Kee Hee Lee - Simplicity

về văn minh cổ và
nguồn gốc dân tộc Việt Nam
trả lời nhóm Tư Tưởng

nguyễn quang trọng

 

 

Trước hết, xin cám ơn các tác giả Cung Đình Thanh, Nguyễn văn Tuấn, và Nguyễn Đức Hiệp đã cống hiến cho cộng đồng những công trình nhiều giá trị, và hân hạnh cho riêng tôi, nhân qua bài viết trên Hợp Lưu số tháng 4 năm 20021 , hôm nay được các tác giả thảo luận phê bình nghiêm túc trên căn bản khoa học cũng như cung cấp thêm tài liệu về văn minh cổ và nguồn gốc dân tộc Việt Nam2, theo lời họ tự giới thiệu, tôi xin phép gọi chung cả ba tác giả là "nhóm Tư Tưởng".

 

Việc phê bình các giả thuyết không những là chuyện thường tình, mà còn hữu ích. Hữu ích vì có thảo luận thẳng thắn các quan điểm mới có thể sáng tỏ, các giả thuyết có cơ hội điều chỉnh để trở thành sự thật hoặc bị lọai trừ vĩnh viễn hoặc vẫn cứ còn là giả thuyết. Và dù sao đi nữa, ngay những giả thuyết trở nên sai lầm vì bị tiến triển khoa học phản bác hoặc vì bị cải chánh bởi nhiều bằng chứng mới khác được thu thập sau đó, cũng đã đóng góp "vai trò lịch sử" của chúng, vì chúng đã thúc đẩy khiến sinh ra những phản đề, những chứng minh hoàn toàn khác hay ngược hẳn.

 

Trong các ngành khoa học thực nghiệm, một giả thuyết có thể được kiểm chứng qua những thí nghiệm hay phản nghiệm do ngườikhác thực hiện để làm sáng tỏ vấn đề.

 

Ngành khảo cổ là ngành khó hay không thể kiểm nghiệm được (trừ phần kỹ thuật). Một vết tích, một di vật hay di cốt đào lên rồi không còn nằm trong tầng đất khảo cổ nữa, nên người khác muốn xem xét lại chỉ có thể nghiên cứu, quan sát (hay thử nghiệm) trên món đồ đã nằm ở bên ngoài nơi chốn khám phá đầu tiên. Việc định tuổi các di tích cổ rất tế nhị, có rất nhiều di vật / di cốt không thể được trực tiếp định tuổi. Nghĩa là người ta phải suy tuổi chúng bằng cách so sánh với những gì có thể định tuổi thẳng (bằng phương pháp C14 và nhiệt huỳnh quang) nằm trong cùng lớp đất khảo cổ. Trong rất nhiều trường hợp, đất bị xáo trộn do thiên nhiên hay con người, làm sai lạc việc suy ra tuổi. Sự phân hủy nhanh chóng các vật chôn dưới đất ở vùng nhiệt đới, cũng như sự kiện vùng thềm lục địa ngập nước làm mất một số bằng chứng quan trọng. Đối với vùng Đông Nam Á, những nhà khảo cổ được nêu tên trong hai bài trên đã đưa ra nhiều giả thuyết trong những thập niên gần đây, nhưng hiện nay vẫn chưa có sự đồng thuận về nguồn gốc và đường thiên di của các nhóm dân trên đảo Đài Loan, Indonesia, Đông Nam Á lục địa và hải đảo, Đông Bắc Á, Úc châu.

 

Nói chung, rất khó chứng minh một giả thuyết (hoàn toàn) sai trong ngành khảo cổ, vì thường có một số dữ kiện phù hợp, có thể chứng minh cho giả thuyết đó, và ngược lại cũng có các dữ kiện khác phản bác. Dĩ nhiên, các tác giả thường hay lựa chọn số dữ kiện (và giả thuyết cục bộ)phù hợp nhất với giả thuyết của mình. Như thuyết mới của Oppenheimer, tuy chống lại thuyết cũ của Bellwood, nhưng không có nghĩa là thuyết của Bellwood bị đào thải, và người ta vẫn còn tiếp tục tìm ra thêm dữ kiện phù hợp với thuyết của Bellwood, kể cả dữ kiện sinh học di truyền3. Hay thuyết của Nichols về đường di chuyển của ngôn ngữ Đông Nam Á tư ?biển lên núi không loại trừ thuyết ngược lại của Blust.

 

Ngành khảo cổ không phải là ngành chuyên môn của tôi, mà chỉ là ngành tôi say mê tìm hiểu. Cho nên kiến thức tôi giới hạn, cần được bổ sung, nhất là về mặt dữ kiện. Nhờ bài của nhóm Tư Tưởng, tôi biết thêm một giả thuyết mới. Đó là giả thuyết gốm Lapita có nguồn từ gốm cổ tìm thấy ở Việt Nam, tôi rất mong được đọc tài liệu về giả thuyết này. Sở dĩ tôi đề cập đến gốm Phùng Nguyên (giai đoạn Đồng Đậu) khi nói về gốm Lapita vì thấy hoa văn trang trí gốm của hai loại gốm có nhiều nét tương tự (xin xem hình a và b). Thật ra không dễ kết luận gốm loại này là bắt nguồn từ gốm kia ; phải hội đủ nhiều dữ kiện mỹ thuật và kỹ thuật để so sánh chúng trên nhiều khía cạnh : trang trí, hoa văn, hình dáng, kỹ thuật tạo mô típ, nguyên liệu dùng, thành phần, độ mịn, độ dày, loại màu dùng, nhiệt độ nung qua tính chất cứng chắc. Sự gần gũi về hoa văn và hình dáng giữa gốm Lapita và gốm Bắc Sơn (khám phá bởi Saurin trước năm 1940) tại Thường Xuân / Quỳ Châu, Thanh Nghệ Tĩnh, đã được Golson trình bày năm 19674. Nếu hai loại gốm này giống nhau trên cả hai khía cạnh mỹ thuật và kỹ thuật, hoặc có thêm bằng chứng khác, khi đó người ta mới có thể đặt giả thuyết gốm Lapita có gốc gác từ Việt Nam. Trong trường hợp này, những di dân từ Thanh Nghệ Tĩnh đến Lapita phải là người nói tiếng Nam đảo, vì ai cũng biết chỉ người nói tiếng Nam đảo mới có khả năng di chuyển trên biển cả để đến tận những đảo xa. Nếu thật thế thì điểm này lại phù hợp với giả thuyết của tôi về sự di dân của người nói tiếng Nam đảo từ thềm vịnh Hạ Long đến vùng duyên hải trên toàn vịnh Bắc Việt, khi thềm vịnh Hạ Long bị ngập.

 

Cũng vì không có kiến thức khảo cổ thực tiễn nên tôi hoàn toàn căn cứ vào báo cáo khoa học của các nhà khảo cổ trong nước để có chi tiết về Tiền Sử ở Việt Nam, đặc biệt là những công trình tổng kết về thời Sơn Vi, thời đồ đá, thời kim khí, thời Đông Sơn, và "Theo dấu các nền văn hóa cổ." Đội ngũ các nhà khảo cổ Việt Nam, say mê nghề, và giàu kinh nghiệm thực địa, đã có công lớn trong việc khai quật, phân loại liên tục các di tích trong nước. Họ thiếu phương tiện, nhưng không thiếu nhiệt tình, không quản công sức. Từ gần năm mươi năm nay, chính họ đã sắp đặt những dữ kiện về khảo cổ Việt Nam theo thời kỳ, văn hóa (trừ vài công trình trong miền Nam của Saurin). Họ thận trọng trong việc phân tích, tổng hợp, và không kết luận vội vã bởi vì họ thực hành với tinh thần trách nhiệm công tác khảo cổ chuyên nghiệp. Ầy thế mà họ vẫn không tránh được chỉ trích của đồng nghiệp ngoạiquốc, như trong trường hợp di chỉ núi Đọ5.

 

 

Những đồng thuận tổng quát, những khác biệt tiểu tiết

 

So sánh bài của tôi và bài của nhóm Tư Tưởng, người ta có thể tìm ra những điểm đồng thuận, tuy có sự khác biệt về ngôn từ. Dĩ nhiên cũng có những khác biệt về quan điểm, mà tôi cho là do diễn giải, và do đôi bên dựa vào một vài dữ kiện khác nhau. Các quan điểm cũng như dữ kiện khác biệt vẫn có thể bổ túc lẫn nhau, vì ít ai nắm được toàn bộ các khám phá, các dữ kiện cũ mới, trong bối cảnh sinh động của ngành khảo cổ Đông Á.

 

1- Điểm đồng thuận đầu tiên là hướng di dân của người hiện đại sapiens vào Đông Á, dựa trên kết quả di truyền học (phân tích mtDNA và Y-chromosomes của Chu et al. và Su et al.). Nói vắn tắt là khoảng 60000 năm trước, khi người sapiens từ Phi Châu di chuyển về phía đông đã đến vùng Đông Nam Á,trong đó có Việt Nam, trước khi lên tới Đông Bắc Á. Nhưng tôi không dùng từ "bắc tiến" để chỉ sự thiên di. Mặt khác, tôi không xem những người đến và ở lại đất Việt Nam vào 60000 năm trước này là người VN cổ, vì theo tôi, họ thuộc chủng (tiền-)Australoid, chủng đã ngự trị trên toàn vùng Đông Nam Á thời cổ đến cuối thời đá cũ, chứ không phải là chủng nam Mongoloid như người Đông Sơn Việt ngày nay. Tuy nhiên nếu nói họ là người VN cổ vì đã truyền lại một phần nhiễm thể cho người Việt ngày nay thì cũng chấp nhận được, nhưng xin lưu ý là chưa có bằng chứng sinh học di truyền về điểm này, dù tôi tin là người Việt thừa hưởng một phần genes của người cổ sinh sống ở Bắc Việt (xin xem đoạn nói về genes trong bài của nhóm Tư Tưởng). Muốn như thế phải có nghiên cứu và so sánh mtDNA chứa trong di cốt cổ ở Bắc Việt với mtDNA người VN ngày nay, thí dụ như trường hợp công trình thực hiện trên di cốt sáu người cổ sống trên bán đảo Mã Lai mới được công bố kết quả: các người cổ nói trên, sống hai mươi sáu ngàn năm đến tám ngàn năm trước đây chính là tổ tiên của thổ dân Semang và Senoi6 hiện sống trên cùng vùng ấy.

 

2- Một cách tổng quát, tôi cũng đồng ý nguồn gốc của việc trồng lúa là ở vùng Đông Nam Á, nếu xem vùng này bao trùm luôn nam Trung Hoa2 theo định nghĩa địa lý. Trong bài trước trên Hợp Lưu, tôi dùng từ Đông Nam Á để chỉ thực thể chính trị ngày nay, nghĩa là Đông Nam Á không bao gồm miền nam Trung Hoa. Khi nói về những người trồng lúa đầu tiên ở lưu vực Trường giang, tôi muốn nói đến nhóm người sống tại đấy vào những thiên niên kỷ trước công nguyên. Tôi đã nói rõ trong bài trên Hợp Lưu1 (cũng như trong bài Tổ tiên tộc Việt cổ tại Triết Giang) là dân nam Trung Hoa cổ không thuộc tộc Hán, mà là người cổ đến từ Đông Nam Á.

 

Một ngày nào đó, những kết quả khảo cổ mới sẽ cho biết vị trí chính xác của cái nôi nghề trồng lúa. Ngay bây giờ, một số kết quả công bố tại hội nghị quốc tế về Khảo Cổ Nông Nghiệp năm 1997 tại Nanchang (TQ) cho thấy vài di tích dọc sông Dương tử hội đủ bốn điều kiện cần cho việc chứng minh nguồn gốc sự trồng lúa7: có vết tích trồng lúa hoang và lúa thuần hóa, có di tích người với công cụ trồng lúa, và có môi trường thiên nhiên thích hợp cộng với áp lực đòi hỏi về lương thực khiến cư dân đó phải trồng lúa. Di tích cổ nhất loại này là Xianrendong gần động Diaotonghuan1 nhưng xưa hơn Diaotonghuan nhiều (lúa hoang -20 000 năm, lúa thuần hóa -11 000 năm và lúa trồng - 8000 7 ). Tôi không thấy, không biết có những bằng chứng tương tự cho di tích hang Sakai ở bán đảo Mã Lai, hay ở đồng bằng Bắc Việt1, nên về chi tiết, tôi vẫn nghĩ gốc gác lúa trồng là tại vùng lưu vực Trường giang. Trong khi chờ đợi tìm được ở Việt Nam dấu vết lúa xưa hơn những nơi khác như Sakai, nam Trường giang, tôi xem vùng Đông Nam Á theo nghĩa địa lý tổng quát (tính luôn Nam Trung Hoa) là quê hương đầu tiên của lúa trồng. Tôi không quên hiện tượng nước biển dâng ở vịnh Bắc Việt (cũng như ở những nơi gần biển khác, như bán đảo Mã Lai, như cửa Trường Giang ), nên đã dẫn chứng sách của Oppenheimer8, của Hà văn Tấn9, và đã đặt giả thuyết về di dân tại vùng vịnh Bắc Việt trên hiện tượng này. Xin nhớ rằng mực nước dâng tối đa khoảng 5 mét trên mức biển ngày nay vào khoảng 5500 năm trước, như vậy các vùng rià đồng bằng cao trên (+) 5 m , thì không bị ngập, và cư dân cổ tại các nơi đó chắc chắn đã sinh sống, ăn uống và để lại vết tích. Nếu ở những nơi gần biển khác người ta đã tìm được vết tích lúa cổ (Sakai trên bán đảo MãLai, Hemudu gần cửa biển của Trường giang1) thì ngày nào đó cũng sẽ tìm ra vết tích lúa cổ ở Bắc Việt. Tuy nhiên, như nhóm Tư Tưởng đề nghị, chúng ta có thể xem vị trí chính xác của nghề trồng lúa là "tiểu tiết", và những tài liệu mới đã dẫn1,7 không làm thay đổi kết luận tổng quát.

 

3- Đồng thuận tổng quát về Đông Sơn : Người Đông Sơn đã có một nền văn hóa cao; kỹ thuật làm đồ đồng của dân Đông Sơn đạt trình độ rất cao. Sự đồng thuận ngừng ở chữ "cao"; sự khác biệt nằm trong chữ "nhất" sau đó. Là người Việt Nam, sao tôi lại chẳng tự hào với những trống Ngọc Lũ, thạp đồng Đào Thịnh và hàng ngàn đồ đồng tuyệt xảo do tổ tiên Đông Sơn sáng tạo? Nhưng tôi vẫn không đồng ý với chữ "nhất" mà tác giả Nguyễn văn Tuấn đã dùng để chỉ trình độ kỹ thuật này. Để dẫn chứng, tôi có đưa trường hợp đồ đồng kỹ thuật cao Sanxingdui tìm được ở Tứ Xuyên, nhưng không cho niên đại, vì không có niên đại chính xác, mà tôi lại không muốn đưa niên đại Trung Hoa gán cho, là 1200 năm B.C. (trước Thiên chúa). Theo nhiều nhà khảo cổ Tây Phương, Trung Hoa đã gán cho đồ đồng Sanxingdui niên đại trẻ hơn tuổi thật, vì Trung Hoa đã dùng chuẩn niên đại đồ đồng thời Thương để định tuổi một văn hóa đồng thau hoàn toàn khác biệt. Như đã nói1, đồ đồng Sanxingdui được tìm thấy trong hai hố to (có lẽ hố chứa đồ tế lễ) chứ không nằ? trong tầng lớp khảo cổ nên không định niên đại được. Nhưng vì nền văn minh Shu (Thục) đã đúc nên đồ đồng này vốn có mặt tại Tứ xuyên từ 5000 năm trước, thì đồ đồng to tuyệt xảo ấy nhất định phải xưa hơn đồ đồng thời Thương (1300 B.C.), mà nước Tàu vẫn hãnh diện (xin xem thêm phần chú thích 10)

 

Mà ngay cả đồ đồng tế lễ thuộc niên đại nhà Thương (thế kỷ 13 trước Thiên chúa) cũng đã đạt tới đỉnh cao kỹ thuật (đỉnh đồng to chạm hình quái vật, trưng ở bảo tàng Thượng Hải ). Vào thời đó, ở miền Bắc Việt Nam chỉ có đồ đồng loại nhỏ như mũi tên, giáo, lao , nông cụ. Đồ đồng Đông Sơn thường có pha chì nên hoa văn rõ nét và tiếng trống vang xa, nhưng không phải là đặc điểm kỹ thuật: đồ đồng Trung Hoa cũng có chì (thành phần có ghi trong bảo tàng Thượng Hải).

 

Những niên đại cũng như thời kỳ văn hóa tôi dùng đều lấy từ sách khảo cổ Việt Nam9,11, 12, 13. Theo những nhà khảo cổ Việt Nam chính tay khai quật, nghiên cứu, và so sánh với những kết quả khảo cổ vùng Đông Nam Á công bố trên thế giới, thời đại Đông Sơn ở cả hai vùng chính ở sông Mã (nơi có làng Đông Sơn) và sông Hồng, bắt đầu từ thế kỷ thứ 8 trước Thiên chúa (trang 268 sách9 ). Đồ đồng quả đã được đúc ở Bắc Việt sớm hơn, từ thời Phùng Nguyên (tức Tiền Đông Sơn) vào hậu thiên niên kỷ thứ II trước Thiên chúa (trang 145 sách 11), nhưng là đồ đồng nhỏ dạng vũ khí, và nông cụ (liềm...) với số lượng nhỏ hơn số đồ bằng đá 11? Kỹ thuật đồng thau chỉ mới phát triển mạnh vào giai đoạn Đông Sơn chính (giữa thiên kỷ I B.C.) để trở thành tuyệt xảo, với trống, thạp, lưỡi cày, tượng... Xin để độc giả thẩm định xem kỹ thuật đồng thau Đông Sơn như vậy có cao "nhất" hay không. Nhưng đây chỉ là một tiểu tiết, nhất là khi chúng ta muốn xếp hạng. cái đẹp.

 

4- Đồng thuận tổng quát về văn hóa Hòa Bình : văn hóa Hòa Bình có "tính cách rộng lớn và phức tạp, và có phân bố chung rộng khắp Đông Nam Á, nhưng không nhất thiết phát xuất từ Hòa Bình." Về niên đại văn hóa Hòa Bình, tôi dùng niên đại đề nghị trong sách khảo cổ Việt Nam, tức là bắt đầu từ 18000 năm trước (trang 180 sách12) chứ không phải dùng loại niên đại thuần lý luận, không bằng chứng (50000 năm! ) của Solheim1,2. Khảo cổ Việt Nam nhận định nền văn hóa đá cuội (chopper, chopping tools) sớm nhất ở Việt Nam là văn hóa Sơn Vi I1, 14, có trước văn hóa Hòa Bình (trang 107 và 180 sách12). Di chỉ Thẩm Khuyên (32000 năm) thuộc văn hóa này. Còn di chỉ mái đá Ngườm và hang miệng Hổ lại thuộc một kỹ thuật khác thuộc hậu kỳ đá cũ (chương 3, sách 12). Đây là vấn đề từ ngữ chuyên môn; trong khi chưa có sự đồng thuận nhất trí, tôi dùng các từ theo khảo cổ Việt Nam, nhóm Tư Tưởng dùng nhóm từ "văn hóa Hòa Bình" chung cho Sơn Vi, Ngườm, và Hòa Bình (cũng như họ gộp Phùng Nguyên- tiền Đông Sơn vào Đông Sơn) cho gọn hơn, âu cũng là khác nhau điều tiểu tiết. Nhưng tôi cũng xin thông báo là các từ Sơn Vi và Phùng Nguyên đã được dùng trong các Hội nghị quốc tế và trong tài liệu khảo cổ và sách (như Tự Vị Tiền sử của Leroi-Gourhan), Encyclopedia điện tử (như Universalis). Tôi xem đó là điểm son cho ngành khảo cổ Việt Nam.

 

Cũng tương tự như văn hóa Hòa Bình, văn hóa Sơn Vi được phân bố trên một vùng rất rộng; khi xếp một vùng vào văn hoá Sơn Vi không có nghĩa cư dân tại vùng ấy là phát xuất từ địa bàn Sơn Vi Việt Nam. Bởi vì tôi nghĩ nếu một vùng nhỏ như Hòa Bình mà phân phối dân ra bốn phương Đông Nam Á (chưa bao giờ bị biển ngập9), thì vùng đó phải có mức độ sinh sản cao, không đủ lương thực nên cư dân phải đi nơi khác. Theo tôi, Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung là giao lộ, nơi các nhóm dân thời cổ thiên di qua lại vì dễ đi qua hơn vượt cao nguyên Vân Nam hay Himalaya, hay vượt biển Đông, chứ không phải là nơi bắt nguồn các dân tộc Đông Nam Á, dù có một số ở lại. Đặc tính cổ của genes Đông Nam Á chỉ phản ảnh sự thiên di của nhóm người sapiens cổ nhất từ Phi châu (-60000 năm), khi đến Đông Nam Á một số dừng lại ở rải rác, còn số khác đi xa hơn về Đông Bắc và hải đảo.

 

Văn hóa đá cuội (đặc trưng cho vùng Đông Nam Á) rất có thể đã hình thành để đáp ứng với môi trường thiên nhiên của vùng: ở đấy đá lửa (là đá núi lửa silica, dạng không kết tinh, rất cứng, dòn nhưng dễ đẽo) không có hoặc rất khan hiếm, nên cư dân đó phải dùng đá cuội. Đá cuội dễ tìm ra hơn ( trong lòng sông, ở bờ biển), và nếu cuộc sống không đòi hỏi dụng cụ gọt đẽo tỉ mỉ thì họ đâu cần phải bỏ công đẽo. Nó giải thích tại sao dụng cụ cuội của những văn hóa cuối thời đá mới ven biển Thanh Hóa / Nghệ An như Đa Bút, Quỳnh Văn đẽo rất thô, có cuội dùng nguyên không đẽo: vùng này hiếm loại cuội có thể đẽo thành hình chính xác (trang 185 sách 12). Điều này cũng giải thích tại sao người hiện- đại khi đi từ Phi Châu đến Iran, Pakistan, Ần độ vẫn còn đẽo đá lửa, nhưng đến Đông Nam Á thì lại chế dụng cụ bằng đá cuội, ngoại trừ ở một số đảo Indonesia vì các đảo này có đá lửa. Như vậy sự hiện diện của mô hình Hòa Bình trên một vùng rộng lớn Đông Nam Á có thể do tác động của môi trường thiên nhiên, hơn là do người Hòa Bình túa đi khắp nơi.

 

Hai giả thuyết về nguồn gốc dân Việt 1,2:

 

Xin nói ngay là có một khác biệt về ngôn từ trong hai bài 1,2. Dân Việt mà tôi tìm nguồn gốc là những người sống gần đây ở Bắc Việt (khoảng ba ngàn năm trước) có liên hệ trực tiếp với người Việt ngày nay. Nếu lấy cổ sử làm căn bản, thì đó là dân Lạc Việt thời Văn Lang. Trong khi nhóm Tư Tưởng hình như nói đến nhóm dân cổ xưa hơn (từ 60000 năm trước?).

 

1- Trước hết tôi xin bổ túc một số điểm mà nhóm Tư Tưởng đã phê bình để làm rõ hơn giả thuyết thiên di người hiện- đại ở Đông Nam Á của tôi.

 

1.1 -Có gì chứng minh những người cổ lên phía Đông Bắc Á là thuộc chủng Australoid ?

 

Quả thật tôi không có dữ kiện về xương sọ để chứng minh họ là những người thuộc chủng Australoid. Điểm khó khăn là rất ít sọ người được tìm ra ở đấy, dù có di tích đồ đá ở Mông Cổ (văn hóa Hetao) và ở bắc Trung Hoa vào hậu kỳ đá cũ. Ngoài ba sọ thuộc lớp khảo cổ trên ở trong hang Zhoukoudian2 mà Wu Xinzhi xem như thuôc chủng tiền (proto) Mongoloid, người ta chỉ tìm được sọ "Liujiang" (Quảng tây, nam TQ ). Sọ nầy có tuổi định khá trẻ (10000 năm trước), nhưng di vật trong Bailiandong (Bạch Liên Động) gần đó lại có tuổi khoảng 30000 năm trước15.

 

Giả thuyết của tôi là kết quả đến từ những lý luận sau đây:

 

1.1.a-Theo Chu 1,2,16, có những người sapiens từ Đông Nam Á đi lên phía bắc, nhưng họ đến vùng Mông cổ-Siberia vào thời gian nào thì không ai rõ. Khi ta biết rằng con người thiên di qua Mỹ châu bằng cầu Beringia vào khoảng 30000-12000 năm trước2 (vào kỳ băng giá cuối), và kết quả phân tích genes cho thấy các nhóm dân Mỹ châu cócùng gốc di truyền lẫn ngôn ngữ với dân Đông Bắc Á17 (Altai, Ainu, Mông Cổ...), thì trước đó đã phải có người sống tại Đông Bắc Á, và từ đấy họ mới có thể thiên di đến Mỹ châu được. Genes này là genes tổ của dân Altai, tức là người từ Đông Nam Á đã lai với giòng người thiên di?qua vùng Trung Á đến Đông Bắc Á (khoảng 35000 năm trước).

 

Theo hiểu biết của tôi, Chu16 không phủ nhận giả thuyết - được chấp nhận bởi hầu hết các nhà khoa học -theo đó có một nhóm người hiện- đại thứ hai thiên di từ Phi châu xuyên qua vùng Trung Á đến Bắc Á châu mà không vòng qua Đông Nam Á. Chu cũng không hề kết luận, như bài của nhóm Tư Tưởng, rằng người Altai cổ bắt nguồn từ người Đông Nam Á16. Ông chỉ chứng minh là nhóm người Altai cổ này không xuống Nam, ngược với giả thuyết Cavalli-Sforza nêu ra trước đây18, tức là họ không thể là tổ tiên của người Đông Nam Á vì họ đã theo một đường khác, đường qua Trung Á, để đến vùng đông Siberia (độc giả có thể kiểm chứng dễ dàng qua hình 2 của bài "Genetic relationship of population in China"16 ).

 

Sinh học di truyền cũng cho thấy người ở Đông Bắc Á là một nhóm có genes khá khác biệt với genes của nhóm Đông Nam Á, nên tôi suy ra rằng người Đông Bắc Á do người từ Đông Nam Á "Bắc tiến" đã hợp chủng với người Altaic cổ. Sự hợp chủng này phải xảy ra khá sớm (trước - 30000 năm, chứ không phải 15000 năm trước2) để tạo ra người mang genes Altaic lai, đi sang châu Mỹ trước khi biển ngập eo Beringia.

 

1.1.b- Người Đông Nam Á "Bắc tiến" hợp chủng với người Altai cổ là người thuộc chủng gì?

 

Có nhiều khả năng họ là proto -Australoid. Hầu hết các nhà khoa học chấp nhận những người hiện- đại sapiens sống ở Đông Nam Á cho đến hậu kỳ (cuối thời? đá cũ là người thuôc chủng Australoid, theo kết quả nghiên cứu sọ vùng Đông Nam Á, từ Bắc Việt (trang 138 sách 12) đến Mã Lai (Niah), Lào (Tampong) Thái (Saiyok), Indonesia (Wadjak I)...

 

Theo những nhà khảo cổ, sọ người cổ sống ở Việt Nam biến chuyển dần theo thời gian, từ dạng thuần Australoid sang dạng sọ Australoid pha thêm nhiều yếu tố Mongoloid: đó là loại hình trước đây gọi là Indonesian12, 13 thuộc tiểu chủng Nam Mongoloid. Biểu đồ so sánh sọ cổ và sọ hiện đại ở Việt Nam và ở Đông Nam Á (trang 195 sách13) cho thấy có sự khác biệt rõ ràng giữa sọ cuối thời?đá cũ (sọ Động Can và mái đá Nước thời Hòa Bình, sọ Liujiang, Wadjak I, hang trên Zhoukoudian) với sọ thời đá mới, với sọ Đông Sơn cũng như với sọ dân Đông Nam Á ngày nay, mà ba loại sọ kể sau này lại ít khác nhau.

 

Cho nên các nhà khảo cổ Việt Nam kết luận rằng Australoids đã tiếp xúc và hợp chủng với Mongoloids từ thời đá giữa, tạo thành người lai thuộc loại hình Indonesian vào đầu thời đá mới11- 13. Những người này tiếp tục lai với Mongoloids để thành người Đông Sơn 11- 13 (người Đông Sơn ít đen hơn người loại hình Indonesian). Nếu tính ra niên đại, người Australoid là dạng chính tồn tại đến khoảng mười hai ngàn năm trước đây. Vậy nhóm người lên đến Mông cổ vào khoảng 35000 năm trước (gặp và lai với nhóm thiên di qua Trung Á) phải là Australoid.

 

Niên đại này phù hợp với sự kiện một số ít người thuộc chủng Australoid (dạng proto - australoid hay Negrito) còn tồn tại, hiện sống trong miền núi Phi Luật Tân (và tại Mã Lai, Tân Guinea). Thật vậy, những người này là hậu duệ của chủng Australoid thiên di từ vùng Sundaland quanh đảo Kalimantan (Borneo) vào nam Philippins khi đó còn dính với Borneo bằng một cầu đất. Khi băng tan, vào khoảng mười ngàn năm trước, nước biển dâng cao, quần đảo Philippins bị cắt đứt với Đông Nam Á lục địa.

 

Theo các nhà khảo cổ Việt Nam, trong số hàng trăm sọ cổ tìm thấy ở Bắc Việt không có sọ nào thuần Mongoloid (trang 207 sách13).

 

Vì vậy tôi suy ra rằng Australoids không thể tiếp xúc thẳng với Mongoloids ở tại Việt Nam, mà ở xa hơn nữa về phía Bắc, tức là tại trung hay nam Trung Hoa. Sọ Liujiang vừa có nét Australoid và Mongoloid phù hợp với suy diễn này. Tuy nhiên, tôi không biết, theo như nhóm Tư Tưởng khẳng định, rằng xương cốt người cổ thuộc văn hóa Yangshao của tổ tiên Hoa tộc (tộc thuộc chủng Mongoloid) lại thuộc chủng Nam Mongoloid2 nhưng nhiều tài liệu về nhân học cho thấy người hắc chủng (tức là Australoid) còn sống ở bắc Trung hoa ít ra đến cuối thời đá mới, và rất có thể chính họ đã lập ra những triều đại đầu tiên của Trung Hoa: nhà Hạ và nhà Thương19.

 

2- Cư dân thuộc chủng Australoid sống trên miền Bắc Việt Nam vào thời kỳ đồ đá nào? Theo phân tích trên đây, dân thuộc chủng Australoid sống tại Bắc Việt Nam ít nhất đến cuối thời đá cũ (khoảng 12000 năm trước). Những sọ và di cốt ở cả vùng văn hóa Hòa Bình và vùng văn hóa duyên hải khoảng 6000-4000 năm trước còn nhiều sọ đậm nét Australoid (chương Văn Hóa Đá Mới sau Hòa Bình, từ trang 18512). Khi đó, họ còn nói tiếng gốc Austric, hay gốc Austric đã phân thành hai thành phần, với hai ngôn ngữ, tiền- Nam Á (proto- Austroasiactic) và tiền- Nam Đảo (proto-Austronesian)? Điểm này rất khó trả lời, vì theo các nhà ngữ học, việc truy tìm nguồn gốc tiếng nói khó có thể thực hiện ngược giòng quá 4000 năm. Tôi đặt giả thiết là tiếng Austric ban đầu khi đó đã tách ra làm hai, vì trên điạ bàn rộng lớn gồm Bắc Việt và thềm vịnh Hạ Long, với các nhóm dân cư ít ỏi (như mọi nơi khác trên thế giới, trước khi vào thời đá mới) và môi trường sống khác nhau (vùng núi khác vùng biển về thực vật và động vật, khí hậu, khung thiên nhiên), những người sống trên hai vùng khác nhau hẳn đã sáng tạo ra những từ ngữ khác nhau để dễ dàng truyền đạt, trao đổi ý kiến. Khi vùng thềm thấp bị biển dâng ngập, vào khoảng -6500 năm ở vịnh Hạ Long9,12, nơi thềm không sâu quá 50 m, những người đi tị nạn mang theo tiếng nói và phong tục nhóm nói tiếng Nam Đảo đến nơi họ định cư.

 

 

Để kết luận, tôi thấy có đồng thuận giữa tôi và nhóm Tư Tưởng về tổng quát tuy có những dị biệt tạm gọi là tiểu tiết. Tóm tắt ở cuối bài của nhóm Tư Tưởng như sau :

 

"Khởi thuỷ người hiện- đại từ Đông Phi đến Đông Nam Á, rồi từ đó họ tiến lên phía Bắc. Sau vì có sự phối hợp với chủng từ Tây Bắc xuống, họ hợp thành cái cốt lõi của dân sống ở Trung Quốc ngày nay. Giai đoạn này khoảng từ sau 40.000 năm cách ngày nay cho đến 3.000 năm cách ngày nay thì Trung Hoa bắt đầu có loạn Xuân Thu Chiến Quốc. Đến khi nhà Tần thống nhất lục quốc, nhất là từ khi nhà Hán cai trị Trung nguyên, những dân thuộc Đại tộc Bách Việt ở các nước lưu vực sông Dương Tử xuôi về Nam, không chịu sự đồng hóa của người Hoa Hán đã di dần về phương Nam. Một số những người thuộc nhóm này đã sát nhập với dân Lạc Việt"2.

 

Tôi thấy kết luận này không ngược lại với thuyết thiên di của tôi (xem bản đồ và bài 1), trong đó phần giả thuyết về sự gặp gỡ và kết hợp giữa Lạc Long Quân -văn hóa biển (Nam đảo) với văn hóa Ấu Cơ - tiên miền cao (Nam Á) tạo nên văn hóa Lạc Việt (trước khi tiếp nhận văn hóa của nhóm dân Bách Việt từ nam Trung Hoa chạy trốn tộc Hán) là nhằm giải thích những yếu tố Nam đảo vốn hiện diện rất nhiều trong văn hóa người Việt1. Đây cũng là điểm khác biệt được đề cập đến bởi nhóm Tư Tưởng. Về thời điểm của việc dân tị nạn biển dâng ở Bắc Việt (từ núi?) trở về đồng bằng "để tái thiết" sau Đại hồng thuỷ, nhóm Tư Tưởng cho là 5500 năm trước. Theo số liệu tôi có, vào 5500- 4500 trước, biển chưa rút khỏi Bắc Việt mà lại ở khoảng mức biển cao nhất. Đó là số liệu nghiên cứu về biển tiến của Lưu Tỳ và cộng sự viên ghi lại trong sách khảo cổ Việt Nam 9,12 . Số liệu này cũng phù hợp với số liệu mức biển lên xuống vào thời đá mới ở eo Malacca (Mã Lai), trong biểu đồ của Oppenheimer8 trang 37 (theo đó khoảng -5500 năm mức nước biển bắt đầu xuống. ở nơi khác: vịnh Ả Rập). Như vậy sự bành trướng về đồng bằng sông Hồng phải diễn ra sau 4000 năm, khi nước rút, như tôi đã đề nghị.

 

Tôi xin ghi nhận thuyết đột biến genes của cư dân sống tại Bắc Việt Nam, đột biến đưa đến sự hình thành chủng Nam Mongoloid và sự bành trướng của những người Nam Mongoloid đi tứ phía, cũng như những phê bình khác của nhóm Tư Tưởng. Trong tương lai, tôi sẽ đối chiếu thuyết của tôi cũng như thuyết của nhóm Tư Tưởng với những khám phá mới, trong chiều hướng góp phần làm rõ tiền sử đất Việt.

 

Nguyễn Quang Trọng

 

Chú Thích:

 

1 Nguyễn Quang Trọng, Về nguồn gốc dân tộc Việt Nam và "Địa đàng ở phương Đông" Hợp Lưu 64, 4-2002, 26-53; có thể xem thêm Tổ tiên tộc Việt cổ tại Triết Giang trên Thế kỷ 21 Xuân 2001

 

2 Cung Đình Thanh, Nguyễn văn Tuấn và Nguyễn Đức Hiệp, Một vài ghi chép thêm về văn minh cổ và nguồn gốc dân tộc Việt Nam, Hợp Lưu, số này

 

3 Melton T, Peterson R, Redd AJ, Saha N, Sofro AS, Martinson J, Stoneking , Polynesian genetic affinities with Southeast Asian populations as identified by mtDNA analysis. Am J Hum Genet 57(2) (1995)403-14 và Melton T, Clifford S, Martinson J, BatzerM, Stoneking M, Genetic Evidence for the Proto-Austronesian Homeland in Asia: mtDNA and Nuclear Đông Nam Á variation in Taiwanese arboriginal tribes, cùng tạp chí, 63 (1998) 1807-23

 

4 Saurin E, Station préhistorique de Quy Châu et de Thưong Xuân, Proceedings of the 3rd Congress of Prehistorians of the Far-East, Singapore (1940), p. 71. ; Golson J, Both sides of the Wallace line: New Guinea, Australia, Melanesia of Asian prehistory, in: Early Chinese arts and its possible influence in the Pacific Basin, Procceedings of the Symposium arranged by the Department of Art History and Archeology, Columbia University, New York 08-1967, Barnard N Ed., Taiwan, p. 577

 

5 Leroi- Gourhan A., in "Dictionnaire de la Préhistoire", Presse Universitaire de France, Paris, (1994)

 

6 Oota H, Kurosaki K, Pookajorn S, Ishida T, Ueda S, Genetic study of the Paleolithic and Neolithic Southeast Asians, Human Biology, 73 (2001) 225

 

7 Zhang P Q, Discussion of Chinese domesticated rice - 10 000 year-old rice at Xianrendong, Jiangxi province, và nhiều bài khác ở International Symposium on Agricultural Archeology, China, 1998. Xin xem bài tiếng Anh trên web site http://www.carleton.ca/~bgordon/Rice/papers/ ; Một ví dụ, Jane Libby : INTERDISCIPLINARY STUDIES BEARING ON THE ORIGIN OF RICE AGRICULTURE, 20000- 6000 year-old cave sites were found in the Diaotonghuan and Xianrendong archaeological project (SAJOR). Both were used for original rice agricultural research using five analytical methods. Phytology by Zhijun Zhao show people began using wild rice 20,000 years ago, with change in rice morphology ca. 11,000 years ago, and rice agriculture nearly 8,000 years ago. Bruno Marino suggested adopting a method to classify hoes, sharp heavy digging tools, shell-tools, etc. Isotopes C12-13 and (4) N14-15 in human bone showed rice agriculture already existed in developed form 11,800-8,000 years ago. Wild rice began to change 11,000 years ago (i.e. Late Pleistocene). Rufipogon evolved to japonica and then indica. Such an evolution finished ca. 8,000 years ago, with plant evolution quite complicated" Bà Libby là nghiên cứu gia của Andover Foundation for Archaeological Research (USA) đã tham gia nghiên cứu động Xianren

 

8 Oppenheimer S, Eden in the East The Drowned Continent of Southeast Asia, Phoenix, 1999

 

9 Hà văn Tấn, Theo dấu các nền văn hóa cổ, Nhà Xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998

 

10 Những di vật ở Sanxingdui được tìm thấy năm 1986, nhưng Trung Hoa không thông tin đúng mức quan trọng của nó. Mãi đến năm 1996 những nhà khảo cổ Nhật tham gia khai quật mới công bố rầm rộ (xin xem Jin X , Xiong L, L'énigme des bronzes du Sichuan, La Recherche, 19 (1988) 262-3; AmanoY, Aux sources de la civilisation chinoise, Courrier international, nº 319, 35, (1996).

Ngày nay Trung Hoa đặt tên văn hóa này là "văn hóa nước Thục". Thục là nước bị vương quốc Tần chiếm vào thời Chiến Quốc, nhưng văn hóa Sanxingdui có trước lúc đó trên hai ngàn năm. Khám phá khảo cổ Sanxingdui được thế giới xem là khám phá quan trọng nhất trong hậu bán thế kỷ 20. Tất cả những sách mới về những nền văn minh cổ đều có giới thiệu nền văn hóa này; ngay cả sách về du lịch cũng nói đến. Trong một thời gian khá dài, Trung Hoa lúng túng trong việc giới thiệu văn minh Sanxingdui. Tại sao một nền văn minh rực rở ở ngay kế bên nước Trung Hoa mà không sách cổ nào nói đến, trong khi cổ thư Tàu không thiếu những đoạn nói về những "rợ", những "di" ở xa hơn ; làm thế nào cho người Hoa chấp nhận có nền văn minh cổ khác, không phải của người Hán, lại có kỹ thuật đúc đồng không thua văn minh nhà Thương, cùng thời hay sớm hơn nhà Thương ? Gần đây Trung Hoa hình như đã tìm ra cách trình bày về những nền văn hóa cổ trên đất của họ: Trung hoa xem tất cả các vùng văn hóa khác nhau trên lãnh thổ họ, dù không phải của tộc Hán đi nữa, cùng là những cái nôi văn minh Trung Hoa. Từ năm 1997, kho tàng báu vật Sanxingdui (Tam tinh đồi, tức đồi ba sao) được đưa đi triển lảm ở những viện bảo tàng lớn trên thế giới: London (1997), Seatle (2001), New York (6-2002), Toronto (8-2002). Trong những báu vật có mặt nạ người bằng đồng thau, tượng người cao hơn người thật (xem hình)

 

11 Khảo cổ học Việt Nam. Tập 2: Thời đại kim khí, Hà văn Tấn chủ biên, Nhà Xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998

 

12 Khảo cổ học Việt Nam. Tập 1: Thời đại đá, Hà văn Tấn chủ biên, Nhà Xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1999

 

13 Văn Hóa Đông Sơn ở Việt Nam, Khảo cổ học, Hà văn Tấn chủ biên, Nhà Xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994

 

14 Hà Văn Tấn, Nguyễn Khắc Sử, Trình Năng Chung, Văn hóa Sơn Vi, Nhà Xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1999

 

15 Etler D A, gallery sọ tìm được Trung Hoa, www.cruzio.com và www.chineseprehistory.org/pics6.htm

 

16 Chu J Y, Huang W, Huang SQ, Xu JJ, Chu Z T, Yang Z Q, Lin K Q, Li P, Wu M, Geng Z C, Tan C C, Du R F, Jin L, Genetic relatioship of populations in China, Proc Nat Acad Sci USA, 95(1998) 11763 ; Su B, Xiao J, Underhill P, Deka R, Zhang W, Akey J, Huang W, Shen D, Lu D, Luo J, Chu J, Tan J, Shen P, Davis R, Cavalli-Sforza L, Chakraborty R, Xiong M, Du R, Oefner P, Chen Z, Jin L, Y-chromosome evidence for a northward migration of modern humans into eastern Asia during the last Ice Age, Am J Hum Genet, 65, 1718-1724 (1999)

 

17 Bonatto SL, Salzano FM Diversity and age of the four major mtDNA haplogroups, and their implications for the peopling of the New World, Am J Hum Genet 61(1997)1413-423 ; Karafet TM, Zegura SL, Posukh O, Osipova L, Bergen A, Long J, Goldman D, Klitz W, Harihara S, de Khijff P, Wiebe W., Griffiths RC, Templeton AR, Hammer MF, Ancestral Asian sources of New World Y-chromosome Founder Haplotypes, Am J Hum Genet, 64, (1999) 817-31 ; Pena S, Santos F, L?origine des Amerindiens, Pour la Science, 277 (2000) 82-5; Hemecek S, Les premiers am?icains, Pour la Science, 277 (2000) 76-80

 

18 Cavalli-Sforza LL, Des gènes et des langues, Pour la Science, 171 (1992) 121-26

 

19 Chang, K C , Prehistory and Early Historic Culture Horizon and Traditions in South China, Current Anthropology 5, no5 ; Winters C A, Blacks in Ancient China, Part 1:The Founders of Xia and Shang, Journal of Black Studies 1,no2 (1983c). Có thể xem websites : http://homepages.luc.edu/ ~cwinter/xia.htm;

■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■
Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách
Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập