A. Từ câu hỏi chung
Câu hỏi định hướng đến là: Người trí thức có trách nhiệm với đất nước không?
Câu hỏi đó còn tổng quát, nên có thể khai triển thành ra các câu hỏi sau:
1. Thế nào là trí thức? Trí thức Việt?
Ở nước ta, có một sự khác biệt rất lớn về thời gian. Nên có sự phân biệt chi tiết hơn:
a. Trong thời quân chủ: Nhà nho, kẻ sĩ, giới sĩ phu
b. Trong thời cận, hiện đại: Trí thức, chuyên viên
c. "Giao tình giữa văn chương và thời thế" ; " Nhà văn nói về chính trị: Vấn đề trí thức Việt nam"
- Nhà văn và trí thức : Có phải ai cầm bút víêt văn, làm báo, cũng là trí thức không?
- Chính trị, thời thế và cai trị, cầm quyền: có khác nhau không?
Khi đánh giá, phán đoán, nên tôn trọng bối cảnh lịch sử và thời gian.
(Phải chăng trí thức là một thái độ - phẩm tính, tạo thành nhân cách?)
2. Nếu cho trí thức có trách nhiệm với xã hội, đất nước:
a. Tại sao lại có trách nhiệm? Trách nhiệm đó từ đâu tới? Ai cho? Có được xã hội công nhận không? xã hội chấp nhận đến đâu?
b. Trách nhiệm đó là gì? Tiêu chuẩn ra sao? mức độ đến đâu? do đâu qui định xếp đặt? Có thay đổi theo thời gian? không gian không?
c. Các giới khác (ngoài trí thức) có trách nhiệm không? Khác?
- Trách nhiệm như thế nào? đến đâu? Ra sao?
- Khác biệt và có liên hệ như thế nào với trách nhiệm của giới trí thức?
(Trách nhiệm và tự do: phải có tự do, mới thể hiện được trách nhiệm?)
3. Có thể trả lời là không cho câu hỏi chủ đề được không?
a. Trí thức không có trách nhiệm gì với tư cách là trí thức
b. Hay có trách nhiệm nhưng không có gì đặc biệt - ai cũng như nhau, trí thức hay không à với đất nước
c. Nếu không nhận trách nhiệm, hay không có trách nhiệm đặc biệt, có còn là trí thức không?
(Xã hội là tập hợp, vậy trách nhiệm là tập thể ? chung và như nhau giữa trí thức và các giới khác?
Trí thức chỉ thực hiện được sứ mạng của mình trong tập thể đồng thuận?)
4. Phê phán trí thức Việt:
a. Tiêu chuẩn:
- Tính chất: Thái độ hay hành động?
- Đối tượng tác động: Chính trị? Xã hội?
b. Nếu nói về tư cách của trí thức Việt: có phải họ chỉ đi với kẻ cầm quyền? Là học trò học nửa vời của nước ngoài không? Tại sao?
c. Những người trí thức Việt đã làm được gì?
- Trong quá khứ?
- Trong thời chúng ta?
- Thất bại? Thành công? Theo tiêu chuẩn nào? Ra sao? Đến đâu?
- Tại sao thành công hay thất bại?
(Có phải họ hành động như lịch sử ghi lại là vì họ là trí thức không? Hay chỉ vì là người yêu nước, có ý chí, can đảm có thaí độ?)
5. Các câu hỏi trên sẽ có thể mở rộng ra, đưa đến:
a. Sự phân biệt các tầng lớp trong xã hội. Phân biệt như thế nào cho hợp lý trong xã hội VN?
- trên căn bản học vấn/khả năng suy nghĩ, thái độ? (trí thức/không trí thức)
- trên căn bản quyền lực? ? (kẻ cầm quyền/người bị trị)
- căn bản kinh tế ? (kẻ có ăn có mặc/kẻ khốn cùng)
- có cách phân biệt nào khác nữa không?
b. Tương quan giữa các tầng lớp trong xã hội, nhất là trong xã hội chúng ta, các lực lượng, tầng lớp xã hội, các bộ phận của nó tác động nhau ra sao? Tính chất các tác động ra sao? Tại sao?
c. Vai trò của con người với xã hội mình sống, đất nước mình sinh ra? thời đại của mình? muôn ngàn năm sau?
d. Trong xã hội chúng ta: Có ăn, có mặc > có học, trí thức + cầm quyền = có cơ hội tác động vào thời sự, xã hội. Tại sao cái phương trình đó? Có đúng không? Ở các nước khác (nơi chúng ta đang sống) ra sao? Có khác biệt? Tại sao ?
6. Cuối cùng - nếu tin vào trách nhiệm của trí thức: tin là có sự tác động từ giới trí thức vào xã hội và thời đại? Vậy:
a. Trí thức tác động như thế nào vào xã hội? thời đại, đất nước?
b. Từ vị thế nào:
- Có cần thiết là phải ở trong vị thế cầm quyền không? (phải tham chính?)
- Có phải ở trong các tổ chức kết hợp không? (phải lập đảng, hội?)
- Có phải ở trong vị thế cầm bút không? (phải viết văn, làm báo, "toạ đàm"?)
c. Tri thức và quyền lực? Quyền lực tác động vào trí thức?
Lợi và danh, chuyện tự nghìn xưa?
Trí thức bị tha hoá, mất gốc, vong thân là thế nào? Ra sao? Vì đâu ?
(Liên hệ đặc biệt? Trí thức bị quyền lực thay đổi? Văn chương bị chính trị vây toả?)
7. Làm gì? Làm được không? Tương lai?
Những nhận xét cá nhân, chủ quan:
a. Trong tôn giáo, người ta rao giảng (những niềm tin, giáo điều) trong chính trị, người ta tuyên truyền (cho các chủ nghĩa, chính sách), trong thương mãi, người ta quảng cáo (cho mọi thứ có thể bán buôn có lời được).?Người trí thức làm sao để không rơi vào những bẫy, các "mê hồn trận" đó?
b. Tại phương Tây, Bertrand Russell (1872-1970), J. P. Sartre (1905-1980), Noam Chomsky... là ai? Có thể học được gì ở họ?
(Ngày hôm nay, ở nước ta, có ai là trí thức? Khả năng thật sự ra sao?
Họ có thể đóng vai trò giáo dục đồng bào, chỉ đạo hay soi đường cho dân tộc được chưa?
Trước các vấn đề của đất nước, đâu là lời giải của họ? Giá trị?
Nếu được tham chính, cầm quyền, họ có đảm đương được không? Triển vọng ra sao?)
B. Đến những trả lời riêng
Từ vốn sống và vốn học riêng, mỗi người trong chúng ta sẽ đưa ra những lời đáp khác nhau. Trả lời được hay không, ít hay nhiều, các câu hỏi trên sẽ còn quay trở lại, đặt lại. Tìm kiếm lời đáp là một hành trình dài. Trong lúc này, vì suy nghĩ trước các câu hỏi chung, nên các lời đáp khác nhau sẽ soi sáng lẫn nhau. Đó là ý nghĩa của sự trao đổi. Làm giàu có chung cho tất cả chúng ta tham dự vào cuộc thảo luận này.
Khi tìm cách trả lời các câu hỏi trên, mỗi người sẽ có lời đáp riêng, sẽ đưa ra những phân tích cá nhân. Lời đáp đó của mỗi cá nhân cũng lại sẽ có thể thay đổi vì ở mỗi chúng ta, qua các chặng đời khác nhau, mỗi biến chuyển sống khác lạ... lại mở ra những kiến thức, kinh nghiệm giàu có hơn, dồi dào hơn. Dù kết luận có giống nhau, nhưng nếu đến từ những chủ đích khác nhau, sẽ hướng đến những hành động khác nhau.
Sau nữa, lời đáp chỉ là phần ngọn, cái gốc của nó là các dữ kiện biện minh, cách cấu kết lý luận mới là chủ yếu. Nếu chúng dựa trên những dữ kiện sai lạc, không tề chỉnh, thiếu thông quán, giá trị hướng tới là hành động sẽ không có. Vì suy nghĩ để hành động. Vậy suy nghĩ không thấu đáo hết mọi lẽ, hành động sẽ nửa vời. Nếu nói không hết lẽ, làm sẽ không đến nơi đến chốn.
C. Nhưng trên cơ sở của suy tưởng, lý luận
Chúng ta nên trả lời ra sao đây? Các ý kiến, giải đáp thường dùng những dữ kiện từ lịch sử((1) để phân tích, hay dựa vào các dẫn chứng từ sinh hoạt văn hoá, xã hội((2) để suy diễn, phê phán. Nếu dữ kiện đưa ra không chính xác, không hiển nhiên(3); các phê phán, nhận xét sẽ sai lạc(4); Các dẫn chứng nên chính xác(5), các suy diễn nên hợp lý(6), nếu không, tư tưởng sẽ mơ hồ, khó hiểu(7). Như thế, ý kiến khó được chấp nhận.
Đằng sau các phê phán cũng thường là những cách nhìn, chỗ đứng. Khi chúng ta nói điều này tốt, việc kia ích lợi, sự kiện này hơn hay kém sự kiện kia? Tốt cho ai? Ích lợi theo thước đo nào? Hơn kém trên các giá trị nào? Các giá trị đó có được chấp nhận từ các phía đối ngược không?
Nếu cách nhìn không phổ thông, hướng nhìn thiếu hợp lý hay chỗ đứng để lập luận không vững chãi, và tất cả không thuần nhất. Sự phê phán thành thô thiển(8). Lý luận thành không mạch lạc(9), hàm hồ, đi đến ngụy biện (? fallacies). Điều muốn trao đổi sẽ kém sức thuyết phục.
Cuối cùng nên có thái độ của người cầu học, thành thật, không nên nói những gì mình tưởng là biết, hay chưa biết. Lý trí là chỗ dựa để quan sát thận trọng, và đừng phê phán khi chưa hiểu rõ ngọn ngành.
Kiến thức ít, suy tưởng yếu là chuyện thường, ai mà có cho đủ? Nhưng không bắt buộc phải phán đoán trong vội vàng, như thế chỉ đi sâu vào các ngõ ngách của lầm lạc.
Có phải nhiều tai họa và tội ác trên quê hương chúng ta đã khởi đi từ các ngõ ngách của vô minh không?
lê quốc đạt
Toronto, 5/2001
1- "Khi Trung Hoa đã là Trung Hoa Dân Quốc -trí thức Trung Hoa đã miệt mài ngồi dịch sách - lúc đó trí thức Việt Nam vẫn còn chết chìm trong cái mớ "thi vân tử viết" của mình và triều Nguyễn còn trưng ra những nghi lễ nho giáo còn khắt khe hơn triều đình Bắc Kinh một thuở"(Phạm Thị Hoài). Có sự lẫn lộn về thời gian ở đây:
- Triều Nguyễn ở Việt Nam bắt đầu từ Gia Long lên ngôi (1802) còn Trung Hoa Dân Quốc hơn trăm năm sau mới thành lập (1912)
- Trung Hoa dịch sách dân chủ Tây phương trước Trung Hoa Dân Quốc rất lâu. Khang Hữu Vi (Kang Yu-wei 1858-1927) và Lương Khải Siêu (Liang Chi Chao 1873-1929) làm cách mạng "cải tổ Peking" (1897) ở cuối đời Thanh, không đợi đến thời Dân quốc mới dịch sách! Vì dịch sách trước đó nên mới có Dân quốc, còn sau dân quốc có dịch (thêm! người khác?) chắc bên Việt Nam, các trí thức đã đọc Rousseau, Montesquieu bằng tiếng Pháp rồi!
2- "Khổng Tử "chỉ" có đánh xe". Thật thế không? Hay chúng ta chỉ còn biết được những chi tiết không toàn vẹn như vậy? Gần hai nghìn năm xưa, sách không nhiều, lại chẳng còn bao nhiêu tồn tại đến nay. Trong những gì còn giữ được, sự việc ghi chép rất vắn tắt, nhằm chuyển ý hơn là chép lời. Đọc sách xưa có chỗ khác với đọc sách nay. Vin vào chi tiết nhỏ, có tính tương trưng đó, để phán đoán cả một sự nghiệp, dù có ý khôi hài, rồi đi đến phê phán cả một tầng lớp xã hội, e không khách quan, thiếu công bằng.
3- Phạm Quỳnh: trí thức xuất thân hoàn toàn "độc lập?" (PTHoài) Không phải ông làm báo bằng tiền của trùm mật thám Pháp Marty đấy sao? Phạm Quỳnh ra làm thượng thư để mà "hành cái đạo của mình (PTHoài)"? Tôi đọc sách chỉ nghe Phan Khôi gọi PQ là nhà học phiệt, còn Ngô Đức Kế gọi các điều PQ hô hào (về truyện Kiều chẳng hạn) là "tà thuyết" chứ không phải "học thuật", chưa biết PQ có "đạo" gì? Lớn đến đâu để đem ra "hành"?
4- So sánh Nguyễn Du và Nguyễn Tuân? Dù nhận ra Nguyễn Tuân "ngông nghênh, thách thức" (PTHoài) nhưng hai người khác nhau như kim cương và than đá! Một bên là Nguyễn Du. Một bên là chỉ là một nghệ sĩ tài hoa, nhưng nếu nói thêm Nguyễn Tuân lại phóng túng, khinh bạc, ít học, truỵ lạc, chắc cũng có người đồng ý. Nguyễn Tuân làm cán bộ văn hoá thừa hành, phục vụ cho hệ thống tuyên truyền của chính quyền đương thời, có lúc quỵ luỵ, có lúc vênh váo. E tự Nguyễn Tuân cũng không dám sánh mình với Nguyễn Du. Hay so sánh vì chung một chữ "hoài"? Vậy Nguyễn Tuân "hoài" cái gì? "Trung" với ai? Hơn nữa, Nguyễn Du "hoài Lê" vẫn là một nghi vấn văn học, một cách giải thích, chưa rõ chi tiết. (Hoài như thế nào? Hoài ai? Lê hay Trịnh? Tại sao?) Nguyễn Tuân là nhà trí thức?
5- "Cuộc chiến văn hoá - VN sẽ là địa bàn xung đột để chiến tranh thế giới lần thứ ba giữa Mỹ và Trung Quốc (PTHoài)". Trong Samuel P. Huntington, The clash of civilizations and the remaking of world order, Simon & Shuster, New York, 1996 - tạm dịch là "Sự xung đột giữa các nền văn minh và sự xếp đặt lại trật tự thế giới", tác giả cho rằng sau cuộc Chiến tranh Lạnh (cộng sản Nga, tư bản Mỹ), thế giới sẽ phân chia lại theo các khu vực văn minh (Tàu-Hán, Hồi giáo, Nhật, Chính thống giáo, ấn giáo, Ấu Mỹ) có thể tranh chấp với nhau, trước khi đi đến việc chấp nhận lẫn nhau và một nền văn minh chung. Tác giả xếp Việt Nam cũng như Korea vào khối Hán (Sinic) nhưng không có chỗ nào nói đến "chiến tranh thế giới lần thứ ba", Việt Nam là một điểm nóng cũng như Cashmir hay Trung Đông, nhưng cũng không có chỗ nào tác giả nói đến "địa bàn xung đột"!
6- "Học cái chữ của mình bằng cách hai lần đi qua chữ của kẻ thù" Có phải vì chữ Trời viết bằng "thiên" và "thượng" nên thành hai lần không? Nhưng khi học chữ "trời" không tiên quyết phải biết các chữ kia, cứ học thẳng ngay vào chữ đó cũng được, phân tích đến sau. "Phải biết cách ghép.." Không, học trò không cần phải biết cách ghép, chữ đã có sẵn, không phải mỗi lần ai học lại phải ngồi ghép! Nếu đếm cửa (chữ Hán), chỉ có một, không hai! Ngay cả học chữ Hán cũng vậy, mỗi chữ thường ghép từ hai, có khi ba chữ khác có sẵn... Có vì vậy mà gọi là qua hai, ba cửa đâu?
7- Khách quan, chủ quan! Hỏi "việc vì ai? do ai?" mà nước ta đáng buồn như vậy, Có hai câu trả lời? Một là do khách quan" (lịch sử, thiên nhiên)" hai là do chủ quan" (dân tộc, con người, văn hoá Việt). Có lẽ tác giả muốn nói ở ngòai và ở trong đối với con người. Ngoài là khách mà trong là chủ! Có lẽ hiểu như thế không sâu sắc lắm với khoa suy luận logic. Hơn nữa, lịch sử có thể là khách quan, ngoài con người được không? Thiên nhiên, ngoại cảnh được ghi chép và thu nhận qua lăng kính con người và là môi trường sống, có thể coi là sự nối dài của con người. Vậy có là khách quan? Đâu là trong? ngoài? Vậy lời đáp chỉ có một: con người Việt, với xã hội, văn hoá, lịch sử và thiên nhiên của nó. Không có hai, không có trong, ngoài, chủ, khách! Khái niệm logic hiểu quá đơn giản. Khách quan (objective) và chủ quan (subjective) là thuộc tính (attribute) cho một nhận xét, một quan sát, một lời đáp, là màu sắc cho một cái khác, nó không là tự nó. Lý luận trên những ý niệm mơ hồ.
8- Chữ Nôm, so với chữ Nhật "nó không thành công" (PTHoài). Thế nào là chữ viết "thành công"? Tôi nghĩ tác giả muốn nói chữ Nôm vì khó học nên không phổ thông, không được dùng? Chữ Nhật giản dị hơn nên được dùng rông rãi, nên "thành công"?
Trước hết, muốn giỏi chữ Nhật, cũng phải biết nhiều chữ Hán (kun) vì chữ nhật Kanji dùng chữ Hán. Tiếng Nhật đa âm (polysyllabic), lại dùng tiếng đơn âm (Hán) để ghi, họ lúng túng vô cùng! Cho nên ngoài kanji, họ phải tạo ra chữ kana (gồm hiranaga và katanaka ) Ngày nay khi viết, phải dùng cả ba hệ thống: kanji và hiranaga (viết) lẫn katanaka (in). Thực ra, họ cũng không hoàn toàn vui vẻ với chữ viết của họ đâu, có vận động bỏ lối viết theo chữ Tàu, chuyển sang lối viết khác dùng mẫu tự ghi âm, nhưng thói quen đã cản trở họ.
"Người Nhật đã tự động băng qua biển đến THoa khuân một ít văn hoá Trung Hoa, trong đó có chữ viết về nhà." (PTHoài). Các sách Nhật viết về họ ghi rằng vào khoảng 400 AD, các học giả Korea đem sách Tàu sang Nhật! Và từ đó người Nhật mới bắt đầu chính thức học chữ Hán! Họ học giỏi, tạo ra nhiều chữ mới, thí dụ "khoa học (kagaku)" hay "xã hội (shakai)" là tiếng Nhật! Truyền sang Korea, rồi sang Tàu, rồi về Việt Nam! Tác giả như chắc chắn chữ Nôm là công trình của giới trí thức, nên dựa vào đó để phê phán. Nhưng điều này cũng không rõ ràng, còn là nghi vấn. Chúng ta chỉ rõ có một điều là các nho sĩ dùng chữ Nôm, nhưng các công trình tạo lập (tạo ra chữ, sao chép, khắc in...) không hẳn là trong giới trí thức. Nếu có cũng chưa rõ phần nào? Bao nhiêu? Lúc nào?
Chúng ta có thể so sánh chữ Nôm với chữ Nhật được không? Một bên là công trình chết yểu, không toàn vẹn, còn dở dang (chỉ dùng trong sáng tác văn chương, không trong học thuật, khoa cử, triều đình, ngoài Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp ngắn ngủi), một bên là công trình sống, phát triển cho đến ngày nay. Chữ viết chỉ là dụng cụ để ghi lại tiếng nói, tư tưởng. Trong khoa ngữ học, không có khái niệm chữ viết "thành công". Tạo ra chữ viết riêng cho mình, thường là do các yếu tố lịch sử và địa lý, và không là mức đo trí tuệ sáng tạo. Các nước Ấu châu hiện dùng chữ cái Latin, cũng không hề tạo ra chữ viết của mình. Họ vay mượn từ các nước Cận đông (qua Greek, rồi Etruscan). Chữ viết truyền đi theo gót chân các đoàn lính viễn chinh, hay truyền giáo. Nước Korea, có chữ viết riêng với mẫu tự Hangul của mình, là do nhu cầu (dùng chữ Hán không xong) và vị trí địa lý của họ, ở một góc của Á châu, có Mãn Châu cách nước Tàuà Chắc không ai có thể nói là họ thông minh, sáng tạo "hơn" Nhật, hay Việt. Thái Lan mượn chữ viết của dân tộc bị họ đánh bại nhiều lần là Khmer .
Có chữ viết là dấu hiệu của phát triển tinh thần, đánh dấu sự tiến bộ về văn hoá. Con người đã có suy tưởng và kết hợp thành tổ chức xã hội đông dảo, trở nên có nhu cầu ghi chép và truyền thông. Chữ viết đánh dấu cái mốc quan trọng ấy. Chữ viết Việt, từ chữ cổ như người Mường (trước Bắc thuộc), đến chữ Hán (sau Bắc thuộc), rồi chữ quốc ngữ (cận đại), ba hệ thống khác biệt, do hoàn cảnh lịch sử mà ra đời, mất đi, hay tồn tại, nhưng ở thời nào, chúng ta cũng có chữ viết. Sau nữa, nội dung nó chuyên chở mới là quan trọng hơn. Chuyện chúng ta dùng chữ quốc ngữ hoàn toàn là do hoàn cảnh lịch sử, ngoài ý muốn của nhiều thế hệ trước. Các nhà truyền giáo Ấu châu đã dùng chữ viết và theo vần của họ để ghi âm tiếng Việt trong việc giao tiếp và giảng đạo cho người bản xứ. Họ không hề có ý định tạo ra chữ viết cho chúng ta! (Và cũng chưa tạo đến mức hoàn thiện!) Cũng như nhiều người Việt sang đến nước ngoài, đi học tiếng Anh, ghi âm tiếng Anh bằng chữ Việt! Các nhà truyền giáo ở Việt cũng thường là các nhà truyền giáo ở Macao, Thiên Tân chạy về, và cũng có trong dòng Jesuit. Nếu giỏi thì chắc là các nhà truyền đạo bên Tàu giỏi hơn, như Matteo Ricci nghiên cứu tinh thâm Nho giáo, vào kinh đô Nanking, rồi Peking đối thoại với các trí thức, danh sĩ, nho gia Tàu. Theo Phạm Thị Hoài, các nhà truyền giáo bên ta (so với bên Tàu) "có lòng khoan thứ"(?) Khoan thứ chắc không phải là kính trọng (Nếu có lòng kính trọng các tôn giáo khác thì chắc là không đi truyền giáo!) Hay khoan dung và rộng lượng? Họ đứng ở đâu mà có thể có thái độ như vậy? Đã "khoan (dung)" lại "rộng rãi (thứ)". Tại Tàu (Wade-Giles romanization) và Nhật, họ cũng ghi âm tiếng địa phương theo Latin, vì Tàu và Nhật không mất nước như chúng ta, nên chữ đó không có cơ hội được dùng.
Chữ quốc ngữ dễ học, dễ viết (cho người bình dân nghèo là đốí tượng của Thiên chúa giáo lúc mới sang nước ta) tiện cho việc dịch chép kinh thánh, lời cầu nguyện, nên sớm phổ thông trong nhà thờ từ thời phân tranh đàng Trong, đàng Ngoài. Nhưng phải đến thời thuộc Pháp, vì nhu cầu cai trị (thúc đẩy dân chúng đọc thông cáo, yết thị và báo chí tuyên truyền của nhà nước thực dân - Gia Định Báo, Đông Dương, Nam Phong) và tham vọng về chính trị, văn hoá: cắt đứt chúng ta với truyền thống văn hoá dân tộc (chữ đó, lúc ấy chưa chuyên chở tình tự yêu nước, không mang quá khứ dân tộc) lại dễ in, tiện phổ biến nên đựơc chính quyền thực dân đẩy vào giáo dục, cho thành phổ thông. Chỉ bắt đầu sang thế kỷ XX, từ Đông Kinh Nghĩa Thục, các nhà ái quốc Việt mới chính thức chấp nhận và hô hào việc học chữ quốc ngữ, bỏ chữ Hán, vì xem đó là lợi khí duy tân. Chữ quốc ngữ cũng còn nhiều điểm chưa toàn mỹ, nhiều chỗ có thể làm cho tốt đẹp hơn được. Trẻ nhỏ học đọc, đánh vần nhanh, nhưng "biết chữ mà chưa biết nghĩa". Đọc chữ "trời" mà chưa hẳn đã hiểu nghĩa, còn trong chữ Nôm, khi học được chữ "trời" cũng sẽ hiểu là gì!, hay "năm" nếu trong chữ Nôm, biết là số năm hay năm tháng (vì viết khác nhau). Chúng ta vẫn dùng các chữ Hán Việt (orthographic structure-pictoral) nhưng ghi âm Latin (linguistic structure-text). Lại dùng các dấu ghi âm (diacritic) theo Spanish và Portuguese, nên viết khó đọc, khó in, đánh vào máy... lại chưa thống nhất, hợp lý (i & y...)
9- Xem đoạn khai triển về "lý do chủ quan":
Theo dõi lý luận, khởi đi:
Chúng ta đội sổ, thua kém thiên hạ (a)
Chúng ta không tự tin (b)
(Vì) Chúng ta đội sổ, thua kém thiên hạ NÊN chúng ta không tự tin (c)
(a), (b) là nhận xét chủ quan, có thể chấp nhân, đồng ý, hay không đồng ý.
Trong kết luận (c), là suy diễn, đặt ra liên lạc (NÊN) giữa (a) và (b) không có cơ sở vững chắc vì giữa nghèo, lạc hậu và tự tin không có quan hệ tất yếu (có thể thua kém thiên hạ vì nghèo, lạc hậu, nhưng vẫn có thể tự tin)
Lý luận như vậy cũng giống như:
Tôi ăn bánh
Tôi đọc báo
(vì) Tôi ăn bánh nên tôi đọc báo (!)
Sau đó:
Chúng ta không tự phê bình (d)
Chúng ta (đội sổ, thua kém thiên hạ) không tự tin (c)
"Rõ ràng" là tự phê bình đòi hỏi một lòng tự tin lớn (e)
(d) là nhận xét tuy chủ quan, có thể chấp nhân, đồng ý ít nhiều
(c) chúng ta đội sổ, thua kém thiên hạ (NÊN) chúng ta không tự tin - câu này đã yếu từ trên. ?
Trong kết luận (e), liên hệ giữa tự tin và phê bình không được thiết lập vững chãi, vì cũng không có quan hệ tất yếu. Nên không rõ ràng dù tác giả có nói "rõ ràng"!
Đi thêm một bước nữa, nhận xét về dân tộc Đức và phê bình thành thừa thãi, nhạt nhẽo.
Tương tự:
Tôi đi chơi
Tôi (ăn bánh nên tôi) đọc báo
Rõ ràng là đi chơi đòi hỏi phải (ăn bánh) đọc báo nhiều (!)
Ông Đức đi chơi, nhất định là ông ấy đã (ăn nhiều bánh và) đọc báo nhiều lắm!
Các lý luận mỗi bước càng yếu đi. Sự thuyết phục cũng càng giảm đi.
Lại thêm thí dụ, như đoạn cuối: Trí thức VN mặc cảm
Vì sao? - Vì "thấy mình bé nhỏ trước các thành tựu văn hoá khác".
Dĩ nhiên đây là một nhận xét riêng của một người, là tác giả, nên chỉ mới có tác động mời gọi sự chấp nhận, chưa có tác động thuyết phục. Nên phải thêm kinh nghiệm riêng lẻ của mình: "Tôi thực sự chưa được chứng kiến một trí thức hay một văn sĩ Việt Nam nào có một lòng tự tin đáng thuyết phục khi họ đi ra nước ngoài." (PTHoài)
Giống như, có ai nói:
Chó không cắn chết người được đâu.
Không tin à? Tôi "thực sự" chưa thấy chó cắn chết ai bao giờ cả.
Người nói chắc rất tự tin, nhưng chưa hẳn có người nghe theo. Ai tin như thế, có ngày chết vì chó dại cắn!
lê quốc đạt
■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■
Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách
Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập