phỏng vấn
nhà thơ trần đăng khoa

phạm hoàng
thực hiện
đỗ quyên
cộng tác


 

"...Tôi sẽ gác bút

không quan tâm cái gọi là

phê bình nữa..."

 

Lời dẫn của Người thực hiện:

 

Lần này thì tôi gặp và hỏi chuyện "ông Cựu Thần đồng Thơ" trong dịp cùng dự Hội thảo "Văn hoá, Nghệ thuật và Truyền thông ở Việt Nam ngày nay" do Viện Tin lành Iserlohn (Evangelische Akademie Iserlohn), Đức, tổ chức từ 29-6 đến 01-07-2001. Cùng với nhà thơ Trần Đăng Khoa, có nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà báo Việt Nam đến từ Việt Nam và từ khắp nước Đức.

 

Khoảng năm 1977, là những người "lính văn hóa", tôi và Trần Đăng Khoa đã có đợt ở cùng nhau gần một tháng. Khi đó tôi là thiếu úy, còn anh hình như là thượng sĩ haytrung sĩ. Nay, trên 20 năm gặp lại, trước mắt tôi, anh đang ở hàm trung tá QĐND VN.

 

Phỏng vấn người nổi tiếng dễ làm mà khó hay. Họ mà "chiều" mình thì họ nương theo câu hỏi của mình; họ "tương" với mình thì câu hỏi có cũng như không. Chả sao, dẫu "chiều" hay "tương", với tên tuổi và tài năng đã có cái gì phát ra từ người nổi tiếng cũng dễ bắt tai, bắt mắt thiên hạ. Miễn là mình... sạch nước cản một chút! Song với nhà thơ quá nổi tiếng Trần Đăng Khoa này thì lại nảy ra chuyện khác: 4-5 năm nay, bỗng dưng, anh lại kiêm luôn một cái nổi tiếng nữa: về phỏng vấn. Với nghề phỏng vấn đã đạt đến mức nghệ thuật, anh mà "tương" thì không dễ gì chúng tôi có được cái hay hay để hầu tiếp độc giả của mình. Biết vậy, chúng tôi không tham vọng nhiều, chỉ muốn hỏi về: Các thông tin mới nhất quanh cuốn sách bình luận văn chương "Chân Dung và Đối thoại" - sự kiện đã làm anh "nổi tiếng lần hai" trong trường văn trận bút Việt Nam chừng 40 năm qua; Cái nhìn của anh về người Việt, nhất là về các văn nghệ sĩ, ở nước ngoài; Về chuyện... riêng tư của anh (vì anh còn khá nổi tiếng vì chuyện... muộn vợ!); Về các sự kiện văn hóa-văn nghệ trong, ngoài nước (Cái này thì tôi thủ sẵn khá nhiều, tính trong câu chuyện tiện đến đâu là dí ra đến đó! May, lần này cũng có được hai cái nặng kí: về tiểu thuyết "Chuyện kể năm 2000" của nhà văn Bùi Ngọc Tấn và về cuộc thảo luận trên Diễn đàn Liên mạng "Trí thức VN" do chúng tôi "bày bàn").

 

Vậy, mời Quý độc giả cùng vào hỏi chuyện Trần Đăng Khoa với chúng tôi, để thấy còn có nhiều cái bất thần khác mà chúng ta vớ được qua một môi miệng lém lỉnh và sắc sảo của làng văn Việt Nam hiện đại.

 


 

 

Phạm Hoàng (PH): Chào anh Trần Đăng Khoa. Trước hết cám ơn anh đã nhận lời phỏng vấn của chúng tôi.

Sau khi cuốn "Chân Dung và Đối thoại" của anh được xuất bản, nó đã trở thành một sự kiện với 8 lần tái bản và chúng tôi được biết là anh còn ra tập 2 của cuốn này. Nhưng sau lại thấy anh cho ra cuốn"Người thường gặp" (Ghi chép - NXB Thanh Niên, 2001), được báo chí giới thiệu như là cuốn nối tiếp của "Chân Dung và Đối Thoại" và cho đến nay cuốn đó đã tái bản lần thứ ba rồi. Chúng tôi, và chắc nhiều bạn đọc ở đây, chưa được đọc cuốn "Người thường gặp". Anh có thể cho biết sơ sơ về về cuốn đó?

 

Trần Đăng Khoa (TĐK): Tôi nghĩ người sáng tác cũng giống như anh thợ săn. Khi anh ta vác súng đi săn thì không thể nào biết trước là cái con thú nào sẽ chạy qua mũi súng của mình. Câu nói đó không phải của tôi mà là của ông Raxum Gamzatov, một người rất là có kinh nghiệm về sáng tác và ông cũng có một cuốn sách mà tôi xem như một cuốn lý luận về văn học, lý luận của người sáng tác. Đó là cuốn "Daghetxtan của tôi".

 

Tôi đã cho ra đời cuốn "Chân Dung và Đối Thoại" tập 1 cách đây 3 năm. Thực ra tập 1 mới chỉ là chạm đến một số vấn đề, phác hoạ một số tác giả và tác phẩm. Đó mới là một khúc dạo đầu thôi và sau đó tôi chuẩn bị cho tập tiếp theo. Nhưng trong khi đang chuẩn bị cho tập tiếp theo thì lại có những cuốn sách khác nó "gõ cửa" tôi, đòi cho ra đời trước. Đầu tiên chính là cuốn "Tuyển thơ Trần Đăng Khoa 1966-1999" với những bài thơ đầu tiên của tôi cho tới năm 1999 là năm cuốn này ra đời. Và cuốn tiếp theo là "Đảo Chìm" ra vào năm 2000. Đây là cuốn, cũng như "Chân Dung và Đối Thoại", tôi chỉ viết về những người thật, việc thật. Tức là những nhân vật, những sự kiện đều có thật mà tôi được chứng kiến, với những địa chỉ hết sức cụ thể và hiện họ vẫn đang còn sống. Tiếp theo là cuốn "Người thường gặp" vừa mới ra vào tháng Tư năm nay và cũng đúng như đã biết: hiện nay cuốn này đã tái bản lần thứ ba rồi. Lần đầu in là 5000 bản, lần thứ hai cũng số lượng như vậy và lần thứ ba là 2000 bản.

