artigras
|
Mấy hôm nay, truyền hình địa phương quảng cáo rầm rộ cho một sinh hoạt có tính nghệ thuật: ArtiGras. Rõ ràng có sự cố tình chơi chữ. Nghe hay nhìn ArtiGras, chúng ta nghĩ ngay đến Mardi Gras, Pháp ngữ, được dùng khắp thế giới. Mardi Gras (đặc biệt ở New Orleans, bang Louisiana, Hoa kỳ) là ngày cuối cùng để còn vui chơi hội hè thả giàn trước khi bước vào thời kỳ trai giới bắt đầu với Thứ Tư Lễ Tro (Ash Wednesday). Trong ArtiGras lại có Art, có nghĩa, đặc biệt ở Mỹ quốc, là nghệ thuật tạo hình.
ArtiGras: chỉ ba âm, gợi lên cho ta đầy đủ hình ảnh vui chơi hội hè, màu sắc tưng bừng, kèn trống inh ỏi, nhậu nhẹt tùm lum - tất cả các thứ đó và - nghệ thuật tạo hình.
Ha! Mấy tay trong ban tổ chức và chuyên viên quảng cáo quả là tài tình.
Đến thăm ArtiGras, chẳng những người ta có thể ngắm các nghệ phẩm mà còn có nơi chơi giỡn vui nhộn, ăn cái này, uống cái kia, v.v... Thật là tiện. Thật là vui. Lôi kéo quần chúng đến đông đảo như thế, mới là tài tình. Bỏ một chiều xem đấu bóng (trên tivi) hay đi mua bán linh tinh để ngắm tranh triếc..., không phải ai cũng chịu hy sinh. Trưng bày nghệ phẩm mà lại, đồng thời, cung cấp nhiều cái thú khác cho quần chúng hưởng thụ chắc chắn phải hấp dẫn hơn là chỉ trưng bày nghệ phẩm mà thôi.
Có vẻ như ArtiGras có tiền lệ. Những tài năng lớn thời chúng ta, như Picasso, như Chagall, và trước đây, như Hals (thế kỷ 17), như Watteau (thế kỷ 18), nghệ thuật và hý lộng đã từng chung sống hòa bình. Tuy nhiên, xét kỹ, thì thấy rằng cái vui ở Chagall, cái tếu ở Picasso, cái say sưa ở Hals, cái lả lướt ở Watteau là những tính cách tự bản chất trong nghệ thuật của họ, không phải trong phương tiện mời gọi, thu hút, dụ khị quần chúng đến với nghệ thuật của họ.
Mời gọi, dụ khị, là sở trường của giới thương mại Tây phương, đặc biệt ở Mỹ quốc. Ở đó, một ngành chuyên nghiệp đã đưa nghệ thuật quảng cáo lên tới mức thượng thừa. Buôn bán không chỉ có nghĩa là trao đổi, tiền nong. Những yếu tố tâm lý ngày càng quan trọng. Quảng cáo cho một chiếc xe hơi thể thao, người ta không chỉ nói rằng nó đẹp , bền, giá cả phải chăng, bảo trì dễ và rẻ. Người mua xe không cần biết những thứ lẻ tẻ đó. Người ta nhắc nhở rằng xe này chạy không xe nào bắt kịp, nó làm cho hàng xóm ganh tị, nó làm cho anh đàn ông lái xe trở thành người "hùng", nó làm cho người đẹp (xếch xi!) lác mắt, v.v...
Một Art Exhibit hay Art Show trở thành ArtiGras là thế.
Người khó tính bảo rằng đó là trò rởm, làm cho một sinh hoạt nghệ thuật trở thành một cuộc vui chơi dễ dãi, "rẻ tiền". Nghệ thuật, tự bản chất, đã có khả năng hấp dẫn con người rồi, bởi chăng nghệ thuật thăng hoa tâm hồn, đưa con người đi sâu vào những địa hạt ẩn mật sâu kín không ngờ. Con người đến với nghệ thuật vì chính nghệ thuật, không cần có chiêng trống ầm ĩ, màu sắc tưng bừng, ăn uống, trò chơi vui nhộn...
Người dễ tính không đồng ý. Người dễ tính - chẳng những đối với nghệ thuật tạo hình mà còn với cả ngôn ngữ - bảo rằng dung hợp nghệ thuật với các thứ kia là phương cách hữu hiệu để đưa "nghệ thuật vào đời", có vậy mới là "nghệ thuật vị nhân sinh". "Vị nhân sinh" như những tiểu thuyết ăn khách người ta có thể bốc lên trong siêu thị sau khi đã mua xong thịt cá, rau cỏ, cùng các thứ linh tinh khác. Viết như vậy, bán sách như vậy, mới là "vị nhân sinh". ArtiGras chỉ là một hình thái mới mẻ của cái "nghệ thuật vị nhân sinh" ấy.
Đến đây, chúng ta thấy rõ ràng có ít nhất hai cách đến với nghệ thuật: đến với nghệ thuật vì có sự thôi thúc trong lòng, vì nhu cầu nghệ thuật, và đến với nghệ thuật vì đó là một cử chỉ tích cực, vì đó là hòa đồng với một sinh hoạt xã hội, vì nó... "dzui".
Hai cách tiếp cận này đòi hỏi người nghệ sĩ có hai thái độ hoàn toàn khác nhau, nếu không nói là đối nghịch. Hắn có thể làm nghệ thuật như một công trình khai phóng, một bứt phá sáng tạo. Mỗi bức tranh mới là một bước đi tới, một giai đoạn mới, với những khám phá mới. Hắn cũng có thể làm nghệ thuật bằng cách lập lại những hình thức đã làm, và được yêu chuộng, như một cách phục vụ quần chúng .
Chọn lựa nào cũng có cái giá phải trả.
Làm nghệ thuật kiểu trước là một hành trình gian nan. Gian nan, trước hết, vì cô đơn. Nhắm tới sự độc sáng, người nghệ sĩ chỉ có thể đi một mình. Như kẻ thám hiểm trong rừng rậm: phải luôn tay chặt phát cây cỏ, đề phòng và chống cự thú dữ rắn rít, trèo đèo vượt suối, v.v... Chỉ mình mới thấy sự cố gắng và vất vả của mình, thành công hay thất bại, một mình mình biết, một mình mình hay. Gian nan, sau nữa, và đây là qui luật chung xưa nay, vì những gì mới mẻ, độc đáo, mang nhiều cá tính, thường khó được chấp nhận, hưởng ứng. Cho nên khó mang lại những thành quả danh lợi. Đây là lý do vì sao chúng ta hay nghe kể những giai thoại về người làm nghệ thuật (thường là họa sĩ), còn sống thì nghèo túng, kham khổ, chết rồi, chết lâu rồi, mới được biết đến, mới được thưởng thức, vân vân. Ngày xưa, ông Giả Đảo đời Đường, ba năm mới làm được hai câu thơ, đọc lên, chảy ròng nước mắt, thế mà ông còn dọa, "Tri âm như bất thưởng/Qui ngọa cố sơn thu"; nếu như tri âm không thưởng thức, thì thôi, ta về nằm với mùa thu trong rặng núi xưa! Ông Giả Đảo đòi hỏi quá sá!
Làm nghệ thuật kiểu sau (như một cách phục vụ cho quần chúng loại khách hàng của ArtiGras) không gian nan như kiểu trước. Vì phục vụ đúng nhu cầu cho nên chiếm được sự hưởng ứng, đôi khi cả sự ngưỡng mộ, của quần chúng một cách dễ dàng hơn. Sự hưởng ứng, hay ngưỡng mộ, này đem lại những phần thưởng cụ thể: tối thiểu thì đời sống vật chất có thể dễ thở hơn, hay được đảm bảo, an toàn hơn, tối đa thì có thể giàu có, phong lưu hơn. Tuy nhiên, những danh lợi này không đem lại sự kính nể của những người thành thạo. Người ta có thể được biết đến nhiều, tiếng tăm vang dội, nhưng cũng có thể ý thức thế nào đó rằng cái danh của mình chỉ là phù du, và cái lợi cho mình là cái lợi của một con buôn, của một người phục vụ, không phải phần thưởng đích đáng cho người làm nghệ thuật.
Ở đây, xin nói rõ, không có vấn đề phê phán, làm thế này mới là "đúng", là "cao", còn làm thế kia là "sai", là "thấp". Chúng ta hãy để dành sự đánh giá ấy cho mỗi cá nhân, ở mỗi thời đại. Ở đây, chỉ nhìn sự chọn lựa ấy như những hiện tượng khách quan.
Trong một bài viết trước đây, nhà lý luận văn học Hoàng Ngọc-Tuấn có nói đến những bí quyết của một người viết văn như một cách phục vụ quần chúng và rất thành công như một tiểu thuyết gia "best-seller": ông Morris West. Mới vào bài, để tránh mọi hiểu lầm, ông Hoàng cho biết ngay: "Morris West không phải là nhà văn tôi hâm mộ. Ông không phải là một biểu tượng tập trung của sự sáng tạo văn chương." (1) Ông Hoàng viết tiếp: "Trước đây [...] tôi có bàn về sự phân biệt hai hướng văn nghệ ở các nước tiền tiến: một hướng nhắm vào việc thí nghiệm, khám phá và thực hiện những ý niệm thẩm mỹ mới; một hướng nhắm vào sự ứng dụng những phong cách, kỹ thuật, và phương pháp sáng tác sẵn có vào việc tiêu khiển quần chúng. Cả hai hướng đều cần thiết, và một xã hội lành mạnh phải phát triển đồng thời cả hai. Thiếu phát minh mới thì văn học nghệ thuật không có tương lai, nhưng thiếu tác phẩm văn nghệ phổ thông thì đời sống quần chúng mất vui thú. Mỗi nghệ sĩ, do đó, phải xác định một hướng hoạt động cho bản thân và dốc hết sức vào đó để đạt thành công cao nhất."( 1)
Ông Hoàng Ngọc-Tuấn đã nói giùm tôi về vấn đề then chốt này. Tuy nhiên, là một người suốt đời cầm bút, sống với và bởi hội họa từ hơn bốn mươi năm nay, tôi lại không phải là một Morris West trong nghề vẽ, dù ở một mức độ khiêm tốn hơn. Vì thế, tôi không có thẩm quyền khuyên nhủ người khác về chuyện phải vẽ ra làm sao để được nổi danh và làm ra nhiều tiền như ông West đã dạy bảo các nhà văn tập tễnh bước vào nghề viết văn ăn khách.
Mặc dù vậy, vì cầm cọ lâu năm, tôi không thể không biết đến một vài mánh lới của người vẽ gọi là thương mại. Chẳng hạn, ông West khuyên, "Hãy viết những điều người ta muốn đọc, và viết kịp thời." Ta có thể thay đổi một hai chữ là câu khuyên nhủ này trở thành có ý nghĩa trong lãnh vực chúng ta đang xét: "Hãy vẽ những cái người ta muốn xem, và vẽ kịp thời." Ông West lại khuyên, "Hãy viết những điều cụ thể." Lời khuyên này có thể trở thành: "Hãy vẽ những cái cụ thể." Đúng thế. Những lời khuyên rất có giá trị.
Gần đây, trong một buổi nói chuyện trên truyền hình, một họa sĩ, triệu phú, ông Kincaid (tôi không nhớ tên riêng của ông là gì) đã có những thổ lộ thú vị. Tranh ông sản xuất, và được "tiêu thụ", nhiều đến nỗi ông phải lập công ty, mướn hàng trăm nhân viên lo việc bán hàng, kế toán, đóng khung cho tranh, đóng thùng, gửi tranh,v.v... Công ty của ông có chi nhánh, cơ sở khắp cả Mỹ quốc! Nói tóm lại, cả một hệ thống làm ăn đại qui mô. Ông Kincaid nói quần chúng ưa nhìn những ngôi nhà ấm cúng, ở cửa sổ có treo chậu hoa, ngoài cửa ra vào có thảm chùi giày mang chữ "Welcome", v.v... Vẽ nhà phải vẽ thêm ống khói (chimney). Có ống khói tức là trong nhà có lò củi (fireplace). Lò củi hay lò sưởi là hình ảnh biểu hiện cho cái ấm cúng của ngôi nhà. Nhưng ông nhấn mạnh: Ống khói, chưa đủ! Ở ống khói trên mái nhà, phải có khói bốc lên. Có khói, tức có củi lửa. Có củi lửa, tức có người. Có người lo chuyện củi lửa, sưởi ấm nhà. Và ấm lòng người xem (mua) tranh, nhất là ngôi nhà trong tranh thường được vẽ tọa lạc trong một khung cảnh băng tuyết trùng trùng. Ở đây, chúng ta không cần xem xét tài năng của ông Kincaid như một họa sĩ. Chúng ta chỉ thấy ngay rằng ông là một tâm lý gia khôn ngoan, có khiếu lớn về buôn bán. Nếu ông Kincaid là một người viết văn, ông sẽ nói một câu hệt như của ông Morris West, nhà văn "best-seller": "Hãy vẽ những cái cụ thể."
Bởi vì không vẽ (hay viết) những cái cụ thể có thể bị xem như xa rời cuộc sống trước mắt, là viễn vông, là kỳ cục, là...lập dị.
Lập dị! Đây là một chuyện đáng bàn khác trong cùng vấn đề.
Trong buổi nói chuyện của ông Kincaid, một vài họa phẩm của ông được đưa lên màn ảnh. Một thứ Ần tượng họa (Pháp, cuối thế kỷ 19) đã được "sửa sai" lại cho vừa với trình độ thẩm mỹ của đại quần chúng (Mỹ, đầu thế kỷ 21). Có lẽ vì thấy không cần thiết cho nên những tinh tế màu sắc đã được bỏ đi. Những đường nét sắc sảo, mạnh mẽ được thay thế với những hình thù tròn trịa, êm ái hơn. Kết quả: phong cảnh, nhà cửa xinh xắn như đồ chơi, như những cái bánh cưới, như những cái kẹo ngọt, màu sắc toàn là hồng dịu, xanh nhạt, lục mơ, vàng... kem. Tuyệt đối không có đen, và có rất ít xám, nâu, những màu "buồn", màu "chết".
Tuy nhiên, cái nợ ông Kincaid phải mang đối với Ần tượng họa, nó rành rành. Không có Ần tượng mở đường, ông không thể vẽ như vậy được.
Lập dị ?! Ở thời của nó, Ần tượng bị coi là một thứ lập dị đáng ghét, bị báo chí và quần chúng chửi rủa thậm tệ. Năm 1893, gần hai thập niên sau khi những họa sĩ được biết đến như nhóm Ần tượng tổ chức cuộc triển lãm đầu tiên ở Paris, một số họa phẩm Ần tượng được tặng cho nhà nước Pháp quốc và nhân dân Pháp. Có người lên án với những lời lẽ cực kỳ gay gắt: "Chính phủ mà đưa tay nhận lấy những thứ gớm ghiếc này, chắc là tinh thần đạo đức phải xuống cấp lắm lắm." (2)
Thế kỷ rưỡi về trước, một trường phái tạo hình đầy tính cách tân như vậy, nay được "sửa sai", lại trở thành một thứ hàng vô cùng đắt khách. Cũng thế, những hình kỷ hà "kỳ cục" của Picasso, những khuôn mặt "lập dị" vừa nhìn thẳng, vừa nhìn ngang của ông, bây giờ lại thấy nhan nhản, ở những họa phẩm tay ngang cũng có, mà ở những biểu đồ quảng cáo chuyên nghiệp cũng có.
Những hình vuông, chữ nhật, xanh, đỏ, vàng, đen, hoàn toàn "vô cảm" của Mondrian đã được sử dụng để phác ra những bộ áo thời trang. Calder đã trở nên một tên tuổi đầu môi: lắm bà nội trợ khéo tay, rảnh rỗi, có thể lấy bìa cứng, cắt ra những hình thù méo mó, cột dây, treo lên, và gọi đó là một cái mobile. Được chấp nhận hết thảy. Những họa sĩ Ần tượng, những Picasso, những Mondrian, Calder của thời chúng ta, họ đã mở đường khai lối cho một ngôn ngữ tạo hình mới, và những người đến sau cứ thế mà đi.
Viết về những nhà văn "nhắm vào việc thí nghiệm, khám phá, và thực hiện những ý niệm thẩm mỹ mới", ông Hoàng Ngọc-Tuấn cho rằng: "Loại nhà văn này thường bị đại chúng kết án là viễn vông, xa rời thực tế cuộc sống đương thời, nhưng kỳ thực họ lại là nguồn cung cấp về phong cách, kỹ thuật, và hệ mỹ học cho các nhà văn phổ thông sau này sử dụng."( 3) Chúng ta chỉ cần thay hai chữ "nhà văn" với "người vẽ" hay "họa sĩ" là chúng ta có tình trạng tương tự trong lãnh vực tạo hình.
Người vẽ nghệ thuật làm công việc của mình như một kẻ phiêu lưu, một nhà thám hiểm, hay một người làm thí nghiệm. Lại có khi như một ẩn sĩ, ngày đêm tu tập, không lưu tâm đến tên tuổi và lợi lộc. Cái giá họ phải trả là có khi sau nhiều năm khó nhọc, vất vả, hay sau cả một đời, họ vẫn không kiếm ra được cái họ đi tìm. Cuộc sống vật chất của họ chênh vênh, sự cô đơn của họ toàn diện. Tiếng Pháp, tiếng Anh, có từ vocation để chỉ sự đeo đuổi này (nghiệp?) thay vì profession (nghề?). Người vẽ thương mại là người coi cầm cọ như một profession, chẳng khác gì người thợ mộc cầm cưa cầm búa, người thợ may cầm kéo cầm kim. Thường thường thì không, nhưng thảng hoặc cũng có người đau khổ khi, nửa đêm tỉnh giấc, họ chợt xót xa thấy rằng một thuở xa xưa nào đó, họ đã từng mơ ước làm nghệ thuật, và nay giấc mơ ấy đã tan biến đâu mất rồi. No cơm ấm áo, nhưng, đúng như thành ngữ Anh/Mỹ xác quyết: Man doesn?t live by bread alone(4)
Rốt cuộc, làm nghệ sĩ hay làm người phục vụ đều, như đã nói trên, có cái giá phải trả. Ông Morris West cần nói thêm: "Hãy gạt bỏ những ảo tưởng." Ảo tưởng rằng đeo đuổi hội họa nghệ thuật mà lại nghĩ là nó sẽ đem lại lợi lộc cho mình. Ảo tưởng rằng cầm cọ phục vụ quần chúng, làm hội họa thương mại, mà lại cứ bo bo tin là mình làm nghệ thuật.
Thật ra, lằn ranh giữa hội họa nghệ thuật và hội họa thương mại không phải khi nào cũng rạch ròi. Xin hẹn bạn đọc, sẽ bàn về khía cạnh này trong một dịp khác.
ArtiGras! ArtiGras! Chúng ta có thể đến thăm ArtiGras, vừa nhai "chó nóng" [hot dog (4)], uống Coca -cola vừa ngắm tranh, sờ mó điêu khắc, coi trò ảo thuật... Người ta gọi đó là "thưởng ngoạn nghệ thuật tạo hình." Nghệ thuật tạo hình? Xương cốt các ông Picasso, Mondrian, Calder, v.v... chắc phải tung nắp áo quan, vùng ngồi dậy, ngửa mặt lên trời mà than rằng: "Ô hô! Thế thời phải thế!"
Võ Ðình
Chú thích
(1) Hoàng Ngọc-Tuấn, "Morris West và những bí quyết của một nhà văn best-seller", VĂN số 35, tháng 11 năm 1999, tr. 15
(2) Sarah Newmeyer, "Enjoying Modern Art", Mentor Books, New York, 1955, tr. 60
(3) Hoàng Ngọc-Tuấn, "Viết Cho Ai? Một Lời Tự Hỏi, Một Lời Ta Thán", Hợp Lưu số 58, tháng 4 & 5 năm 2001, tr. 51
(4) Nguyên văn: "Người ta không chỉ sống bằng bánh mì"
(5) Hot dog, một thứ xúc-xích bình dân Mỹ, gốc Đức
■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■
Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách
Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập