Picasso - Guernica

thù văn hóa và...
văn hóa thù

nguyễn hoàng văn

 

 

Mấy gã thanh niên mặt mày non choẹt vung dao ra, Pentagon và World Tower Center sụm xuống, một phần hay toàn bộ, mấy ngàn con người nát nhừ, bầm dập. Một ngọn núi bê tông bày ra, ngổn ngang với những hình khối lập phương và vặn vẹo với những cốt thép quằn quại uốn mình theo hình lưỡi câu trông như một mộ chí khổng lồ đang bị ám ảnh với những dấu hỏi tự vấn. Và rồi, cũng từ cái mộ chí hoang tàn ấy, một núi những lời đáp lại bày ra, nghiêm túc hay hay tài khôn, sâu sắc thông minh hay khổ quá, biết rồi... Gì thì gì, đế quốc hay nhược tiểu, Chuá hay Allah, Đông hay Tây, hết thảy, chừng như có thể dồn về một mối: những mầm hận chất chồng từ một cội rễ văn hoá lịch sử sâu xa và những ngọn lửa toé lên với những cọ xát trước mặt. Xung đột giữa các nền văn minh và sự tái tạo của trật tự toàn cầu, cái đề tài từng gây sôi nổi một dạo lại được lôi ra, như một mốt thời thượng: Huntington đã nói như thế! (1)

 

Tôi lại nghĩ đến cái điều tương tự, riêng với chúng ta: xung đột văn hoá và văn hoá xung đột.. Nói cho văn vẻ có tích có tuồng thì liệu những hận thù ngút ngàn sông núi mà dân tộc đã oằn lưng gánh vác suốt bề dày lịch sử của mình có đọng lại như một bản ngã văn hoá, một bản năng hay một ý thức tự vệ văn hoá? Nói cho gọn thì, với chúng ta, đâu là thù văn hoá? đâu là văn hoá thù?

 

Sự thể có cái gì đó chông chênh, bất xứng và hoàn toàn.... vô cơ. Những cừu hận lịch sử – văn hoá lẽ ra phải nặng như Thái sơn thì cứ là phơ phất, lông bông, nhẹ tựa lông hồng, cừu hận thì triền miên dằng dặc mà văn hoá thù thì cứ là hời hợt và nhếch nhác. Nó vẫn còn đó, nhưng chỉ còn như một sự nhắc tích dịch tuồng, như một thứ ký ức mang tính tự sự và nếu ở bên trong câu chuyện không khí bao giờ cũng sôi gan ứa máu thì khi đã bước ra ngoài rồi, nhiều khi, chỉ thoảng qua như một cơn gió yếu không đủ sức lay động những chiếc lá đã vàng.

 

Mà đâu phải là chúng ta không được dạy cách hận thù? Ngay từ tấm bé,trong những cổ tích, rồi trong những áng văn chương, và, dĩ nhiên, trong những bài học lịch sử nữa: chúng ta đã làm quen với biết bao chuyện là báo oán và trả thù rồi!

 

Cổ tích, chẳng hạn. Từ những ước mơ đằm thắm nhất của kiếp nhân sinh cho đến những bài học ngụ ngôn đạo đức, hết thảy đều ít nhiều dính dáng đến ý niệm oán thù. Đã "Ở hiền gặp lành" thì tất phải "ác giả ác báo". Đã "Cứu vật, vật trả ân" thì tất phải "cứu nhân, nhân trả oán". Cô Tấm bước ra từ quả thị thơm tho là thế, yêu kiều là thế vậy mà, cuối cùng, câu chuyện cũng hăng hắc mùi tử khí của cái cảnh đền tội và ác báo. Cả những áng văn chương tưởng là nhạy cảm nhất, tinh tế nhất mà cũng oai oải một không khí hận thù như thế: Thúy Kiều liễu yếu tài hoa, Thúy Kiều mong manh vóc hạc Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh vậy mà cũng có lúc khiến người khá đọc phải hãi hùng, bạt vía:

 

Lệnh quân truyền xuống nội đao

Thề sao thì lại cứ sao gia hình

Máu rơi thịt nát tan tành

Ai ai trông thấy hồn kinh phách rời

 

Thì cứ cho là... nhân quả. Tuy nhiên, nếu đã: Ngẫm hay muôn sự tại Trời / Trời kia đã bắt làm người có thân thì tại sao phải trả thù? Chỉ có mỗi ông Trời: Bắt phong trần phải phong trần / Cho thanh cao mới được phần thanh cao thì việc gì phải tính sổ ân oán với những Mã Giám Sinh, Sở Khanh hay Tú Bà? Nếu không có Mã, Sở hay Tú này thì cũng sẽ có những Mã, Sở hay Tú khác thế thôi vì đấy là số, là mệnh của từng nhân vật: cái sự trả thù đẫm máu tưởng là nghiêm minh hay triệt để ấy thế mà trông vô duyên và trơ trẽn quá!

 

Rồi những bài học lịch sử, ngay từ tấm bé, với những mối thù: lịch sử của chúng ta, có thể nói, là một chuỗi dài những câu chuyện trả thù. Đây là một Thủy Tinh đang sục sôi lồng lộn với mối thù... hụt vợ, khiến cả núi non sông nước phải đảo lộn, chuyển mình. Kia là một Bà Trưng Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên trước khi vung gươm đền nợ nước. Nọ. là một Ngô Quyền với mối thù chủ tướng bừng bừng tim gan trước khi vung gươm chặt đứt những gông xiềng nô lệ. Và đâu đó, ở tận ải Nam Quan, là một Nguyễn Trãi lã chã nước mắt giã biệt cha già đang kéo lê chùm gông sợi xiềng nơi biên ải trước khi quay về Lam Sơn Ngẫm thế thù há đội trời chung / Căm giặc nước thề không cùng uống. Vân vân và vân vân: lịch sử của chúng ta, qua những câu chuyện để lại đời sau, bằng miệng hay bằng chữ, hầu như luôn được khơi động bằng những mối thù: mở đầu cho nỗ lực độc lập của ngàn năm nô lệ cũng thế mà kết thúc một ngàn năm nô lệ đó cũng thế, thù riêng đi trước thù nước đi sau.

 

Nếu đấy chỉ là lý cớ để khơi nguồn thì, ít ra, những dấu ấn để lại từ những va chạm với chủ nghĩa thực dân, nguyên thủy hay hiện đại, cho đến những va chạm sinh tồn qua những cuộc xâm lấn triền miên cũng phải hằn lại trong ký ức tập thể của chúng ta những trăn trở, ưu tư có cùng tầm cỡ chứ? Mười thế kỷ nô lệ đâu phải chuyện đùa? Hơn bốn ngàn năm nhưng mất hết một ngàn bị đô hộ và hơn ba ngàn đầy tai ương và nhục nhã đâu phải là chuyện đùa? Đâu phải là chuyện đùa với cái cảnh triền miên chia tay, triền miên mất mát:

 

Cái cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

Nàng về nuôi cái cùng con

Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng

 

của thời nào đó không rõ, hay, cái cảnh:

 

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

Vùi con đỏ xuống hầm tai vạ

Dối trời hại dân, gian xảo đủ muôn nghìn lối

Gây binh nhóm loạn, tàn hại trải hai mươi năm

Bại nhân nghĩa nát cả đất trời

Ngặt thuế khoá, sạch không đầm núi...

 

mà Nguyễn Trãi đã, lòng dặn với lòng:

 

Ngẫm thù lớn há đội trời chung

Căm giặc nước thề không cùng uống

 

rồi những phát đại bác ầm ầm và những đội hình biển người tràn qua biên giới:

 

Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới

Gọi toàn dân ta vào cuộc chiến đấu mới

Quân xâm lược bành trướng dã man

Đã dày xéo mảnh đất tiền phương

Lửa đã cháy và máu đã đổ

Trên khắp nẻo quê hương... (2)

 

hết thảy đều đâu phải là chuyện đùa? Thế mà, cái di sản nặng nề đó hầu như vẫn chưa đủ nặng và mạnh để ám ảnh trong trí não chúng ta như một bản năng sinh tồn, một ý thức tự vệ sự văn hoá.

 

Nhớ, những ngày "tiếng súng đã vang" năm ấy. Cái năm, hãy còn rất trẻ, tôi đã ngạc nhiên biết bao khi khám phá ra rằng, rất nhiều người lớn quanh mình, lớn từ kiến thức cho đến vốn sống v.v..., lại lấy làm.... khoan khoái. Tổ quốc thì, dù gì thì gì, cũng đang bị đe doạ nhưng họ thì sướng lắm, hể hả lắm. Bốn ngàn năm mệnh nước nổi trôi thế mà chẳng thể nào sánh nổi bốn năm đời nổi trôi, bốn năm của 1979 trừ đi 1975. Nổi trôi của Đinh, Lý, Trần, Lê... trong phút chốc chẳng là cái quái gì so với một khoảnh năm tháng ngắn dài cải tạo, chẳng là cái quái gì so với cái cơ cực của màu đất đỏ dưới cái nắng chói chang vùng kinh tế mới, chẳng là cái quái gì so với bộ mặt đăm đăm khó ưa của viên công an hay gã bí thư, chủ tịch v.v... Với những thế thù con đang "ngẫm" một khối trong lòng thì trúc Nam Sơn ngày xưa, dù có chặt hết; nước Đông Hải thời nào, dù có tát cạn, dường như vẫn chưa đủ để lay động những ý thức tự vệ lịch sử mơ hồ, như một ký ức còn sót lại của những thời đã quá đỗi xa xăm.

 

Tôi không sách động thù hận. Tôi cũng không kêu gọi chúng ta hãy nuôi dưỡng những dày vò của quá khứ mà chỉ muốn nói lên rằng, với những trang sử "Chặt hết trúc Nam Sơn khó ghi đầy tội ác" kia thì, chí ít, cái di sản nghiệt ngã đó cũng phải để lại trong tâm hồn chúng ta những vết hằn chai sạn nào đó cho xứng đáng chứ? Ít ra là một dấu ấn nào đó như một ý thức tự vệ đối với những giá trị tinh thần của mình chứ không thể nào mơ hồ phơ phất như thế được.

 

Mờ nhạt đã đành, nó còn đâm trái ngược nữa. Cứ để ý cái nhiệt tình sôi nổi đằng sau mấy lập ngôn kêu gọi "bảo tồn" rồi "phục hưng văn hoá" mà thực chất chỉ là khép nép giữ mình theo khuôn mẫu của ông thầy Trung Hoa thì chúng ta, nói như Nguyễn Huy Thiệp, có khác nào những cô gái ngu si đem lòng đi yêu cái tên bạo dâm đã hãm hiếp, đã phá trinh, đã làm tanh banh tấy bấy đời mình? Hời hợt trước những dã tâm sâu độc của kẻ thù đã đành, chúng ta còn lấy làm làm sung sướng và hãnh diện để nguyên vẹn là giọt máu rơi rớt lạc từ phương ấy lạc sang.

 

Không phải là cha ông chúng không từng lo âu sợ hãi với cái sự hoá thân làm giọt máu rơi rớt đó. Nguyễn Trãi, trong Bình Ngô Đại Cáo, chẳng hạn:

 

Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ coi đã chia

Phong tục Bắc, Nam cũng khác...

 

Thì "Bắc, Nam cũng khác", cái "khác" mà sau này, như Quang Trung đã nêu rõ trong Hịch đánh Thanh: Đánh cho để dài tóc / Đánh cho để răng đen! Tuy nhiên, nói cho cùng thì, những yếu tố như thế, cùng lắm, cũng chỉ là những yếu tố bề ngoài hay những nghi thức bề ngoài, chỉ là những điều bắt mắt và thuận tai để vận dụng như những yếu tố tâm lý chiến dưới những hình thức đơn giản nhất thế thôi.

 

Khi mà cái "khác" giữa ta và kẻ thù chỉ được nhấn mạnh và dừng lại ở mức độ bề ngoài thì ý thức tự vệ văn hoá của chúng ta cũng sẽ bị điều kiện hoá với những phong cách hời hợt bề ngoài như thế. Nông cạn cái bên trong nên mới chú ý cái bên ngoài. Thiếu khí thì mới vận thân. Chính vì bản ngã văn hoá của chúng ta mờ nhạt nên cái chiều dài xung đột ấy chẳng thể nào nuôi cấy nổi một ý thức, một bản năng tự vệ, và có đọng lại, nó cũng chỉ đọng lại ở những dấu tích cụ thể, qua những câu chuyện cụ thể, với những mối thù cụ thể, như một thứ lịch sử mang tính tự sự. Vì nó dễ nhận, dễ nhớ. Và dể kể lại đời sau.

 

Chính vì thế mà sau khi đã đánh đuổi đội quân xâm lược về phương Bắc, Nguyễn Trãi lại dốc hết hết hào khí của một đấng anh hùng để hướng về... phương Bắc. Khi Thái giám Lương Đăng đề nghị thay đổi lễ nhạc Trung Hoa để sử dụng lễ nhạc riêng của nước Nam, Nguyễn Trãi đã hùng hồn viện cớ khuôn vàng thước ngọc Trung Hoa để mắng vào mặt viên hoạn quan ngay giữa sân chầu: sau bao nhiêu năm va chạm tóe lửa để khẳng định "phong tục Bắc Nam cũng khác", sau bao nhiêu năm "ngẫm thế thù" để bác bỏ một thứ trời chung trên đầu và một thứ nước chung trong miệng thì, từ trong thâm tâm, Nguyễn Trãi đã xích lại gần với Hồ Qúy Ly, cái lúc họ Hồ khẳng định khuôn vàng thước ngọc của phong hoá nước Nam:

 

Dục vấn An Nam sự

An Nam phong tục thuần

Y quan Đường chế độ

Lễ nhạc Hán quân thần...

 

(Đáp Bắc Nhân Vấn An Nam Sự, Hồ Qúy Ly) (3)

 

Điều lạ lùng là ai cũng dễ dàng ca ngợi sự can đảm nhỏ của một đại thần mà không nhận ra cái dũng cảm đầy vĩ đại của một viên quan mọn. Lương Đăng muốn "lễ nhạc Bắc, Nam phải khác". Nguyễn Trãi đòi hỏi "lễ nhạc Bắc, Nam không khác". Mắng viên hoạn quan được sủng ái giữa triều đình, có thể Nguyễn Trãi đã thể hiện cái đảm lược của một con người chính trị, tuy nhiên, khi kêu gọi cho một sự độc lập về lễ nhạc của triều đình, Lương Đăng đã thể hiện sự dũng cảm của con người tự chủ khi vượt qua não trạng của cả mấy thế hệ nho thần luôn cúc cung xem Trung Hoa là thầy, là trung tâm của vũ trụ. Và như thế, như là nhà văn hoá lớn của dân tộc, Nguyễn Trãi đã không có cái hào khí của viên quan chỉ biết có việc phục dịch và hầu hạ!

 

Cũng "khác" những cái khác bề ngoài như thế, Đồ Chiểu đã trải nỗi lòng mình cùng vong hồn những nghĩa sĩ Cần Giuộc, cái ngày thực dân mới mon men đến chiếm đất nước ta:

 

Tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng, trông tin quan như nắng hạn trông mưa

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ

Đêm thấy bòng bong che trắng lốp những muốn ăn gan

Ngày xem ống khói chạy đen sì toan ra cắn cổ

Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hưu

Hai vừng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó...

Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc nghĩ lại thêm buồn

Sống làm chi ở lính mả tà, chia rượu ngọt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ...

 

Một mối hận – nhục như thế tưởng phải muôn đời muôn kiếp không tan, tuy nhiên, khi nó chỉ gắn liền với những hình tượng cụ thể – những "bòng bong che trắng lốp", những "ống khói chạy đen sì" v.v.. – thì, lúc đã quen mắt hay nhận ra tính hiệu dụng của chúng như những phương tiện kỹ thuật rồi, chúng cũng dễ dàng phôi pha, tan biến. Mà thật, nếu ngày xưa Nguyễn Trãi quên đi cái sự "Bắc Nam cũng khác" để mắng Lương Đăng giữa triều đình thì những hận nhục tưởng là muôn kiếp không tan của Đồ Chiểu cứ là quá dễ tàn phai. Đó đây, như đã thấy trong nhiều thiên hồi ký, cái quá khứ "chia rượu ngọt, gặm bánh mì" dưới những hình thức... sang hơn, của tổ tiên hay của chính người trong cuộc, lại trở thành những dấu tích đầy hãnh diện của sự vinh hiển: bốn năm thế hệ thành công rạng rỡ mà cũng chẳng khác nào bốn năm đời bán nước, bốn năm đời làm Việt gian.

 

Thậm chí khi, Quang Trung, sau Hịch đánh Thanh:

 

Đánh cho để dài tóc

Đánh cho để răng đen

Đánh cho nó chích luân bất phản

Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn

Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ

 

đã đi xa hơn hình thức "tóc dài" và "răng đen" bề ngoài với nỗ lực cải cách bỏ Hán thay Nôm để "sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ" thì cái "khác" ở đây cũng chỉ là cái khác của hình thức thế thôi, cũng chỉ là vận dụng cái của người và chế biến sao cho... khác của người chứ chẳng có một cội rễ thâm sâu nào. Nếu chữ Nôm là một hình thức kết hợp hai chữ Hán để ký âm và ký nghĩa một "từ" của tiếng Việt thì đấy, cái phương pháp chẳng mới mẻ gì này, chỉ là một sự rối tung hoá ngôn ngữ và là một cách "khác", một cách khẳng định mình rất thiếu tự tin.

 

Chúng ta thiếu tự tin nhiều lắm. Thiếu tự tin đến độ hiếm khi có được một sự thoải mái thực sự khi giáp mặt với những khúc quanh của tình thế, khi phải đứng trước những chọn lựa sinh tử hay trong cách tự đánh giá mình qua những chọn lựa đó. Đọc hai tập III và IV của bộ Quân sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà (QLVNCH) (4), tôi cảm thấy có cái gì đó lấn cấn, không bình thường, và tôi cũng ngờ ngợ rằng chính tác giả cũng từng lấn ca lấn cấn như thế. Trong tập III, Quân dân Việt Nam chống Tây xâm: 1857–1945, cái sự phân biệt ta-thù rất là rành mạch, đâu ra đó, như hai đường thẳng song song qua những từ ngữ rành mạch và gãy gọn với nào là "dã tâm", "thâm độc" hay "manh tâm" v.v... ném vào mặt thực dân, không chút e dè... Tuy nhiên, khi bước sang tập IV, QLVNCH trong giai đoạn hình thành 1946?1955, cái giọng điệu ta-thù kia mới trở nên lúng túng làm sao! Hai đường thẳng song song bắt đầu cong dần, vẹo dần để từ từ nhập lại thành một: từ tư thế ta-thù thật rõ ràng, tác giả dần dần chuyển giọng, thoạt đầu thì cố làm ra vẻ bàng quan như khi nói về trận Điện Biên Phủ rồi mới đổi thái độ ta-ta hẳn, quanh cái ngày.... bàn giao.

 

Dĩ nhiên, đấy là một bối cảnh chính trị tế nhị. Rất nhiều người tham gia kháng chiến bằng cả tấm lòng yêu nước của mình và khi nhận ra bộ mặt thực của kháng chiến thì quay sang hợp tác với kẻ cựu thù, tuy nhiên đó lại là chọn lựa cá nhân: cá nhân có những băn khoăn cá nhân, tùy người, tùy thời. Nhưng với một chọn lựa lớn hơn, tin là đúng đắn và hợp lý cho dân tộc thì tại sao phải lúng túng như thế? Sự thiếu trung tính ở ngôn ngữ xưng hô của chúng ta cũng là một lý do nhưng, nếu những thế đứng và những chọn lựa ấy bắt rễ từ một ý thức tự vệ văn hoá đủ đậm và đủ mạnh, xuất phát những băn khoăn sinh tử về mệnh hệ văn hoá của mình thì việc đi với ai, liên minh với ai đâu có làm chúng ta lấn ca lấn cấn như thế? "Bán nước" hay "Việt gian", không hẳn là những yếu tố bên ngoài và nhất thời như liên minh với ai cho dù đó là kẻ cựu thù: vấn đề chỉ là chọn lựa đó có đi ngược với mệnh hệ văn hoá của mình về lâu về dài hay không. Chính vì thiếu tự tin với sinh mệnh lâu dài của của mình nên chúng ta mới khổ tâm với những điều chi phối trước mắt.

 

Mỉa mai thay, sự thiếu tự tin ấy lại cho phép chúng ta dệt nên nhiều ảo tưởng, như cái ảo tưởng về những giá trị văn hoá bao dung, chẳng hạn. Bao dung với "Tam giáo đồng nguyên". Bao dung với Thiên Y Thánh Mẫu Ana. Bao dung với bao nhiêu là thần thánh khác từ, Tây sang Đông và từ Nam xuống Bắc. Cứ xem: trong khi người Hồi Giáo và người Bà La Môn hung hăng còn xông vào đập phá đền đài thánh tích của nhau thì, từ mấy thế kỷ trước, cha ông ta, trong trên bước đường Nam Tiến, có ra tay đập phá những thánh tích của người Chàm bao giờ đâu?

 

Nhưng, cứ hỏi, nếu đã bao dung như thế thì tại sao chúng ta có thể triền miên nhân danh cái này cái kia để đày đoạ, để tàn hại lẫn nhau và để nuôi dưỡng hận thù dù là với anh em một nhà? Khi dễ dàng và thoải mái chấp nhận một tín ngưỡng xa lạ nào thì, thật ra, chúng ta cũng chẳng khoan thứ gì mà chẳng qua là chúng ta dễ dàng bị tạp nhiễm bởi sự yếu ớt của sức đề kháng văn hoá. Mỏng quá nên nó dễ thẩm thấu. Mờ quá nên dễ bắt màu. Thiếu tự tin với những thần thánh của mình thì dễ dàng sụp lạy trước những thần linh xa lạ: từ Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề cho đến Phật, Thái thượng Lão quân hay Thiên Y Thánh Mẫu Anna, thậm chí Victor Hugo hay Đông Phương Sóc v.v... bất kể là ai, miễn là thuộc về thế giới siêu nhiên, miễn là thuộc vềt hế giới thần linh đều trông đáng sợ và đáng tôn thờ:

 

Thì, Thủy Tinh cũng là một thứ thần. Cái ông thần trong một truyền thuyết mơ hồ về thời kỳ lập quốc, chẳng hề dính dáng gì đến chiến tranh xung đột mà may ra thì dây mơ rễ má với một công trình xây dựng thuộc hàng vĩ đại nhất trong lịch sử của dân tộc. Cái ông thần đã thù một mối thù thực vớ vẫn và đã trả thù thực dữ dội. Cái vớ vẩn của một mối thù đặt không đúng chỗ. Cáo trơ trẽn của kẻ đến sau mà khư khư đòi được đối xử như người đến trước, của kẻ – dù đã chấp nhận luật chơi – nhưng lại hung hăng đòi làm lại luật chơi ngay khi vừa biết tin mình đã thua cuộc: lề luật, nếu có, chỉ được tôn trọng khi phần lợi hay phần thắng nghiêng về mình. Nghĩa là một văn hoá cạnh tranh, một văn hoá thù hận hãy còn bán khai và nhếch nhác.

 

Hầu như chúng ta cũng thế, như thần. Những cái đáng khắc ghi và ghi cho thật đậm, chúng ta cứ phơ phất, lông bông. Những cái vớ vẫn, không đâu vào đâu thì lại ghìm chặt, làm như thể đầy là điều phải ghi xương khắc cốt. Chính vì thế mà, lắm lúc, khi lồng lộn căm hờn, trông chúng ta dữ dội vô cùng mà cũng trơ trẽn vô cùng, cũng không thoát khỏi vẻ gì đó bôi bác, hề hề. Không hề hề như ông thần lồng lộn cả người lên với mối thù hụt vợ thì cũng vô nguyên tắc như nhà thơ lớn, người, dù đã "Ngẫm hay muôn sự tại Trời" mà vẫn không mảy may động đến ôngTrời, chỉ đè đầu những con chốt thí của Trời ra cứa cổ...

 

Nguyễn Du không biết trả thù hay là sợ, không dám trả thù Trời? Thì ông ta cũng như chúng ta thôi với cái di sản tinh thần ở đó thù văn hoá thì hầu như không có còn văn hoá thù thì cứ là nhếch nhác lung tung...

 

Nguyễn Hoàng Văn

Sydney 28.3.2002

 

Chú thích

 

1. The clash of civilisation and the remaking of world order (Samual Phillips Huntington); thoạt đầu chỉ là một tiểu luận chính trị đăng trên tạp chí Foreign Affair, Autume 1993. Sau khi khai triển vấn đề rộng hơn và sâu hơn, tác giả cho xuất cuốn sách có cùng tên lần đầu vào năm 1997.

 

Cần nhắc lại một ý tưởng lý thú của tác giả nhưng bị các tác giả Việt Nam bỏ quên là mô hình "tiến hoá" của chiến tranh: trong lịch sử loài người, chiến tranh "tiến hoá" từ mức độ xung đột giữa các bộ tộc đến xung đột giũa các lãnh chúa, giữa các ông vua, giữa các quốc gia và giữa các ý thức hệ (Chiến tranh Lạnh). Trong tương lai, chiến tranh có diễn ra thì nó sẽ diễn ra như là xung đột giữa những nền văn minh. Tác giả giả định là cuộc chiến này sẽ khởi sự đâu cỡ năm 2010, bắt đầu từ xung đột Việt – Hoa tại Biển Đông, có sự tham gia của Mỹ (đứng vào phía Việt Nam). Lợi dụng lúc Trung Hoa bị bó tay này, Ần Độ đánh phủ đầu Pakistan và điều này lại lôi kéo khối Hồi Giáo và họ liên kết nhau để tấn công.. Do Thái v.v.... (xem từ trang 312).

 

Nhân nhắc đến xung đột văn hoá hay tín ngưỡng cũng xin mở ngoặc nói thêm đôi chút về gốc gác của một số từ ngữ thuộc phạm trù... khủng bố: trong Anh ngữ, đa số các từ ngữ liên quan đến khủng bố đều có gốc gác từ tôn giáo. Nhiều bài viết chú ý đến đề tài khủng bố trên báo chí Việt ngữ trong suốt thời gian qua đã bỏ sót những chi tiết lý thú và rất đáng chú ý này:

 

- "Ám sát", tức "assassin", có nguồn gốc Ả Rập với ngữ nghĩa là "người nhai nhựa cần sa" (hashish eater). "Ám sát" mà là cái gì đó tương đương với sự chích choác nghiện ngập của hôm nay? Hashish là loại nhựa mang tính ma túy, chiết xuất từ hoa và đọt lá của một loại cây gọi là hemp ở Ần Độ hay Trung Đông, tương tự như cây cần sa. Trong cuộc "Thập tự chinh" kéo dài từ năm 1090 đến năm 1272, những tín đồ Hồi Giáo Shi'a tại vùng đất thuộc lãnh thổ Syrie và Iran hôm nay đã tập hơp trong một tổ chức kháng chiến lấy tên là "Assassin". Tuy nhiên tên này lại xuất phát từ một nghi thức tôn giáo khi họ nhai nhựa cần sa trước khi xuất trận: họ đi vào cuộc tử sinh, đi vào con đường tử đạo trong một trạng thái lửng lơ, mê dại.

 

- "Cuồng đồ", tức "zealot", thì gốc gác từ cổ tự Hebrew, là tên của một giáo phái của người Do Thái từng đứng lên chống lại cuộc xâm lăng của người La Mã, diễn ra từ năm 66 đến 73 sau Công Nguyên. Trong thế yếu họ chọn chiến thuật khủng bố kiểu mạng đổi mạng để chống lại kẻ thù.

 

- "Thug" nghĩa là "phường vô lại, du thủ du thực"; hay là những thành phần xã hội đen được các thế lực chính trị bá đạo sử dụng để khủng bố tinh thần đối phương, (thí dụ như Bình Xuyên, hay những thành phần du đảng làm chính trị tại một số nước Phi Châu hiện nay). Chữ "Thug" nguyên là tên của một giáo phái thuộc đạo Bà La Môn, hành đạo y hệt những bọn cướp đường, tác oai tác quái từ thế kỷ thứ 7 cho đến khi bị trấn áp vào thế kỷ 19. Trong suốt 12 thế kỷ, những tín đồ của "Thug" đẵ thường xuyên chặn đường khách bộ hành giết người cướp của, và giết bằng cách bóp cổ cho đến chết như một cách hiến tế cho nữ thần Kali, vị thần của sự khủng bố và hủy diệt.

 

2. Ghi lại theo trí nhớ. Bài hát được phổ biến tại VN sau khi cuộc chiến Việt?Hoa 1979 nổ ra.

 

3. Những câu tiếp là:

 

Kim đao chước tế lân

Niên niên nhị tam nguyệt

Đào lý nhất ban xuân

 

Dịch:

 

Nước Nam như có hỏi

Tục nước Nam rất thuần

Vua tôi theo lệ Hán

Áo mão giống đời Đường

Dao vàng, cá vảy nhỏ

Bình ngọc, rượu lừng hương

Mỗi độ mùa xuân tới

Mận, đào nở chật vườn

 

4. Phạm Văn Sơn chủ biên.

 

■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■

Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách

Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập