừng, như một chạy lui không mỏi. Hình như, viết với Mạch Nha đồng nghĩa với tốc độ. Cô viết ngắn với nhiều dấu chấm, phẩy. Cô viết như để làm nhanh thêm cho ngôn ngữ (viết). Cô viết như một người sẵn sàng nổi loạn như một tạc đạn sắp sửa nổ tung. Và cô nổ rất bất ngờ: “Làm đếch gì có yêu. Giữa đàn ông và đàn bà chỉ có cần.” (tr. 200) và tỉ tê: “Tín ơi, Ly không love. Chỉ need thôi. Mặt trời chân lý chói sáng từ ấy, giác ngộ thì đỡ khổ thân.” (tr. 201)

 

Cô bông đùa ngay cả những chuyện tưởng như nỗi ám ảnh nghiêm chỉnh của bất cứ phụ nữ nào:

 

“Một bữa tôi nhìn thấy mấy vết nhăn trên túi mắt mình. Bàng hoàng. Hãi hùng.

...

Suốt mấy tuần sau, tôi hì hục trùng tu nhan sắc... Ngày thứ một trăm: thằng đồng nghiệp cựu thù phòng bên bonjour tôi hai lần và ở lần thứ hai, nó gãi đầu bảo quên, hình như hồi nãy mình có chào nhau rồi, vậy xin tái chào!

Sướng điên!” (tr. 204)

 

Và tại sao phải lắm lời khi cô có thể diễn tả khéo léo bằng những câu đối thoại ngắn thế này:

 

“8 giờ

– Em đang làm gì?

– Em đang lau lá.

8 giờ rưỡi

– Em lau lá xong chưa?

– Em vẫn đang lau lá.

9 giờ

– Em làm gì? Sao không nói chuyện với anh?

– Em lau lá chưa xong, anh ạ.

– Em sắp trở thành thiền sư rồi! Mọi việc đều hư vô! Anh cũng là hư vô!

Anh lại hờn...”

 

Đối diện với một Mạch Nha sôi nổi là một Mai Ninh trầm tĩnh, chừng mực. Truyện “Vọng rừng” tiêu biểu cho sự trầm tĩnh, chừng mực đó, và chỉ một truyện này thôi cũng đủ xác định chỗ đứng vững chắc cho người viết. Một Mai Ninh của tập truyện đầu tay “Hợp âm trong vùng sân khuất” của năm 2000 lấy đâu ra kinh nghiệm rừng núi để kể chuyện đường rừng? Thời đó, Mai Ninh viết về tình yêu và thử nghiệm siêu thực. Bằng cách khởi đầu nào đi nữa, cô là người cầm bút nghiêm chỉnh. Thời đó, tôi có đặt câu hỏi: “Tennessee Williams có nói rằng ông có thể viết hay hơn nhiều nếu ông không quá lo lắng về khả năng viết lách của mình. Mai Ninh có nỗi lo lắng này khi bắt đầu cầm bút?” và được trả lời: “Có hơi băn khoăn lẫn dè dặt một chút lúc viết hai ba truyện đầu tiên, khởi sự một điều gì cũng thế, nhưng không lo lắng. Mai Ninh chẳng thấy gì phải lo lắng cả, khi đấy không là chuyện thiết yếu cho đời sống của mình. Tuy thế, Mai Ninh không xem viết chỉ là chuyện để chơi. Nếu là chơi, dễ đưa đến cách viết vô ý thức (tất nhiên chẳng thể nói, cứ chơi là vô ý thức, "nghề chơi cũng lắm công phu"), lại đem đăng báo thì hoá ra xem thường người đọc.”

 

Mai Ninh sau đó ra thêm hai tác phẩm khác là Ảo Đăng và Cá Voi Trầm Sát, tôi không được đọc. Đọc lại Mai Ninh bây giờ tôi chợt nhận ra một Mai Ninh mới, và khác của vốn sống, và nhất là vốn chữ. Dường như những chuyến đi về Việt Nam, trong một chừng mực nào đó, đã mang đến thay đổi này, đã làm dầy thêm, làm đẹp thêm bức tranh collage/montage cô mang từ Pháp về. Có phải, sau cùng, người cầm bút trong cũng như ngoài nước đều phải đối diện với một chất liệu chung là ngôn ngữ? Và một điều quan trọng hơn: ai là người làm chủ được cách sử dụng chất liệu đó?

 

Nhà văn Jorge Luis Borges trong một bài viết mang tên “Thi Ca” có viết một câu thế này: “Nếu  bạn không cảm được thi ca, nếu bạn không có cảm quan về cái đẹp, nếu một câu chuyện không làm bạn muốn biết điều gì sẽ xảy ra kế tiếp, điều này có nghĩa là tác giả không viết cho bạn. Hãy xếp nó qua một bên.” Tôi viết ra điều này bởi vì, tôi cảm thấy ông Cổ Ngư, tác giả thứ ba của “Ăn quá khứ...”, đã không viết cho tôi. Tôi không ân hận đã nghe theo lời Borges.

 

Thượng Văn
 

■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■

Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách

Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập
 

Hit Counter