"Người thường gặp" đúng như cái tên của nó và tôi cũng đặt nó vào thể loại ghi chép. Đây không phải là giả vờ khiêm tốn gì đâu mà thực sự nó là ghi chép. Ghi chép những câu chuyện vụn vặt mà mình vẫn gặp hàng ngày. Nói tóm lại đây là một dạng mà tôi thử đưa ra về cách tiếp cận đời sống, tiếp cận sự việc; và tôi muốn mỗi cuốn sách phải có những phong cách khác nhau. Cuốn này tôi chia ra làm hai phần: Phần thứ nhất tập hợp khoảng hơn chục những bài viết rất ngắn, có bài chỉ khoảng 2 trang, bài nào dài nhất có 4 trang, đề cập đến những vấn đề mà bạn đọc hiện đang quan tâm, những bức xúc của đời sống. Tất cả những vấn đề mà tôi đưa ra cũng không mới mẻ gì, vì báo chí người ta cũng bàn đến rồi, chỉ có điều tôi viết theo cách viết của tôi, theo cái giọng điệu của tôi và ngay trong cùng phần này thì tôi cũng cố gắng để làm cho mỗi một bài có cách viết khác nhau. Có bài tôi viết như một truyện ngắn mini, có nhân vật, có đối thoại, có chấm phá một vài nét để làm sao ra người, ra cảnh, ra tình huống, ra ngôn ngữ của nhân vật. Có những cái tôi lại viết như một tản văn. Nói tóm lại, không cái nào giống cái nào. Phần thứ hai là những nhân vật cụ thể, những con người tôi đã từng được tiếp xúc, trong đó có những nhà báo, vị tướng, dũng sĩ trong chiến tranh, bà mẹ anh hùng, còn phần lớn là những người bình dị mà ta vẫn thường gặp hàng ngày. Cho nên tôi mới lấy tên "Người thường gặp".

 

PH: Thế nếu để độc giả tò mò muốn đọc cuốn sách đó thì anh có thể kể thêm gì về nó?

 

TĐK: Ở đây thì tôi viết rất nhiều về những con người bình thường, hết sức giản dị. Ví dụ như câu chuyện về con nuôi con đẻ chẳng hạn...

 

Có một ông già nhà quê chỉ mê cậu con nuôi vì cậu nuôi biết nịnh bợ, nói những "lời có cánh" đôi khi ngược hẳn sự thật. Còn cậu con đẻ đứt ruột ra thì toàn nói thật, nói tất cả những bệnh tật của ông, ví dụ như bệnh ông bị hôi miệng chẳng hạn, thì cậu ta nói ngay: "Đó là dấu hiệu của bệnh tật, bố phải đi chữa bệnh đi, con mua thuốc xúc miệng về cho bố đấy". Và rồi cậu ta còn dặn rất cụ thể: "Bố nói chuyện với ai thì bố đùng ghé sát vào mặt người ta, người ta kinh lắm đấy, người không nỡ nói ra thôi". Thế là ông cụ rất bực bội, ông nghĩ: "Thế hoá ra nó lại bảo mình là cái thằng thối mồm". Hay có lần cậu con trai tìm được một cây gỗ lim rất tốt và cậu mang về đóng ngay cho bố một cỗ hậu sự. Ở làng quê tôi người ta hay đóng cỗ quan tài sớm lắm, có khi bố mẹ vẫn còn sống đã để chềnh ềnh cỗ quan tài ngay trong nhà, khi bố mẹ vẫn còn khỏe thì cỗ quan tài để làm cái hòm để chứa lúa, đến khi chết thì "nhảy" vào cái quan tài đó. Trong làng tôi, ngày xưa, các cụ thường hay sắm trước cái cỗ hậu sự và chính ông bố này đã từng khen một cậu hàng xóm ở bên cạnh: "Cái thằng này có hiếu với bố nó quá, nó sắm cái cỗ quan tài mà trông cứ sướng cả mắt". Nhưng đến khi cậu con ông sắm cho ông một hậu sự bằng gỗ lim thì ông lại nói: "Thế ra là mày muốn chôn sống bố mày à!" Và thế là ông ta đuổi luôn cậu con ra khỏi nhà. Trong khi đó thì anh con nuôi lại suốt ngày ve vãn, khen nịnh ông: "Bố phải sống đến trăm tuổi là ít". Rốt cuộc là ông già từ đứa con đẻ của mình. Đến khi ông đổ bệnh rất nặng, cậu con trai phải bán hết cả nhà cửa đi để chăm cho bố. Cậu ta còn phải đến lạy lục ông con nuôi, đưa tiền của mình cho anh ta và nói: "Thôi thì tôi góp của, còn bác thì góp công, tôi mà về chăm sóc sợ ảnh hưởng đến sức khoẻ của ông cụ. Tôi biết là ông cụ rất quý bác. Bác cứ cầm lấy tiền của tôi và cứ coi như của bác để chăm sóc ông cụ". Khi cậu con đẻ bán nhà để lo cho bố thì người vợ run rẩy hỏi: "Bán mất nhà thì lấy ở đâu?", anh ta liền trả lời: "Trước mắt, ta nương nhờ ông bà ngoại. Chờ bố nguôi ngoai rồi thì về. Khi ông cụ quy tiên thì ta ở đó luôn, rồi còn hương khói cho cụ nữa chứ". Rốt cuộc thì vì không nghe lời nói thật của cậu con đẻ, chữa bệnh sớm, nên ông cụ đã chết. Đám tang làm rất to, linh đình, người đến viếng rất đông. Người ta bàn về cậu con nuôi. Có người thì cho rằng ông già tốt số, vớ được thằng con tốt quá, phương phi quá, tuyệt vời quá. Có người thì nói rằng lão con ấy là khôn ngoan quá, tự dưng không phải "tốn" một ông bố mà tổ chức được một đám tang rất linh đình và hốt về không biết bao nhiêu tiền của. Khi cậu con đẻ đến để trông nom hương khói ông bố, thì anh con nuôi mới "xỉa" ra một cái giấy: đó là giấy chuyển nhượng tài sản, trao toàn bộ nhà cửa cho anh con nuôi. Đến lúc đó anh con đẻ mới ngả ngửa, không ngờ bố mình lại ghét mình đến như vậy, tới khi chết rồi vẫn còn muốn đuổi mình ra khỏi nhà. Khi đó anh ta đành xin bác cả một ân huệ, đó là xắn lại cho anh một mét đất để anh có chỗ lập bản thờ, thờ bố...

 

Đấy, một cái chuyện thì nó như vậy. Đại để, toàn là chuyện có thật diễn ra trong làng xóm thôi. Tôi có rất nhiều những mẩu chuyện như thế. Hay một câu chuyện về "Người không quen ở nhà mình", kể về một ông giám đốc Sở Văn hoá vừa về hưu nhưng không làm sao quen nổi khi về nhà của mình. Ông vẫn đến cơ quan và gây ra rất nhiều phiền toái. Chỉ đến khi về hưu thì ông ta mới quan tâm đến cuộc sống của cấp dưới. Thôi, kể mãi thì lằng nhằng lắm, mà cũng chẳng đâu vào đâu, tốt hơn hết là hãy đọc nó!

 

PH: Với cuốn "Chân dung và Đối Thoại", cho đến nay đã được 3-4 năm và sau gần 300 trang của tác phẩm này đã có 3 quyển sách với hàng nghìn trang viết, bình luận về nó ở thái độ cả phản đối cả ủng hộ. Chúng tôi muốn biết với tư cách là tác giả, anh tự đánh giá về tác phẩm đó ra sao?

 

TĐK: Tôi nghĩ rằng mình chỉ biết tạo ra tác phẩm thôi còn việc đánh giá nó thì tốt nhất nên để cho độc giả họ đánh giá. Tôi nhận được rất nhiều thư của độc giả ở khắp nơi trong nước, của cả bạn đọc Việt Nam ở nước ngoài, cùng bàn về cuốn sách này. Trong đó có nhiều ý kiến góp ý mà tôi thấy sâu sắc. Còn xung quanh nó cũng rất nhiều bài viết bàn về nó. Việc cuốn sách hay hoặc dở thì tôi không bàn, hãy để cho độc giả và để cho thời gian nữa. Có những cuốn sách ra có thể ầm ĩ nhưng thời gian lắng đi thì trôi vào quên lãng. Có những cuốn sách ra rất khiêm nhường, rồi cuối cùng càng lùi về quãng thời gian thì nó lại càng sáng. Cái này Xuân Diệu nói rất giỏi, ông bảo là: Một tác phẩm ra đời giống như con thuyền mới xuống nước, nó cứ nhấp nha nhấp nhô theo những đợt sóng của những "làn sóng" của dư luận mang đầy mầu sắc cảm tính và đến khi giời yên bể lặng rồi thì nó sẽ nổi bằng đúng cái sức nổi của nó. Tôi nghĩ, tác phẩm của tôi, cũng như nhiều những cuốn sách khác, sẽ do thời gian và bạn đọc phán quyết. Tôi thì thấy mình đã làm được một việc này, một việc tôi nghĩ cũng có ích: Đó là tôi đã "rủ re", "lôi kéo" bạn đọc đến cái "sân" phê bình, mà cái "sân" này bấy lâu nay phải nói rằng rất là nghiêm trang và người ta ngại đến. Và thế là tôi đã rủ rê độc giả đến đó và đến khá là ồn ào, khá là vui vẻ. Tôi nghĩ mình làm được thế cũng tốt rồi, để thấy được một điều là bạn đọc không thờ ơ với văn học. Hoàn toàn không thờ ơ. Bởi vì đọc tôi có những học giả tên tuổi, giáo sư rất nổi tiếng và cũng có cả những bạn đọc rất bình thường. Thậm chí có cả những em bé đánh giày, những em bé cơ nhỡ đều đọc được, đến với tôi và tôi rủ họ vào cái sân phê bình. Việc còn lại, đấy là của các bác phê bình và tôi chỉ cầu mong làm sao các bác ấy có thể giữ được chân họ lại, đừng để họ quay đi.

 

PH: Nếu vì viết phỏng vấn, chân dung hay ghi chép này mà nhà văn-nhà báo Trần Đăng Khoa nổi tiếng hơn "cựu thần đồng thơ" Trần Đăng Khoa, thì anh dám đánh đổi không?

 

TĐK: Tôi nghĩ rằng hoàn toàn không có sự đánh đổi nào ở đây cả, vì tôi vẫn là một cái anh nhà thơ thôi. Bây giờ có ai sống được chỉ bằng một công việc của mình đâu, ngay cả các nhà thơ lớn ở trên thế giới người ta cũng viết nhiều thể loại lắm. Ví dụ như Puskin, ông là nhà thơ rất tuyệt vời, nhưng kịch của ông rất hay và văn xuôi cũng rất tuyệt tác. Đến Lev Tolxtoi cũng kính phục cái văn xuôi của Puskin và cho rằng chính ông là người mở đầu văn chương hiện thực của nước Nga. Người ta đánh giá ông rất cao. Ngay ở nước ta cũng vậy, Xuân Diệu không chỉ có làm thơ, ông còn viết cả bình luận, viết cả tùy bút, văn xuôi. Tất nhiên văn xuôi của ông cũng như một dạng thơ, đó là một kiểu của Xuân Diệu. Hay ngay như một nhà thơ mà chúng ta tưởng cả đời ông chỉ gắn bó với thơ là Nguyễn Bính chẳng hạn, thì té ra gần đây người ta mới biết ông viết rất nhiều truyện ngắn. Trong một tuyển tập làm cho các em học sinh đọc, chúng tôi có trích đến hai truyện ngắn của Nguyễn Bính.

Mỗi người đều làm thêm ngoài công việc chính của mình, vì có những cái hợp với thơ nhưng cũng có những cái thơ không thể chuyển tải được, thì phải dùng thể loại khác. Tôi nghĩ như vậy. Mà đấy là những nhà thơ lớn, những người có tài; còn tôi, tôi nghĩ là mình chỉ là người bình dị như những người bình dị ở khu phố tôi ở. Phố tôi ở là phố Lý Nam Đế, một phố của lính và từ xưa tới nay khu phố này nghiêm trang lắm. Tự dưng đời sống kinh tế thị trường ào đến một cái, thế là chỉ sau có một đêm thay đổi hẳn. Tất cả những ngôi nhà trước kia quay lưng ra đường một cách thơ ơ, lãnh đạm và khá kiêu kỳ thì bây giờ đều xoay hết trở lại. Mọi người đều đục một cái cửa và bày ra đấy một cái mặt hàng gì đó, người thì bán tủ lạnh, người thì bán quạt máy... Và khu phố trở thành một cái chợ khá đông đúc. Chủ những cửa hàng đó không phải là những vị thương nhân, đấy đều là những người lính, những thầy cô giáo, những học giả và những người bình thường khác. Thế là tôi cũng học tất cả các anh các chị ấy: tôi "đục" ra một cái lỗ bé hin hin, bày ra đấy một cái "mẹt hàng" trong đó có mỗi thứ một tý. Tý văn xuôi, tý phỏng vấn, tý truyện ngắn, tý bút ký... Mỗi thứ tôi làm tý ti. Và như thế hoá ra lại đông vui, khách hành đến với tôi đông lắm, có khi lại còn đông hơn cả thơ đấy. Mặc dù là tôi không phải là người bỏ thơ. Nhiều người vẫn bảo rằng, Trần Đăng Khoa từ bỏ thơ ca, Trần Đăng Khoa là một nhà thơ đã chuyển ngành hoặc chuyển nghề. Nhưng hoàn toàn tôi không phải vậy. Chả nhẽ khi ông Chế Lan Viên viết phê bình thì là vì ông đã bí thơ hay sao?

 

PH: Cái cửa chính ngoảnh ra đằng trước rất kiêu kỳ là "cửa" nhà thơ, tôi thấy cái "cửa" mà anh "trổ" ra đằng sau trong cái thời kinh tế thị trường cũng hấp dẫn. Mà hình như người ta thích nhìn qua "cửa sau", hay qua "cửa sổ" vì nó hấp dẫn hơn hay sao?

Và bây giờ thì tôi muốn nói về chuyện "phỏng vấn" của "Chân Dung và Đối Thoại". Qua việc anh phỏng vấn người này người kia, thì cũng có người bị "tai tiếng" vì "dây dưa" với Trần Đăng Khoa và cũng có nhiều người, như anh đã biết, nói: "Đấy là Khoa nó nhét cái câu đó vào mồm tôi" và họ không công nhận những câu nói của họ. Vậy, kể từ những lúc anh phỏng vấn, rồi thành tác phẩm và cho đến nay thì cái quan hệ của anh đối với những "chân dung" mà anh đã làm việc ra sao, và sự thật của nó là thế nào? Xin anh cho biết...

 

TĐK: Thật ra khi làm việc trên tư cách một nhà báo thì làm gì tôi cũng có máy ghi âm, rất nghiêm túc. Còn người mà phản ứng tôi rất dữ dội thì đấy chính là một người rất thân thiết của tôi. Đó là nhà văn Lê Lựu. Ai đã sống với Lê Lựu cũng sẽ thấy anh là một người xuề xoà. Đấy là tôi viết theo cái lý luận, cái kiểu của tôi, tức là tôi dựng chân dung, dựng người, dựng cảnh, dựng nhân vật. Khi đã dựng nhân vật thì phải có tình tiết để nói về sự xuề xoà của Lê Lựu. Về chi tiết đi dự hội thảo ở bên Mỹ, anh vắt cả cái chân nguyên giầy nguyên tất đưa lên mũi ngửi: điều này tôi nghe chị Thùy Linh kể ở Matxcơva, chị Thùy Linh lại nói đấy là anh Nguyễn Quang Thiều kể lại; và tất nhiên do tôi thân với Lê Lựu, hiểu anh và vì vậy tôi tin ngay. Đến khi in ra thì anh Lựu lại thấy không phải thế, làm ầm lên: "Chuyến này tôi phải đưa cậu ấy ra tòa vì cậu ấy bôi bác tôi, không bao giờ tôi lại làm cái chuyện dị mọ như thế, không bao giờ tôi lại đưa giày lên mũi ngửi; mà tôi chỉ có rút tất ra lau... miệng!" Chuyện anh Lựu lấy tất lau miệng do chính anh kể trên báo Tiền Phong, báo Văn Hoá Văn Nghệ Công An số Tết năm 1999, nếu quý vị cần có thể kiểm tra được ngay. Tôi nghĩ viết thế cũng chẳng phải làm xấu gì Lê Lựu cả, người nào đọc thì cũng chỉ thấy yêu anh ấy hơn thôi. Nhiều người "kích" vào Lê Lựu bảo đấy là nhếch nhác thì cũng chẳng phải. Anh Lựu viết rằng tôi giống như cái bao tải, mà tôi thấy mình quả thật cũng giống cái bao tải. Cái đó chả ảnh hưởng gì. Đấy, tôi cho chỉ là cách nhìn, một cách nhìn nó vui vui thôi. Hay như là khi anh Lựu anh ấy "lai" tôi trên một cái xe máy và anh nói là đang đèo một cái bao trấu chẳng hạn, thì tôi thấy cũng đúng vì có khi mình giống bao trấu hơn cả cái bao trấu thật. Thì biết làm sao được, mắt ông Lựu ông ấy nhìn thế, sao tôi cãi ông ấy được. (Tất cả cùng cười)

 

PH: Anh ra nước ngoài nhiều, anh thấy người Việt ở nước ngoài nói chung ra sao, và sinh hoạt văn học nghệ thuật cũng như giới văn nghệ sĩ ở nước ngoài như thế nào? Anh có giao tình nào đối với những đồng nghiệp người Việt ở nước ngoài? So với suy nghĩ của các đồng nghiệp ở trong nước, các suy nghĩ trên của anh giống và khác nhau ra sao?

 

TĐK: Tôi đã có dịp được đặt chân lên nước Mỹ, nước Nga và bây giờ là nước Đức. Tôi cũng tiếp xúc với cộng đồng người Việt ở nước ngoài... Có thể nói là anh em rất vất vả. Tôi nói thật như thế, vì cha ông mình đã nói: "Sảy nhà ra thất nghiệp" mà, dẫu rằng ở một nước phồn thịnh thế nào, văn minh thế nào thì đấy vẫn là quê người. Và cái sự ở quê người thì khổ lắm. Trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài, phải nói rằng có những tình cảm rất cảm động vì họ luôn hướng về Tổ quốc, có nhiều đóng góp cho quê hương, đặc biệt là cứu trợ những đồng bào bị lũ lụt, chăm sóc những người cơ nhỡ. Sang đến bên này mới biết rằng để kiếm ra đồng tiền vất vả vô cùng, phải đổ mồ hôi, thậm chí có khi cả xương máu nữa.

 

Còn đối với anh em văn nghệ thì thực ra là thế này. Tôi nghĩ là rất nhiều cái gắn với Tổ quốc có khi vì đi xa lại gần Tổ quốc hơn. Anh Nguyễn Duy viết một câu rất hay: "Có gì lạ quá đi thôi / Gần thì lại mất xa xôi lại còn". Nhiều khi để hiểu Tổ quốc Việt Nam thì ta lại phải ra với thế giới, đấy là như vậy. Chúng ta cứ bàn cãi mãi về giữ gìn tính dân tộc, tôi nghĩ muốn giữ gìn tính dân tộc thì phải rộng cánh cửa để ra với thế giới rộng lớn. Tôi ví dụ như ngay ông Sergei Essenin, vì về nước Nga thì tôi thạo. Ông này là một nhà thơ nổi tiếng của Nga. Một nhà thơ nông thôn. Cả đời ông, ông chỉ viết về làng quê, về con chó, về con cáo, về con bò, về cái cây bạch dương, rất là giản dị về cái làng quê cụ thể của ông. Nhưng xin thưa là để viết được vậy về làng quê này thì ông phải vượt ra khỏi nước Nga. Năm 14 tuổi ông đã rời khỏi làng rồi cơ mà. Ông lấy vợ Mỹ và sống ở Mỹ, Pháp, Ý, ở rất nhiều nơi trên thế giới. Ông đi khắp nơi, ông nhìn bằng con mắt rộng lớn như thế, con mắt của thế giới, để quay nhìn lại, ngắm lại quê nhà ông bằng con mắt của nhân loại. Chính thế mà cảnh sắc cụ thể vượt qua khỏi biên giới cụ thể mà rồi đến với bạn đọc của nhân loại. Ivan Bunhin cũng thế, Trotsky cũng vậy. Cho nên tôi nghĩ anh em người Việt trong điều kiện xa Tổ quốc thì đó là cách thiết thực để nhìn Tổ quốc một cách sâu sắc hơn và phát hiện được nhiều điều thú vị hơn. Cũng bằng con mắt của người Việt các anh có thể phát hiện ra những vẻ đẹp của nước ngoài mà có khi chính người bản xứ không thể thấy được. Đây là một điều hay và nếu tận dụng được cái đó để hoạt động văn học nghệ thuật thì tuyệt vời! Nhưng nếu ngược lại, không làm được những điều đó thì đau xót vô cùng! Cũng có thể có người không làm được những điều ấy, tiếng Việt thì bị quên mà tiếng nước người thì không vào, bơ vơ ở giữa giời: cái đó phải nói là rất vất vả mà tôi vừa cảm thông, vừa chia cái nỗi vất vả với các anh đó. Nhưng tôi nghĩ rằng - nhất là với những anh em có điều kiện - làm sao làm cái nhịp cầu nối giữa Việt Nam với thế giới, có thể giới thiệu các tác phẩm đặc sắc của nước ngoài nơi anh em ở về trong nước. Ở trong nước chọn những cái đó không phải dễ, đôi khi vớ được một cuốn sách thì chắc gì đó đã là cuốn sách hay, có khi vớ được một bài phê bình mà cái ông phê bình lại làm công việc quảng cáo thì sao! Ở trong nước không thể nắm được cái đích thực trong ý nghĩa như vậy của nước ngoài bằng những người ở nước ngoài. Đó là: nhìn nhận khách quan hơn, với những điều kiện lựa chọn tốt hơn, biết được những ý kiến phê bình của các nước sở tại về những tác phẩm đó. Sau nữa là anh em có thể giới thiệu các tác phẩm hay của nước ta ra nước ngoài. Hiện nay văn chương của nước ta cũng khá, tiểu thuyết, truyện ngắn có những cái rất hay. Nhưng tôi tiếc là gần như ở nước ngoài người ta không biết gì về văn chương của chúng ta cả. Họ biết rất ít và nhìn chúng ta méo mó lắm. Chính thế mà trông chờ vào những anh em cộng đồng người Việt, ngoài kiếm sống sinh nhai để tồn tại ở xứ người còn có một việc nữa cũng quan trọng là làm nhịp cầu nối văn hóa hai nước. Như thế rất có ích cho đồng bào ở trong nước cũng như bạn đọc ở nước ngoài. Đấy là điều tôi rất mong muốn.

 

PH: Bây giờ xin hỏi một chút về đời tư... Anh làm thơ từ lúc còn nhỏ, theo lẽ thường một đứa trẻ mới 9-10 tuổi khó có thể chọn cho mình một nghề theo đuổi cả đời, nhưng kể từ đó cho đến nay anh đã sống bằng nghiệp viết. Vậy giả dụ nếu trưởng thành như tất cả những đứa trẻ bình thường khác thì khi lớn lên anh có chọn nghề viết không, nghề mà anh cũng từng biết là vất vả?

 

TĐK: Tôi nói điều này cũng cũ, vì trước tôi đã bao người nói; nhưng đúng là như vậy. Tức là, "tôi không phải chọn cây bút mà cây bút nó chọn tôi". Từ thuở nhỏ đã như vậy và bây giờ cũng như vậy. Tôi thấy, bằng cây bút tôi có thể đến được với đông đảo độc giả, đến với mọi người, mọi người quý mến tôi cũng vì cây bút ấy và cũng có người ghét là tôi do cây bút ấy. Trong cuộc đời ta cũng cần những người bạn tốt để an ủi và đôi khi cũng phải cần những người ghét mình để mình biết rằng cuộc đời không đơn giản, nhờ vậy phải sống cho nghiêm túc hơn, tốt đẹp hơn. Với tôi, cả hai đều có ích và đó là do cây bút mang lại. Còn nghề viết văn thì các anh biết rồi, đấy là một số phận mỏng may lắm, đấy là một nghề chỉ làm cái việc là ngả ruột gan mình, phơi ra cho thiên hạ họ bình phẩm chỗ này nó xanh, chỗ kia nó trắng, chỗ này nó vàng vàng, nó thơm hay nó thối. Và khi đã nhận "búa rìu dư luận" thì anh phải chịu cả hai phía, khi người ta khen cũng như khi người ta hắt hủi anh. Và đấy là điều bình thường.

 

PH: Trong cuộc sống đời thường và đời văn, cái khó nhất đối với anh là gì? Và cái... dễ nhất?

 

TĐK: Tôi thấy, cái khó nhất là làm sao để kiếm được một bà vợ và bây giờ thì tôi đã kiếm được một bà vợ cũng rất là tươi tắn và nhiều người khen là đẹp lắm! Tôi thì cũng chả biết là như thế nào, nhưng bây giờ cái khó hơn là giữ chân bà vợ vì gia đình là quan trọng. Gia đình giống như một tổ ấm của chúng ta: ngoài đời sóng gió lắm, gia đình như một vũng lặng để ta buông neo. Gia đình mà đổ vỡ thì còn biết trú ngụ ở đâu! Ta cứ tưởng cái đó là đơn giản chứ hóa ra thì không đơn giản tí nào. Và sống trong đời sống gia đình, tôi thấy vui lắm. Trước đây chúng ta cứ nghĩ rằng "hai chúng ta tuy hai mà một", cứ tưởng cứ lấy được vợ rồi thì tất cả chỉ là một, nhưng thật là nhầm. Đấy mãi mãi là hai thế giới chả bao giờ hoà nhập được với nhau. Hai thế giới đi song song bên nhau và cùng tồn tại. Nhiều người cứ tưởng khi đã có được nhau rồi thì không cần giữ kẽ nữa và nhiều khi vì cái "tưởng" ấy mà tan vỡ gia đình. Tôi thấy rất nhiều mợ kỳ lạ ở chỗ chỉ trang điểm khi đi ra ngoài đường, trang điểm rất sạch sẽ, tươm tấp, thơm tho, tuyệt vời, hấp dẫn - đấy chỉ là làm đẹp mình cho cái lão "hàng xóm" tốt bụng và vô trách nhiệm! Còn ông chồng của mình thì coi chả là cái quái gì! Lẽ ra người mà bà vợ cần phải làm mình trở nên hấp dẫn hơn, tuyệt vời hơn, thơm phức lên - đấy chính là ông chồng của mình - thì các bà vợ lại chả để ý. Ngược lại, các ông chồng cũng vậy: cứ ra ngoài đường thì trông lịch sự, văn hoá cứ như những nhà chính khách, còn khi về nhà bao nhiêu cái lịch sự vứt hết ở ngoài đường, khiến bà vợ chỉ thấy trần sì trước mặt mình một lão nông thôn lếch thếch, nhem nhuốc; Thậm chí có ông ngủ với vợ miệng cứ há hốc ra như một cái xác chết đói, trông hãi vô cùng. Như thế thì bao nhiêu những cái giây thần kinh gọi là rung động sẽ tê liệt hết, làm sao mà mê nhau được! Tôi thấy gia đình là cả một vấn đề không đơn giản chút nào và tôi cầu mong tất cả các anh có được một cái gia đình yên ấm, có được một bà vợ thật là tuyệt vời để làm một chỗ tựa cho nhau.

 

PH: Vừa nghe anh nói, tôi nghĩ tới những lời đồn đại của mọi người khi thấy anh chậm, mãi không chịu lấy vợ: "Có vẻ như Trần Đăng Khoa "đụt" về chuyện vợ chồng hay chuyện cưa cẩm mấy em?" Nhưng nghe anh "triết lý" như thế, thì tuy chúng tôi cũng trải qua không ít thời gian của cuộc sống gia đình nhưng có lẽ cũng phải học anh về mấy cái "triết lý" này...

 

TĐK (Lập tức trả lời): Thật ra tôi lấy vợ muộn bởi tôi đến với văn chương từ bé. Từ xa người ta lại cứ nghĩ tôi là em bé, thậm chí có người còn "kết nghĩa" chị em thắm thiết với tôi, còn dặn tôi là phải chịu khó tập thể dục cho người phát triển cân đối, lúc đến gần thì người ta lại chào tôi bằng bố già! Mà khi người ta đã chào là bố già thì mình lại phải nghiêm trang mất rồi, chứ "bố" gì mà lại mắt trước mắt sau, lấm la lấm lét liếc con gái thì còn ra làm sao! Thế rồi tôi cứ luôn luôn phải nghiêm trang, mà nghiêm như thế thì khó lấy vợ. Tôi cho là muốn lấy vợ tốt thì phải nửa nghiêm một tí, nửa năng động một tí, nhem nhuốc một tí: chứ còn nghiêm quá khiến người ta sợ, mà lăng nhăng quá thì người ta không tin.

 

PH: Cám ơn anh về những câu trả lời chân tình về cuộc đời; và bây giờ tôi muốn hỏi một chút về "nghề".

Hai tháng nay, chúng tôi đang thực hiện một cuộc thảo luận liên mạng cho những người Việt cầm bút ở khắp nơi trên thế giới (tất nhiên cả với các đồng nghiệp ở trong nước). Đề tài số 1 là "Trí thức Việt Nam" (nhân bài tọa đàm của nhà văn Phạm Thị Hoài tại Berlin tháng 10-2000, tựa đề "Tư cách chính thống của trí thức VN", đăng trên báo Cánh Én (Đức) số tháng 3 và tháng 4-2001. Đề tài số 2 là "Trí thức và Phản trí thức" (nhân bài tiểu luận "Trí thức và Phản trí thức: vấn đề trước mắt của chúng ta" của nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc-Tuấn, đăng trên tạp chí Hợp Lưu (Mỹ) số 52, tháng 4 & 5-2000). Các đề tài này đã, đang và sẽ làm sườn cho một cuộc thảo luận dài hơi về mối quan hệ của Văn chương và Thời thế VN; của Trí thức-Văn nghệ sĩ và Thời cuộc VN.

Là một nhà thơ, nhà báo, người viết phê bình hẳn anh có suy nghĩ gì đó về các vấn đề trên?

 

TĐK: Tiếc là ở nhà tôi không có Internet nên tôi không theo dõi được cuộc tranh luận đó. Nhưng tôi biết là khi bàn về vấn đề trí thức thì có thể nói rằng đó là một vấn đề rất cấp thiết và không phải chỉ anh chị em ở nước ngoài mà trong nước chúng ta cũng đang bàn rất kỹ vấn đề này.

 

Hơn bao giờ hết, hiện nay chúng ta đang chạm đến vấn đề rất thiết thực, đấy là thời đại của thông tin toàn cầu và kinh tế tri thức; vì vậy không thể không quan tâm đến đội ngũ trí thức được. Tôi nghĩ, nên coi tất cả các cuộc tranh luận là một sự đối thoại, mà đối thoại là cái cả hai bên cùng nghe nhau để tiếp cận đến chân lý, chứ trong cái đó không có người thắng hoặc người thua. Tôi không biết cuộc tranh cãi anh đang nói này như thế nào, nhưng trong tranh cãi về văn chương chẳng hạn, thì xin nói thật rằng: Cái đích mà người tranh luận cần đến chính là "khán giả" - người xem, người nghe - chứ không phải là vì đối tượng tranh luận của mình. Nhiều người tranh luận chỉ biết nhăm nhăm vài cái đối tượng của họ thôi, tức là cứ làm sao đổ hết những cái gì xấu xa lên đầu đối tượng, coi đấy là thắng! Cái đó là không phải. Cái chính của tranh luận là không phải thuyết phục đối tượng đó, vì có khi mỗi người một quan niệm, có những cái không gặp nhau được nên mới phải đối thoại. Và có những khi đối thoại cũng không đến được với nhau thì bỏ ngỏ đấy, để cùng nghĩ. Khi tranh luận mà lại quên mất độc giả, không coi đó mới chính là đối tượng để mình phải "chinh phục" thì thật đáng tiếc. Nó làm cho độc giả người ta chán chúng ta, không hiểu chúng ta là những người như thế nào cả. Trí thức gì mà cãi nhau, rất buồn cười. Cho nên tôi thấy, tranh luận về trí thức thì cần lại phải trí thức hơn.

 

PH: À, chắc anh cũng biết cuốn "Chuyện kể năm 2000" của nhà văn Bùi Ngọc Tấn vừa được nhà xuất bản Thanh Niên vừa phát hành thì có lệnh cấm...

 

TĐK: Trước hết, tôi xin thưa rằng là về cuốn sách này người ta cứ đồn thế thôi, đồn là bị cấm chứ thực ra chả có văn bản gì cả. Bằng cớ là vừa rồi anh Bùi Ngọc Tấn vẫn là đại biểu để đi dự Đại hội của Hội Nhà Văn VN. Và trong khi tôi nói cùng anh điều này thì anh Bùi Ngọc Tấn vẫn đang sống ở Hải Phòng, đang gặp gỡ bạn bè một cách bình thường và vẫn viết. Tôi cho rằng hiện nay ở nước ta tương đối phóng khoáng trong tất cả các quan niệm. Còn trên báo chí những lời đồn thì đôi khi rất nhiều. Ngay như tôi mà trên báo chí cũng có tin đồn "Khoa thật Khoa giả" cơ mà. Tôi biết hiện nay các nhà văn của chúng ta được mở hết các cánh cửa để sáng tạo, nếu mà viết không hay thì lỗi là ở chúng ta thôi. Cái này tôi nói có khi các bạn ở nước ngoài không hiểu, lại cho là tôi "tuyên truyền" chăng? Nhưng thực chất là như vậy. Ngay nhà xuất bản Thanh Niên, và anh Cao Giang là người biên tập cuốn đó, cũng vẫn bình thường, bằng cớ là vừa rồi chính anh Cao Giang và NXB Thanh Niên biên tập và xuất bản cuốn "Người Thường Gặp" của tôi. Anh Bùi Văn Ngợi hiện nay vẫn là Giám đốc nhà xuất bản này.

 

PH: Thế còn đánh giá thế nào cuốn "Chuyện kể năm 2000" về mặt văn học?

 

TĐK: Tôi thấy đây là một cuốn truyện không có gì ghê gớm, nó chỉ có một vài chi tiết thôi. Ở nước ngoài đọc đôi khi lại đọc một cái gì đó phía ngoài văn học. Cho nên tôi nghĩ rằng đọc sách nên vô tư và khi vô tư thì nhìn nhận mọi cái nó sẽ khác. Đôi khi chúng ta đọc vì một định kiến đã có sẵn, sau đó tìm mọi cách để phụ họa cho cái định kiến đó của mình. Cái đó theo tôi là một cái thứ không văn học lắm. Bùi Ngọc Tấn có rất nhiều cuốn sách hay, còn cuốn này tôi thấy bình thường. Như cuốn "Babylon", rồi một số cuốn khác, hay lắm. Với cuốn này tôi cho rằng nó chỉ có một số chi tiết làm tôi nhớ được thôi, chứ thực ra đọc nó nặng nề. Nếu gọi đó là cuốn sách hay, hoặc thậm chí có người "tung hô" lên, thì tôi nghĩ cái đó không phải, không đúng. Tất nhiên, điều này còn tùy vào cách cảm nhận của từng người, nhưng riêng tôi thấy đây không phải là cuốn tiêu biểu của Bùi Ngọc Tấn.

 

PH: Câu cuối của cuộc phỏng vấn này tôi muốn anh hé mở một chút: không biết anh đã "săn" được "con thú" nào trước mặt chưa, anh có dự định sáng tác gì, với tác phẩm nào trong thời gian tới?

 

TĐK: Cũng như tôi đã nói, người viết như một người đi săn nên không thể biết trước mặt sẽ là gì. Nhưng hiện nay tôi cũng đang có một cuốn phải tiếp tục hoàn thiện, đó chính là "Chân Dung và Đối Thoại" tập 2 và tập 3. Làm xong nốt cái này tôi sẽ "gác bút" không quan tâm cái gọi là phê bình nữa. Vì "chơi" với cái "lão" phê bình này xem ra nó lằng nhằng lắm! Tất nhiên là vui vẻ thôi nhưng cái vui vẻ này cũng hơi ồn ào; và thậm chí làm những người yếu bóng vía thấy mệt mỏi. Vợ tôi có một đức tính rất hay mà tôi rất "kính trọng": cái "đức" đó là cô ấy không bao giờ đọc sách, chứ nếu mà đọc thì cô ấy sẽ thấy kinh tởm tôi, không biết người ta khen hay người ta chê tôi, cứ mù mịt có khi lại đâm hoảng, đâm sợ cái ông chồng của mình.

 

PH: Trong không khí vui vẻ như thế này, không biết anh có nhã ý tặng cho độc giả một bài thơ vui của anh đuợc chăng?

 

TĐK: Thôi thế thì tôi sẽ đọc một bài thơ mà tôi đã đọc cho các anh nghe rồi, vì tôi nghĩ đây là một bài thơ đơn giản, có tính phổ cập, hay dở tôi cũng chẳng biết. Đó là bài thơ vui tặng bà mẹ vợ.

Tôi nghĩ rằng đàn ông chúng ta đều là con của hai bà mẹ, một bà mẹ đẻ ra ta và một bà mẹ chả họ hàng gì với ta cả. Đấy chính là bà mẹ vợ. Trong hai bà mẹ thì bà mẹ vợ lại vất vả hơn. Đúng như ông Thanh Tịnh đã nói: Con gái là con người ta, khi con mình lấy chồng thì mình mất con, khi con mình có con thì mình mất vợ, vì vợ phải đi chăm chút cho cháu, "cháu bà nội thì tội bà ngoại" mà. Bà mẹ vợ vất vả vì phải tạo dựng ra một cô con gái. Tôi cảm giác là bà phải "đúc" từ bao nhiêu cái xác hoa làm nên cái làn môi của cô con gái, phải kiếm, góp nhặt từ bao nhiêu những ánh trăng non để làm nên làn da huyền bí của cô con gái, phải lấy cả tuổi xuân rất là tuyệt vời của mình để làm nên cái vẻ dịu dàng đến mức bí hiểm nên rất hấp dẫn của cô con gái. Nhưng đùng một cái, một anh chàng ất ơ ở đâu đó, chả có họ hàng, quen biết gì trước với mình cả, nó đến nó rước đi mất cô con gái - một tòa thiên nhiên - như thế là bao nhiêu của nả đi cùng, nào là vòng Tàu, xe máy, nhẫn... Đấy thật là một cuộc mất trộm ngoạn mục mà công an thì ủng hộ, pháp luật lại vỗ tay hoan hô, bà mẹ thì cũng sung sướng vì lo cho con đi "vu qui". Nhưng thật ra đây là một vụ mất trộm. Thế thì xin thay mặt cho những "thằng trộm", tôi cám ơn bà mẹ vợ, bằng một bài như thế này. Tôi đọc vui cùng các anh và đây cũng là một món quà tặng cho tất cả các chàng trai.

 

Thơ tặng mẹ vợ

 

Mẹ từng lặn lội suốt đời

Trên những cánh đồng hoang dại

Tìm ánh trăng non ngàn xưa

Toả mát màu da con gái

Mẹ vượt qua trăm ngọn núi

Chập chùng rừng mộng suối mơ

Kiếm những sắc hoa đẹp nhất

Làm nên làn môi thơm tho

Và mẹ ngược miền thiếu nữ

Nhặt từng nét đẹp vẻ xinh

Và nỗi dịu dàng muôn thuở

Chuốt lên vóc dáng con mình

Mẹ trao Thiên Thần của mẹ

Cho một chàng trai nghèo nàn

Thế là con thành ông chủ

Bỗng nhiên giàu nhất thế gian

 

Xin cảm ơn quý vị.

 

Phạm Hoàng: Rất cám ơn anh Khoa. Nhưng... nhân nghe anh đọc thơ thì tôi chợt thấy mình quên một câu định hỏi. Đó là những đánh giá của anh cũng như một số dẫn chứng về "thơ mới" hiện nay ở Việt Nam, mà chúng tôi đã có dịp nghe anh nói. Nếu không nghĩ là chúng tôi quá lạm dụng, anh có thể cho độc giả được biết qua vài nét?

 

Trần Đăng Khoa: Đây lại là vấn đề rất là dài và có thể nói lại thành một chương trình nữa (Tất cả cùng phá lên cười). Tôi nghĩ rằng các bác đừng ngại là đã lạm dụng tôi mà có lẽ chính tôi mới là người lạm dụng các bác. Nay kể câu chuyện này: Có một chàng trai rất mê một cô gái, tới nhà cô ta chơi và trước khi về anh ta còn muốn quay lại nữa. Anh ta bèn giả vờ bỏ quên bao thuốc lá, để ngày hôm sau có cớ quay lại... Thế thì tôi cũng như vậy, mà tôi lại không hút thuốc lá nên tôi giả vờ "bỏ quên" cái câu hỏi này của bác để sau này tôi còn có cái cớ quay trở lại đây.

(Một tràng cười vui vẻ kết thúc cuộc phỏng vấn)

 

Phạm Hoàng
thực hiện

Đỗ Quyên
cộng tác

Tháng 6 & 7-2001

 

■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■

Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách

Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập