1. Thế hệ văn học 1932-45 là một thế hệ thành thực. Khi ngọn gió phương Tây tư sản thổi tới giữa xã hội Việt Nam phong kiến ngàn năm, họ đã được thức tỉnh con người cá nhân trong mình. Cá nhân là tự do. áp lực của cộng đồng dễ khiến con người phải che giấu mình, phải khác mình, phải đè nén mình. Con người trong cộng đồng được chu toàn, che chở, bao bọc nên dễ đơn giản, dễ bằng lòng với bản thân. Tự do cá nhân của lớp người tây học thời 1932-45 là từ sự phát hiện ra sự phức tạp nội tâm của mình, cái bao lâu nay có mà không biết. Xuân Diệu viết: "Trong lòng An Nam của chúng ta, vẫn có phần nhiều những ý, những tình, những cảm giác mà người Tây có, xưa kia ta không nói là vì ta không ngờ, bây giờ cái nào khoa học của Ấu Tây đã cho biết rằng ta có, vẫn có đã lâu những của cải chôn giấu ở trong lòng, thì sao ta không nói?" (Tính cách An Nam trong văn chương, 1939). Và một khi nói ra là phải thành thực. Bởi đây là những tình cảm, cảm xúc thực của mình, là những điều thực mình tâm niệm, nghĩ suy. Bởi cái cũ đã bóp nghẹt con người, nay cái mới phải được giải phóng, tự do.
Thành thực, đó là tiếng lòng của những người làm nên phong trào Thơ Mới. Bắt đầu từ người mở đầu, một người thuộc phái cựu học, một người theo cốt cách thơ cũ - ông Phan Khôi. Lý do khiến ông phải đưa ra một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ là vì: "Thơ cốt chơn. Thơ cũ câu thúc quá nên mất chơn". Lưu Trọng Lư, người hăng hái đầu tiên nắm lấy ngọn cờ thơ mới, cũng là người đề cao nhất sự thành thực của lớp người mới, lớp thi nhân mới. Nhận xét về tập Thơ thơ của Xuân Diệu, ông viết: "Thơ Xuân Diệu "tây" nhưng mà có lẽ "tây" một cách thành thực. Mà khi nói đến thành thực, người ta không có quyền bĩu môi" (Đọc "Thơ thơ" của Xuân Diệu, 1939). Viết về các bậc đàn anh trong làng văn (Phan Khôi, Tản Đà), ông mạnh dạn: "Đây chỉ là những ý nghĩ rụt rè của một thanh niên đối với các bực đàn anh, những ý nghĩ rụt rè, chập chững, nhưng vẫn tin ở mình, vì tin ở lòng thành thực. Đây chỉ là những lời thành thực, vì nếu có tội ấy cũng chỉ vì quá thành thực" (Các bậc đàn anh, 1939). Nói đến trường hợp André Gide với hai cuốn sách Retour de lõURSS và Retouches au retour de lõURSS, ông dũng cảm bảo vệ cho nhà văn hào Pháp: "...có điều này ta phải hiểu cho tiên sinh, là những lời tố cáo trong hai cuốn sách ấy, vẫn như xưa nay, từ một con đường ấy, mà lại con đường thành thực. Sự thành thực của Gide đã biết bao lần chứng thực, không còn phải là một điều mà người ta có thể đưa ra ngờ vực được, hay đưa ra mà nhạo báng được. Nó phải là một vật thiêng liêng, làm cho kẻ chiến sĩ đi ngang qua phải hạ khí giới và tất cả mọi người phải cúi đầu" (Con đường riêng của trí thức, 1939).
Thành thực nên thẳng thắn. Khi sáng tạo cũng như khi tranh luận, dám hết mình, dám đi đến tận cùng mọi suy nghĩ, cảm xúc. Nói và viết không phải vòng vo, che chắn, không sợ xuyên tạc, bóp méo. Thành thực nên tin tưởng. Tin ở những điều mình nói, tin ở người khác hiểu mình. Bầu khí hậu văn học 1932-45 là như thế - khí hậu thành thực. Không được nuôi dưỡng trong bầu khí hậu đó, tôi chắc, văn học thời ấy đã không có được thành tựu rực rỡ để lại về sau như đã có.
2. Hoài Thanh vào nghề văn trong bầu khí hậu thành thực của thế hệ mình, của thời đại mình. Ông nhiệt thành say mê Thơ Mới, ngoài khoái cảm cái hay cái đẹp của văn chương, còn đồng cảm nỗi niềm tâm tình của cả một thế hệ thanh niên cùng thời. Ông viết cho mình và thế hệ: "Tình chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng phải đổi mới vậy. Cái khát vọng cởi trói cho thi ca chỉ là cái khát vọng nói rõ những điều kín nhiệm, u uất, cái khát vọng được thành thực. Một nỗi khát vọng khẩn thiết đến đau đớn" (Một thời đại trong thi ca). Ông có hẳn một bài viết nhan đề Thành thực và tự do trong văn chương (1939) có thể coi như một tuyên ngôn, một định hướng cho con đường văn nghiệp của mình. Ông nhận thấy: "Văn chương ta từ trước tới nay vì bó buộc quá đỗi nên luôn luôn đi bên cạnh sự giả dối, sự bịa đặt. Nhà văn chỉ lo viết thế nào cho đúng với lẽ phải của xã hội mà không cần đúng với sự thật hiển nhiên. Văn chương thành ra một cái để dối mình và dối người". Từ đó ông coi thành thực và tự do là "một điều kiện cốt yếu để gây nên nền văn chương phong phú". Nhưng thành thực trong văn chương không phải ai cũng có được, "nó khó hơn cái điều người ta vẫn thường gọi là thành thực". Theo ông: "Phải là người có tài mới có thể đi vào những chỗ cùng sâu trong cõi lòng, vạch ra những cái kín nhiệm uất ức rồi đưa phả vào những âm điệu hồn nhiên. Những âm điệu ấy đến tai người đời, người đời sẽ giật mình không ngờ người ta có thể thành thực đến thế". Như vậy theo Hoài Thanh làm văn chương phải thành thực và muốn thành thực được phải có tài. Suốt quãng đời cầm bút phê bình văn học thời kỳ 1932-45 Hoài Thanh đã nhất quán với tâm niệm này. Nó đã khiến ông lao đao khi đó, đau khổ sau này, nhưng đến nay tôi có thể nói: Hoài Thanh đã đúng vì sự thành thực của mình.
Hợp tuyển Thi nhân Việt Nam (1942) đã xây đài vinh quang cho Thơ Mới, qua đó làm nổi lên cái tên Hoài Thanh. Ông thành công làm được tập đại thành cho một phong trào thơ đã tạo ra "một thời đại trong thi ca" là do "tôi cứ là tôi vậy", do ông đã "cố lấy hồn tôi để hiểu hồn người". Khi viết lịch sử phong trào Thơ Mới ông không sao giấu được những vui buồn theo ngòi bút hiện trên trang giấy. Hãy nghe ông "nhỏ to" giải thích: "Tôi đã sống trong lòng thời đại. Kể lịch sử thời đại làm sao có thể không nhớ lại những năm vừa qua trong đời tôi. Cũng như nói về các nhà thơ tôi thích, làm sao lời nói của tôi không đượm chút bâng khuâng lúc xem thơ". Sự vô tư, thành thực này rồi ra sẽ làm khổ ông một thời gian dài, sẽ day dứt bám theo ông mãi đến hết cuộc đời, khi Thi nhân Việt Nam bị đặt dưới một hệ quy chiếu khác với hệ quy chiếu của ông: "khi xem thơ tôi chỉ biết có thơ". Ông đã thành thực yêu thơ mới và đã thành thực phủ nhận thơ mới. Ông đã coi cuốn sách của mình và người em làm ra là một chút "của tin", nhưng ông cũng đã lại phê phán nó một cách quyết liệt, nghiệt ngã. Hai cái sự thành thực này nên hiểu thế nào? Ông, người đã cự tuyệt sự giả dối ngay từ độ tuổi "tam thập nhi": "Nghe thế nào, thấy thế nào, ta cảm xúc, ta suy nghĩ thế nào, ta sẽ cứ thế mà viết lên mặt giấy. Nếu ta có tài thì tác phẩm ta sẽ sống, bằng không chẳng có sự bày đặt gì, chẳng có phép tắc gì thay được sự bất tài của ta. Hai chữ thành thực ta sẽ cho nó một địa vị danh dự trong quan niệm văn chương". Thi nhân Việt Nam thành công, có giá trị là do ở thành thực và tài năng của Hoài Thanh. Cái bi kịch của ông là bi kịch tự nhận thức của con người. Cuối đời ông sẽ lại thành thực như chính chất con người mình trong lời tâm sự gửi gắm với người con cả rằng: "Cha biết văn chương của cha cũng vậy vậy thôi. Nếu không có cuốn Thi nhân Việt nam thì không chắc gì người ta đã công nhận cha thực sự là một nhà văn". Tôi nghĩ cả trong những dũng cảm và yếu đuối trên đường văn, Hoài Thanh bao giờ cũng thành thực. Nhưng cuốn hợp tuyển Thơ Mới khẳng định một phẩm chất đáng quý của Hoài Thanh: tin những gì mình cho là đúng. Bởi lùi lên trước đó năm, sáu năm sự thành thực của ông đã được thử thách, kiểm nghiệm qua cuộc tranh luận với Hải Triều.
3. Cuộc tranh luận "Nghệ thuật vị...", bây giờ nhìn lại, ở độ lùi hơn sáu mươi năm sau, cho thấy Hoài Thanh (và các bạn hữu của ông) đã bị thành nạn nhân của sự thành thực của mình. Trên cơ sở tư liệu các bài viết tham gia tranh luận hồi ấy được sưu tầm, tập hợp lại thành sách trong thời gian qua (ở đây phải ghi công cho nhóm Nguyễn Ngọc Thiện đã để nhiều công sức sưu tầm, biên soạn cho ra được nhiều cuốn sách tư liệu quý như Nhìn lại cuộc tranh luận nghệ thuật 1935-1939, Tuyển tập phê bình văn học Việt Nam 1900-1945, Tao Đàn, đặc biệt là hai cuốn của Hoài Thanh: Bình luận văn chương, Văn chương và hành động), với thái độ khoa học nghiêm túc, tôi thấy đã đến lúc phải "minh oan" cho Hoài Thanh. (Điều này tôi đã có đề cập đến phần nào trong bài tham luận Hải Triều nhìn từ hôm nay viết nhân hội thảo kỷ niệm 40 năm mất Hải Triều (1954-1994) nhưng chưa được công bố).
Trước hết phải nói ngay là không có phái "nghệ thuật vị nghệ thuật" hiểu theo nghĩa một tập hợp người chủ đích theo cùng một chủ trương. Bên phái "nghệ thuật vị nhân sinh" có chủ trương và tập hợp. Đầu tiên là Hải Triều phản bác lại cái quan niệm văn học của Thiếu Sơn khi đọc ba bài viết của ông này đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy. Tiếp đến Hải Triều lại tranh luận với Thiếu Sơn quanh việc phê bình tác phẩm Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan. Hải Triều cho những quan niệm của Thiếu Sơn là "nghệ thuật vị nghệ thuật" và ông xướng lên hẳn thuyết "nghệ thuật vị nhân sinh" để chống lại. Dần dần vây quanh ông có cả một đội ngũ: Hải Thanh, Hải Khách, Hồ Xanh, Lâm Mậu Quang, Phan Văn Dật, Phan Văn Hùm, Bùi Công Trừng, Cao Văn Chánh... Kịp đến khi có bài viết của Hoài Thanh nói lại bài của Hải Triều về cuốn Kép Tư Bền thì đội ngũ "nghệ thuật vị nhân sinh" bèn kết thành một "chiến tuyến hợp nhất" chĩa mũi nhọn công kích vào ông, nâng ông lên thành chủ soái của cái gọi là "nghệ thuật vị nghệ thuật" để phê phán một cách nặng nề. Hoài Thanh một mình chống đỡ, sau có sự góp sức thêm của Lưu Trọng Lư và Lê Tràng Kiều, cả ba người rốt cuộc đã phải lập thành văn phái Phương Đông để đối phó lại những đòn đánh của phái bên kia, nhưng họ kiên quyết phản đối việc bị gán cho là chủ trương thuyết "nghệ thuật vị nghệ thuật".
Một tác phẩm ra đời được khen chê phê bình là chuyện thường tình. Mỗi nhà phê bình tùy quan niệm nghệ thuật, tùy cái "gout" riêng của mình mà nhìn nhận, đánh giá tác phẩm dưới từng góc độ khác nhau, đó cũng là chuyện thường tình. Tập truyện ngắn Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan ra đời năm 1935 được hoan nghênh, thu hút được sự chú ý của các nhà phê bình. Hải Triều thấy ở đó "một tác phẩm thuộc về cái triều lưu "nghệ thuật vị nhân sinh" ở nước ta", bởi vì đọc nó độc giả "các ngài sẽ thấy trong xã hội một số đông người phải bán thân nuôi miệng, hoặc các ngài sẽ thấy những đứa bé cùng khốn quá, quyết ăn lường để chịu đấm, hoặc các ngài thấy một giai cấp đủ ăn, đủ mặc chực mua cái cười vui bên cái sầu cái khổ của kẻ nghèo khó". Hoài Thanh thấy sức hấp dẫn của tập truyện ở chỗ khác: "Công chúng thích tập truyện ngắn Kép Tư Bền không phải thích xem những chuyện họ vốn thừa biết từ bao giờ mà thích những câu văn ngộ nghĩnh, có ý tứ mà Nguyễn Công Hoan đã khéo lắp vào trong những cốt truyện không có gì. Người ta xem một quyển truyện chứ có phải một thiên phóng sự đâu?". Bài viết của Hoài Thanh có cái nhan đề cũng thẳng thắn, thành thực như bài của Hải Triều: Văn chương là văn chương. Đã thế đọc vào hai bài thấy cách hiểu văn chương của hai ông có thể bổ sung cho nhau, không nên xem nhẹ quá hay nặng quá một mặt nào trong thể thống nhất hữu cơ của tác phẩm văn học. Huống nữa Hoài Thanh đã viết có cân nhắc ý tứ: "Nhà văn là một người sống giữa xã hội, cố nhiên phải tùy sức mình làm hết phận sự đối với xã hội, tôi muốn nói nhà văn có lúc phải biết bênh vực kẻ yếu, chống lại với sức mạnh của tiền tài, của súng đạn; nhưng trong lúc đó nhà văn không làm văn nữa mà chỉ làm cái phận sự của một người cầm bút mà thôi. Ta nên nhớ rằng cầm bút chưa phải là viết văn. Văn chương là vật quý có đâu được nhiều thế". (Mở một cái ngoặc ở đây: bây giờ ta nghe kêu ca nhiều người viết mà ít tác giả, sách ra nhiều mà ít tác phẩm, càng thấy quý cái sự quý trọng văn chương của Hoài Thanh hơn sáu mươi năm trước, khi ấy ông chưa đến ba mươi tuổi. Và tình trạng thiếu chuyên nghiệp hóa của văn học ta giờ đây là điều đáng lo. Đóng ngoặc). Như vậy bài viết của ông chỉ tập trung vào một luận điểm cơ bản: văn chương muốn gì thì gì, trước hết nó phải là nó đã; văn chương mà bất thành văn chương thì có khoác cho nó bao nhiêu sứ mệnh, nhiệm vụ cũng thành là vô ích. Nói theo cách nói hiện đại thì mệnh đề của Hoài Thanh là: sứ mệnh của văn chương chính là bản thân văn chương. Hải Triều có lẽ do yêu cầu của hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, do nhận thức triết học nghệ thuật của chủ nghĩa Mác vào Việt nam thời bấy giờ, do sự hăng hái đấu tranh thời bấy giờ đã vô tình đẩy đồng minh sang bên kia chiến tuyến từ một cuộc tranh luận văn chương. (ho phép tôi được có một liên hệ cá nhân: năm 1994 ông Trần Mạnh Hảo trong một bài viết tranh luận với tôi về đổi mới thơ, nhân nói đến kinh nghiệm thơ Bắc thơ Nam trước 1975, đã hạ một câu buộc tội tôi "giật lá cờ máu của thơ ca kháng chiến trao vào tay phía bên kia"; mới hay trong tranh luận văn chương người ta dễ thành thực không vô tư đến thế nào). ý kiến của Hải Triều có phần đúng nhưng đúng một cách cực đoan và máy móc. Ông đã "mượn cớ" (chữ dùng của người làm sách các bài viết về văn học nghệ thuật của Hải Triều) văn chương để làm chính trị, ông đã đẩy vấn đề từ nghệ thuật sang chính trị. Ông buộc cho Hoài Thanh đã xướng lên cái thuyết "nghệ thuật vị nghệ thuật"; quá hơn nữa, ông vu cho Hoài Thanh làm thế là để bênh vực cho giai cấp giàu sang. Hoài Thanh phút chốc từ một nhà phê bình văn học thiên về những cảm giác tinh tế, nhẹ nhàng, bị biến thành nạn nhân và bị cáo trong một "vụ án" sẽ kéo dài hơn nửa thế kỷ. Tôi hiểu vì sao một con người nhỏ nhẹ, ôn hòa như ông đã phải phát khùng lên trong bài viết trả lời những sự cáo buộc của phái "nghệ thuật vị nhân sinh": Chung quanh cuộc biện luận về nghệ thuật: một lời vu cáo đê hèn.
Tập sách Văn chương và hành động của Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều, Lưu Trọng Lư xuất bản năm 1936 vừa ra đời đã bị thực dân Pháp tịch thu - đó là một bằng chứng cho thấy ông và bạn hữu đứng về phía ai khi hoạt động văn học. Nhưng bằng vào những bài viết của ông trên báo chí công khai thời 1936-39 ta thấy Hoài Thanh không hề chủ trương văn học chui vào tháp ngà, xa rời cuộc sống, quay lưng lại nhân quần. Ông kêu gọi "Cần phải có một thứ văn chương mạnh mẽ hơn" (Tiểu thuyết thứ bảy, số 39, 1935), vì theo ông, văn chương ta từ trước tới nay là một thứ "văn chương đàn bà", chỉ ưa những tình ý nhẹ nhàng, yếu đuối. Văn chương phải mạnh mẽ để "giúp người ta phản động lại với hoàn cảnh cùng bẩm thụ tự nhiên". Người đọc công tâm và thành thực có thể nào lờ đi câu này của Hoài Thanh: "Văn chương có ảnh hưởng lớn vì văn chương hun đúc phần tinh thần người đời. Văn chương - tôi không nói văn sĩ - không có quyền luôn luôn ở trên mấy tầng mây cao thẳm, lãnh đạm ngắm những cảnh phong ba dữ dội ở đời". Đó chẳng phải Hoài Thanh gắn rất chặt văn chương với cuộc sống hay sao? Ông "xin mách các nhà văn một nguồn văn" ở xứ thôn quê (Tiểu thuyết thứ bảy, số 83, 1935). Ông nhận thấy tuy phạm vi của văn chương đã có mở rộng, không còn quanh quẩn trong khuê phòng nơi cung cấm mà đã vươn tới những cảnh ngộ xa hơn bên ngoài, nhưng "các nhà văn chưa nói đến người dân quê mấy, trong văn nghệ hạng người chân lấm tay bùn chưa có một cái địa vị quan trọng xứng đáng với cái địa vị của họ trong giữa xã hội Việt Nam". Nguyên nhân theo ông "phần vì trong đám nhà văn không có mấy ai là dân quê, tôi muốn nói những người sinh trưởng ở nhà quê và hằng sống ở nhà quê. Một cái lẽ nữa, lẽ này quan hệ hơn, là dân chúng xem văn phần đông đều ở thành phố, ít ưa nghe chuyện nhà quê". Thiết nghĩ, điều ông nói đây còn mang tính thời sự cho văn chương nước nhà hiện nay. Cái phần Hoài Thanh mách cho các nhà văn khai thác trong nguồn văn nhà quê là phần dị đoan, hiểu là tâm linh con người nông dân Việt Nam. Ông lấy làm tiếc cái mạch Văn chiêu hồn của Nguyễn Du không được ai tiếp nối: "các nhà văn ta thường quá thiên về trí mà ít hay tìm những cảm giác, những tính tình thâm thiết trong tâm linh của chủng tộc... E rằng lúc nhà văn ta biết tìm đến thì vì sự tiến hóa của dân tộc mà sẽ chậm quá mất rồi". Điều này đâu có trái với bình dân để Hải Triều nỡ nặng lời gọi ông là "văn sĩ phú hào"?
4. Ngay từ khi đặt chân vào nghiệp phê bình văn chương, Hoài Thanh đã xác định: "Phê bình và nghệ thuật cùng một mục đích, một tính cách: cái đẹp. Tìm cái đẹp trong tự nhiên là nghệ thuật, tìm cái đẹp trong nghệ thuật là phê bình". Nhà văn và nhà phê bình đều cần phải có một tâm hồn giầu tình cảm biết rung động trước cái đẹp. Cái khó ở đây là rung động một cách tự nhiên: "Chúng ta phần nhiều đều mang nặng những thành kiến, những tập quán, do hoàn cảnh, do sách vở tiêm nhiễm từ lâu, phán đoán vì thế thường có vẻ chênh lệch". Cãi lại phái Hải Triều, ông nhất quyết không nhận chủ trương thuyết gì cả, bởi vì "trong lúc bình phẩm một quyển sách tôi chỉ theo những cảm xúc tự nhiên của tâm trí tôi". Mỗi người có một cái "tạng" riêng, "tạng" của Hoài Thanh trong phê bình là trực giác, ấn tượng. Ông rất tự tin vào cảm xúc tự nhiên của mình, và thường là ông đúng. Sau này khi phải lấy trí để xét cảm trên những vấn đề văn học của một thời, ông đã bị ở vào tình thế "lúng túng như gà mắc tóc" giữa sự gay gắt thái quá bên ngoài và sự nhân nhượng rụt rè bên trong. Có thể thấy điều này qua thái độ của Hoài Thanh đối với hai câu thơ của Xuân Diệu: "Mây biếc về đâu bay gấp gấp / Con cò trên ruộng cánh phân vân".
Trong Thi nhân Việt Nam ông đã có lời bình nổi tiếng: "Từ con cò của Vương Bột bay lặng lẽ với ráng chiều đến con cò của Xuân Diệu không bay mà cánh phân vân, có sự cách biệt của hơn một ngàn năm và của hai thế giới". Thời gian nước chảy qua cầu. Trải bao thăng trầm thế sự lòng người, hai mươi năm sau (1963) trong một đoạn ghi được gọi là tùy bút trong sổ tay, Hoài Thanh nghĩ đi và nghĩ lại về "cánh cò phân vân" ấy như sau: "Cái băn khoăn trong hai câu thơ của Xuân Diệu là một cái băn khoăn không đúng nhất là vì nó đã được tô điểm thành lý tưởng thẩm mỹ đã trở nên một thứ băn khoăn rất nên thơ, một thứ băn khoăn không cần giải quyết, không nên giải quyết. Hình như giải quyết được thì sẽ mất mát đi một cái gì. Câu thơ do đó có thể gieo vào lòng người một thứ u buồn không lối thoát và không muốn có lối thoát giữa lúc bao nhiêu trách nhiệm lớn đang chờ đợi người ta. (sic! lời quan tòa buộc tội!). Dầu sao đây cũng là một niềm băn khoăn có thật và xét cho cùng một thanh niên trước đây bước vào đời mà có chút băn khoăn như thế cũng còn hơn là không băn khoăn gì hết hay chỉ băn khoăn làm sao cho có tiền tài, có địa vị dưới chế độ thực dân. Cho nên cái băn khoăn ở đây không thể nói là hoàn toàn không có phẩm chất. (sic! lời trạng sư bào chữa!). Riêng tôi vẫn thấy yêu những câu thơ ấy hơn là những câu cũng gọi là thơ mà nhạt nhẽo trống rỗng, không có lấy một chút tâm tình". Đến đây đang từ quan tòa, trạng sư, ông vụt trở lại bị cáo với câu răn mình đầy bất ngờ: "Cố nhiên yêu mà phải có đề phòng, có cảnh giác".
Ông cảnh giác, đề phòng vì sợ lại sai về tư tưởng. Đoạn tùy bút nói trên nằm trong chuỗi suy nghĩ của Hoài Thanh về thơ hay. Nhận thức của ông đã cao hơn, sâu hơn, một bài thơ hay giờ đây theo ông là phải hay cả về tư tưởng, cả về nghệ thuật: "Hay về nghệ thuật là có khả năng truyền cảm. Hay về tư tưởng là chứa đựng những xúc cảm, những tình cảm lành mạnh, đúng, có phẩm chất cao". Nhưng tận sâu trong quan niệm nghệ thuật, Hoài Thanh vẫn không từ bỏ tín niệm của mình: thơ trước hết phải là thơ đã, thơ hay phải là hay về thơ. Trong một đoạn tùy bút khác, ông viết: "... Thơ tầm thường, thơ vulgaire thì không thể gọi là thơ, lại càng không thể xem là thơ tiến bộ. Tư tưởng tiến bộ không nhất thiết lúc nào cũng được thể hiện thành thơ. ở rất nhiều người là như vậy... Điều đó không có gì là lạ. Còn một tiếng thơ dầu có phần lạc điệu nhưng nếu chân thành (sic!), nếu được thốt lên từ đáy lòng một con người lương thiện thì vẫn có thể nên thơ". Cuối cùng Hoài Thanh vẫn trở lại là Hoài Thanh.
5. Thế hệ văn học 1932-45 là một thế hệ thành thực. Văn chương của họ là thành thực. Khát vọng thành thực đã chắp cánh cho sáng tạo của họ, quan trọng hơn, đã giúp họ sống. Hoài Thanh đã sống cái thành thực đó của thời đại mình, với đủ sự hay dở vinh nhục hệ lụy đa mang do/từ thành thực. Thành thực là tin yêu con người. Nguyễn Huy Tưởng ghi nhật ký tuổi thanh niên "Người là thật, phải thật với người". Lưu Trọng Lư, kiện tướng Thơ Mới, người bạn thân của Hoài Thanh, phút lìa cõi thế vẫn đau đáu: dẫu bị dối lừa, vẫn không thể không tin con người. Nazim Hitmek từ chốn lưu đày nhắn nhủ con: cha mong con trước nhất hãy yêu con người. Hoài Thanh viết trong nhật ký 1934: "Mỗi con người chúng ta - dù là con người tầm thường nhất - cũng tượng trưng cho một toàn bộ khó quan niệm những cố gắng của tự nhiên và của con người được theo đuổi không ngừng qua nhiều triệu thế kỷ. Chỉ riêng điều này có lẽ đủ để làm cho chúng ta xem xét tia lửa mà chúng ta mang trong người như là vô cùng quý giá và cuộc sống như là một cái gì vô cùng quan trọng". Bởi cao hơn văn chương là cuộc đời. Nói văn chương là văn chương cũng chỉ cốt làm cho cuộc đời đẹp hơn, tốt hơn mà thôi. Nguyễn Công Trứ đã nói trước Hoài Thanh: "Dở duyên với rượu khôn từ chén / Trót nợ cùng thơ phải chuốt lời". Đã say men đời, men thơ thì có lầm lạc, vấp ngã cũng là thành thực. Tôi xin dâng một nén hương cho Hoài Thanh nhân 90 năm sinh của ông và thưa rằng: ông hãy bình tâm ở thế giới bên kia, trên cõi đời này Thi nhân Việt Nam "của tin còn một chút này" đã chứng cho thành thực và tài năng của ông trong văn chương rồi. Tên ông đã có găm trong sử văn học hiện đại và trong lòng người đọc tri âm, văn chương như thế là văn chương, ông hãy thỏa lòng.
Phạm Xuân Nguyên
■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■
Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách
Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập