phỏng vấn
|
Phát thanh ngày 8-6-2002
trong chương trình Văn Học Nghệ Thuật
Đài Tiếng Nói Việt Nam
(FM-103.3 - Montreal, CANADA).
Tiểu sử:
- Tên thật: Võ Thị Xuân Sương
- Sinh Quảng Ngãi, VN
- Sang Pháp cuối năm 1982
- Tốt nghiệp Luật (Sài gòn 1971) và Hoa ngữ (Pháp, 1987)
- Quản đốc thư viện (Thư Viện Quốc Gia Pháp, trách nhiệm phòng Việt ngữ)
- Giải nhất truyện ngắn do tuần báo "Hoa Tình Thương" tổ chức năm 1972
Đã xuất bản:
- Đôi Mắt, tập truyện ngắn, Sài gòn, 1973
- Tuyển tập truyện ngắn, 1998, Văn Mới, Hoa Kỳ
- Tuyển tập truyện dịch, 2001, Văn Mới, Hoa kỳ
- Cộng tác thường xuyên với Văn, Văn Học, Hợp Lưu (Hoa Kỳ), và Diễn Đàn (Pháp)
Lê Quỳnh Mai (LQM): Miêng vừa cho xuất bản tác phẩm thứ nhì: Tuyển Tập Truyện Dịch. Nghe các bạn văn nói rằng chị rất giỏi chữ Hán. Miêng có theo khoa ngôn ngữ học hay không?
Miêng (M): Bạn văn nào mà... "nói bậy" vậy Quỳnh Mai? Cũng xin nói rõ là tôi học tiếng Tàu giản thể, được bắt đầu phổ biến từ những năm 50 sau khi đảng Cộng Sản Trung Hoa lên nắm chính quyền - mình gọi là quan thoại hay bạch thoại, cách viết giản dị hơn, ví dụ chữ "ái" không có chữ "tâm" bên dưới, người ta thường đùa là "yêu mà không có tim". Tiếng giản thể này khác tiếng Tàu phồn thể mà mình gọi là chữ Hán. Và cũng không thể nói tôi "rất giỏi" được, vì những quyển tự điển tiếng Tàu ở trình độ đại học cũng đã có ít nhất từ 10000 đến 16000 chữ, dù vẫn chưa phải là đầy đủ. Tôi học chắc chỉ được vài ba phần, và cũng đã trả lại cho Thầy hết rồi! Tôi rất thích tiếng Tàu và từ bên nhà đã có học lan man với bạn bè, qua Pháp thì học thực sự, có cắp sách đến trường, rất bài bản. Ở Tây phương nói chung, bất cứ học thứ tiếng nào cũng phải biết vài khái niệm về ngôn ngữ học, và tôi chỉ được dạy những khái niệm thiết yếu chứ không theo ngành này, vì đó là một chuyên khoa riêng. Mặc dù ngôn ngữ học có ảnh hưởng rất nhiều đến các khoa học xã hội, kể cả văn học, nhưng chắc vì lười, tôi thường nghĩ có lẽ đối với người làm công việc phê bình nó quan trọng hơn là đối với người sáng tác. Điều chắc chắn là tôi không đến với văn chương từ ngôn ngữ học.
LQM: Nhà văn Avray Wilson đã nói "Công việc nghệ thuật có hai chu kỳ. Có khi sức sáng tạo lại bừng bừng. Có khi lại cạn kiệt"(1) . Có phải vì sức sáng tạo của Miêng đi vào chu kỳ thứ nhì nên chị đã hướng ngòi bút sang lãnh vực chuyển dịch tác phẩm ngoại quốc?
M: Có thể Wilson nói đúng. Riêng tôi thì sau khi ra mắt quyển đầu ở hải ngoại, tôi hiểu là quyển thứ nhì khó lòng gây ấn tượng như quyển trước, nếu thật sự Miêng đã gây đước "ấn tượng". Nhưng Quỳnh Mai xem, tôi viết rất ít, nên khi đọc truyện ngoại quốc nào khiến mình xúc động thì tôi dịch, vì vậy có thể nói là cùng lúc chớ không phải là chuyển hướng. Truyện nào tôi cũng có đề ngày tháng.
Viết hay dịch đều có cái thú vị của nó. Viết là diễn tả tình cảm, nhân sinh quan của mình. Dịch là cố lột tả điều đó của người khác. Khi viết, tâm hồn mình bị chi phối bởi cảm xúc và tư duy, nó trào ra ngọn bút tạo hình nhân vật. Nhưng khi dịch thì chẳng những sự sáng tạo đó không còn nữa, mà còn phải sống với cảm xúc, tư duy của người khác. Vì vậy người ta thường cho dịch là công việc bạc bẽo. Nhưng tôi nghĩ không ai dửng dưng với những truyện có một số nhân vật rất người, những hoàn cảnh rất gần gũi với cuộc đời, không ai làm ngơ với những tâm trạng giằng xé giữa các giá trị trái ngược phải lựa chọn, bởi vì chính giữa những lựa chọn khó khăn đó mà bản chất con người mới lộ rõ. Vì vậy tôi muốn giới thiệu với độc giả Việt Nam những mẩu đời thấy thì như xa lạ, mà rất quen thuộc gần gũi đó. Và nếu đúng như người ta nói "chính độc giả mới hoàn thành tác phẩm" thì độc giả truyện dịch sẽ làm công việc đó hai lần: một lần cho tác giả và một lần cho dịch giả.
LQM: Hệ thống dịch không chuyên nhất, không có đường hướng rõ rệt trong việc phiên âm tên địa danh, mỗi dân tộc lại có một cách phát âm riêng. Khi chuyển dịch một tác phẩm, Miêng có nghĩ đến vấn đề này không?
M: Tôi cũng có bị hành hạ chút đỉnh về vấn đề này, và giải quyết theo cách riêng tạm bợ của mình, trong khi chờ đợi một giải pháp hợp lý được mọi người chấp nhận. Tức là tôi giữ nguyên tên người và địa danh theo bản tiếng Anh hay tiếng Pháp mà tôi đọc. Ví dụ vẫn giữ nguyên tên Edouard, Hector, không theo các cụ nhà mình bắt chước Tàu, đổi Montesquieu thành Mạnh Đức Tư Cưu, cũng không phiên âm từ nguyên ngữ ra tiếng Việt, ví dụ Hector thành Héc-to, hay Mexico thành Mê-hi-cô, v. v... Bởi vì khác gì nhau nếu trong truyện Tchekhov, địa danh Katchabrov tôi viết thành Kát-sa-bờ-rốp, ngoài chuyện chỉ gây thêm rắc rối cho người đọc? Nếu phải phiên âm vì sợ rằng độc giả không biết cách phát âm thì đánh giá trình độ người đọc thấp quá, nếu nghĩ là tạo theo kiểu Việt Nam, thì thế nào là kiểu Việt Nam chính thống? Có lần một thực tập sinh Hà Nội sang Paris, có nhờ tôi tìm một địa danh Pháp dĩ nhiên đã được phiên âm. Tôi phải nhắm mắt lại lẩm nhẩm đọc các chữ Việt đó, cố tìm cái âm Pháp ngữ gần nhất! Tôi chỉ đặt một ngoại lệ cho truyện các nước Á đông. Như trong truyện Bà Goá của Đại Hàn, vì là câu chuyện ở làng, toàn thể khung cảnh là đồng ruộng, là cóc nhái, là bí bầu... như ở Việt Nam, nên tên bà Han thì tôi thêm dấu huyền, tên bà Park tôi gọi thành bà Phúc, cho có vẻ Việt Nam và tự nhiên hơn. Giữa đủ các kiểu thực hành không nhất quán như hiện nay, Miêng có quyền sử dụng cách riêng của mình chứ hả Quỳnh Mai?
LQM: Miêng nghĩ sao về câu: Traduire c'est trahir? (dịch là phản bội)
M: "Traduttore, traditore", ai cũng đồng ý về câu này của Ý. Mỗi ngôn ngữ là một thế giới riêng biệt, không thể nào dễ dàng bê nguyên vẹn thế giới này qua một thế giới khác. Và chắc chắn mình không thể nào phục nguyên (restituer) hoàn toàn những điều tác giả viết ra, vừa về ý, vừa về lời, nhất là hình thức. Một anh bạn dịch giả nói: "nước chảy róc rách", làm sao dịch chữ róc rách? Hay như "mưa phùn rơi lún phún", dịch cách nào nguyên vẹn được? Mà quả thực, nếu dịch là phải phục nguyên hoàn toàn chính xác như tác giả thì sẽ không ai làm nổi. Bởi vì dịch là kể lại chuyện người bằng ngôn ngữ của mình, nên dịch giả chỉ có thể "tái tạo" được một phần nào tác phẩm thôi. May mà tác phẩm không phải chỉ có mặt ngôn ngữ, mà còn có nhiều mặt khác về cuộc đời. Ví dụ truyện Bà Goá trong tập dịch của Miêng, một người Tây phương như Jean-Noel Juttet, dù không biết gì về tục tảo hôn, vẫn có thể kể lại được câu chuyện, khi nghe người bạn Đại Hàn cùng dịch giải thích.
LQM: Người ta nói muốn dịch cho hay một tác phẩm, dịch giả phải hiểu rõ phong tục tập quán của sắc dân trong tác phẩm đó. Hoặc khi chọn một tác phẩm, dịch giả phải rung động trước tác phẩm ấy thì sự chuyển dịch mới thành công. Xin nhà văn Miêng phát biểu về hai ý kiến trên?
M: Tôi nghĩ là đúng như vậy. Mặc dù văn chương không phải là dân tộc học hay xã hội học, nhưng nếu biết phong tục tập quán của sắc dân trong tác phẩm thì mới không bỏ quên các chi tiết có ý nghĩa trong câu chuyện. Ví dụ truyện Bà Goá vừa nêu trên, vì sống trong xã hội trọng chữ nghĩa, người Á châu sẽ thấy thấm thía hơn lòng trân trọng mấy tờ giấy nháp của chồng mà cô vợ goá luôn luôn gìn giữ, để rồi sau đó cô cũng đã dùng chính những tờ giấy ấy gói đứa con sơ sinh trước khi rời bỏ nó. Và cũng vì quen với truyền thống muôn đời là các bậc cha mẹ có toàn quyền như Thượng đế, người Á châu mới cảm nhận lòng nhân đạo cao quý vô bờ của ông bố chồng hơn, khi ông can đảm nhận lỗi với cô dâu, trong khi chi tiết này đối với người Tây phương chỉ là chuyện mặc nhiên. Một ví dụ khác, trong truyện của Tchekhov, nếu Génia Canac không hiểu phong tục xã hội thôn quê Nga mà chú thích, thì chắc chắn tôi đã mất công hỏi đồng nghiệp người Nga "góc đỏ" là cái gì, mới hiểu được đấy là nơi thiêng liêng nhất trong nhà, ăn cắp đồ đạc để nơi này là nghịch đạo. Tôi cũng cho rằng dịch hay không phải chỉ cần rung động, mặc dù cảm xúc thường là động cơ chính để người ta dịch. Có nhiều người vừa đọc một tác phẩm vừa khóc, nhưng dịch hay thì chưa hẳn! Tôi nghĩ rằng muốn dịch hay, trước hết phải hiểu được, từ đó đưa tới rung cảm và rồi phải diễn xuất được bằng ngòi bút, truyền đạt tới người đọc những tình cảm của tác giả bằng ngôn ngữ của mình. Kinh nghiệm bản thân, khi tôi cảm thấy xúc động thực sự thì ngòi bút hầu như được hoàn toàn giải phóng, có thể diễn tả dễ dàng những lời rất Việt Nam mà không phản bội tác giả. Tôi nghĩ dịch thế nào cho thoát mà vẫn giữ được ý chính, làm thế nào để người đọc không cảm thấy cái gượng gạo, khúc mắc của văn dịch, làm thế nào để người đọc có được cái cảm xúc tự nhiên, và cùng với những cái đó, người dịch phải tôn trọng cách hành văn của tác giả - được như vậy, theo thiển ý, tôi nghĩ đó là dịch hay.
LQM: Miêng có ý định dịch thơ không?
M: Không, tôi không dịch thơ vì không có khả năng. Thơ là một thể loại đặc biệt, ngoài âm nhạc và hình ảnh, ngôn ngữ đóng vai trò vô cùng quan trọng. Đọc thơ phải có cảm giác cá bơi trong nước thì mới đủ thấm mà dịch, còn tôi đọc thơ tiếng nước ngoài thì cứ như cá bơi trên cạn. Với lại người dịch thơ ít ra cũng phải có khả năng làm thơ nữa thì dịch mới hay. Mà Miêng không phải là thi sĩ!
LQM: Một số bài thơ của Hồ Xuân Hương đã được chuyển sang Anh Ngữ qua dịch giả John Ballaban. Tác phẩm Số Đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng được chuyển dịch qua vợ chồng giáo sư Sử học đại học Berkeley Peter Zinoman và Nguyệt Cầm. Một số tác phẩm của các nhà văn Việt Nam cũng được dịch sang Anh hoặc Pháp ngữ. Là một dịch giả và cũng là một nhà văn nổi tiếng có những truyện ngắn với cấu trúc truyện hoặc nhiều suy tư, trăn trở hoặc hóm hỉnh duyên dáng, Miêng có ý định dịch tác phẩmViệt Nam sang tiếng ngoại quốc không? Và chị có mong tác phẩm của mình sẽ được chuyển sang Anh hoặc Pháp ngữ bởi một dịch giả ngoại quốc không?
M: Tôi chưa được đọc bản dịch Số Đỏ, nhưng tôi đã đọc John Balaban dịch Hồ Xuân Hương rồi. Ở đây chắc tôi lại phải trở lại câu Quỳnh Mai đã nói ở trên, dịch là phản. Mặc dù rất quý trọng và cảm phục những người đã dịch văn thơ Việt Nam ra tiếng ngoại quốc, tôi cũng không thể nói là John Balaban ít nhiều không "phản bội" ngôn ngữ Hồ Xuân Hương. Riêng thơ tục Hồ Xuân Hương, tôi nghĩ có hai cấp. Cấp thứ nhất, bà dùng những hình ảnh rất thông thường để diễn tả tài tình chuyện phòng the, trai gái. Ví dụ như các bài Dệt Cửi, Vịnh Quạt, Giếng Nước, v. v... John Balaban dịch rất chính xác những hình ảnh này và chắc là độc giả Tây phương hiểu được. Ở cấp thứ hai, như các bài Vịnh Chùa Quán Sứ, Vịnh Ni Sư, Vịnh Sư Hoạnh Dâm, v. v..., trong kỹ thuật chữ nghĩa của bà còn có nói lái nữa. Mà ngay cả người Việt Nam, không phải ai cũng hiểu nói lái được, nên những bài này thì tôi e là John Balaban chưa diễn tả nổi hết ý Hồ Xuân Hương. Bây giờ bớt "nói hành" John Balaban, trở lại chuyện của mình, tôi không có ý định dịch truyện Việt Nam ra tiếng ngoại quốc. Việc đó đã có nhiều người có khả năng chuyên môn lo, ngược lại tôi có viết thử bằng tiếng Pháp một ít truyện ngắn, chỉ để cho bạn bè Pháp xem cho vui. Phần tôi vẫn tiếp tục viết truyện ngắn bằng tiếng mẹ đẻ và dịch những truyện ngoại quốc mà tôi thấy hay thôi - dĩ nhiên sự chọn lựa hoàn toàn có tính cách chủ quan. Ngoài ra, có tác phẩm được dịch ra tiếng ngoại quốc thì người viết nào mà không thích thú hãnh diện hả Quỳnh Mai? Riêng tôi, nó không phải là điều ám ảnh. Tôi viết trước hết cho mình và cho người Việt Nam, để cùng nhau chia sẻ vài điều, nếu đóng góp được chút gì cho văn học Việt Nam hải ngoại thì đã là quý quá rồi!
LQM: Người ta không thể viết nếu không đọc. Nhà văn Miêng thường chọn tác phẩm ở thể loại nào để đọc?
M: Thể loại mà tôi thích nhất là tiểu sử và du ký, và cho tới bây giờ thì nó chưa giúp gì tôi trong chuyện viết lách cả. Cái khó tin nhưng có thật là tôi viết truyện mà lại không ưa đọc tiểu thuyết. Không biết có phải vì ảnh hưởng khi còn nhỏ, chị em tôi bị ông anh cả cấm đọc tiểu thuyết hay không. Và không đọc thì không viết được, mà tôi thì đọc không nhiều, hèn chi tôi viết ít quá, nên nếu đúng như Quỳnh Mai vừa khen thì tôi quả thật là... thiên tài!
LQM: Nhà văn Avray Wilson đã viết "Biết bao nghệ sỹ ngoài đời thì bất cần, vô kỷ luật, vậy mà khi bước vào phần đất nghệ thuật của mình, lại hành động có phương pháp, có trật tự vô cùng"(2). Nhà văn Miêng có thể cho biết, để thành công chị đã tự đặt ra cho mình một phương pháp, cách thức nào trong lúc đặt bút viết?
M: Nếu muốn thành công thì có lẽ phải nghiêm túc như vậy thật. Riêng tôi thì vì không bao giờ cảm thấy mình là nhà văn nên chẳng có một quy luật hay phương pháp nào cả. Tôi chỉ là một người thích kể chuyện, may có người nghe thì không bị cảnh "nói chuyện một mình". Viết, đối vói tôi là một niềm vui thú. Dĩ nhiên lời khen cũng như nước hoa, chỉ ngửi chứ không nuốt được, nhưng mấy ai chẳng thích nước hoa hả Quỳnh Mai, kể cả các ông. Đành rằng được khen thì vẫn thích hơn bị chê, nhưng không bao giờ tôi bị ảnh hưởng về những cái đó. Không phải được gọi là "nhà văn" mà tôi cảm thấy mình đã là nhà văn, trái lại tôi còn thấy buồn cho mình nữa là khác. Mới đặt vài viên gạch đã thành cái "nhà" rồi, đủ thấy cái nhà của tôi chỉ là một túp lều!
LQM: Tại sao Miêng chọn ngành thư viện? Việc làm này có phải đã giúp chị không ít trong công việc tay trái -viết văn- hay không?
M: Trên nguyên tắc, làm việc thư viện là một lợi thế cho những người muốn viết. Nhưng cho tới bây giờ thì nó chưa giúp gì tôi cả, ngoài cái được đọc một số tác giả mà bạn bè ít biết hoặc không biết đến. Cho tới nay, những gì tôi đã viết là từ kỷ niệm hoặc kinh nghiệm sống, hoặc hoàn toàn do tưởng tượng, không cần tài liệu. Còn đối với ngưòi viết tiểu thuyết lịch sử hay xã hội, thì làm việc ở thư viện quả là "chuột sa hũ nếp".
LQM: Tại sao chị chọn viết văn thay vì làm thơ? Sự thành công đã mang lại gì cho bản thân chị? Miêng có hài lòng hãnh diện về những sáng tác đã thật sự đóng góp một phần cho nền văn học Việt Nam nói chung và văn học Việt Nam hải ngoại nói riêng không?
M: Về quan hệ văn-thơ, chúng tôi có người bạn đã lập thuyết rằng người ta viết văn vì không làm thơ được. Không biết điều đó có đúng cho mọi người không, và đúng tới mức nào. Riêng tôi thì có thử làm thơ nhưng không hài lòng, rồi bỏ luôn, và không tha thiết trau dồi thể loại này. Có lẽ vì tôi vẫn bị lôi cuốn bởi nghệ thuật kể chuyện hơn là dũa mài ngôn ngữ. Còn sự thành công? Nếu có, nó đã mở đường dẫn đến cho tôi những người bạn mới. Tôi rất trân trọng điều này bởi vì hình như sống nơi xứ người, tình bạn có hệ số gấp đôi. Và cùng lúc, nó cũng mở cửa tâm hồn bạn bè qua những câu hỏi họ đặt ra từ những truyện tôi viết, giúp chúng tôi hiểu nhau và gần gũi nhau hơn. Về những sáng tác của mình, nói hãnh diện thì hơi quá, nhưng tôi có hài lòng. Khi viết, trước hết là viết cho mình, không bao giờ tôi đặt câu hỏi viết làm gì, viết cho ai. Viết ra, có người đọc, có người chia sẻ, "mua vui cũng được một vài trống canh" là thấy mình cũng đã mang lại chút đỉnh gì cho đời sống hàng ngày rồi. Ở đây, nếu thích phóng đại thì có thể nói rằng mỗi một ngón đàn, cây cọ, cây bút... đều như một bông hoa hương sắc khác nhau, tất cả tạo nên vườn hoa cho mọi người thưởng ngoạn trong phút giây nhàn hạ. Mà vườn hoa có phong phú thì mới mong tìm ra vài loại kỳ hoa dị thảo. Tôi rất mong mỏi điều này cho cộng đồng Việt Nam hải ngoại, không chỉ thu hẹp trong lãnh vực văn chương nghệ thuật, mà nói chung trong mọi lãnh vực.
LQM: Ngược lại nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc đã từng phát biểu rằng : "Ở hải ngoại, viết văn không thể là một nghề nghiệp, và trên thực tế cũng không phải là một danh phận.Viết văn trở thành một cách hành lạc đau đớn của những người bị bất lực". Nhà văn Miêng có ý kiến gì về lời tuyên bố trên?
M: Chắc chắn không phải là nghề nghiệp, có lẽ cũng chẳng ai lập nên danh phận gì từ chuyện viết văn. Nói "hành lạc đau đớn" thì chắc cũng đúng cho nhiều người, thậm chí cho tất cả mọi người. Nhưng cái kết quả khách quan do những cuộc "hành lạc" đó, dù muốn dù không, cuối cùng vẫn cứ làm nẩy sinh một khu vườn văn học Việt Nam hải ngoại. Mà khu vườn thì mình có thể bỏ hoang hay chăm sóc. Ngoài giá trị nhân chứng của một thời đại, biết đâu về sau nó sẽ không được nhìn nhận như một bộ phận độc đáo của nền văn học Việt Nam nói chung?
LQM: Ở nước có điều kiện tốt, các hội nhà văn liên tục tổ chức những buổi hội thảo, những đại hội, những buổi học để người viết có dịp gặp gỡ , trao đổi, trau dồi thêm cách thức sáng tác, viết lách. Riêng nền văn học Việt Nam hải ngoại, hoặc vì thời gian, không gian, phương tiện, đã không cho phép chúng ta gặp gỡ trong các buổi hội thảo như vậy. Để viết hay hơn, sáng tác mới lạ hơn, Miêng có ghi danh theo học những lớp tu nghiệp hoặc tìm cách trao đổi ý kiến với các bạn văn để nâng cao trình độ sáng tác hơn không?
M: Tiếc là không có những cuộc hội thảo trao đổi ý kiến trong giới cầm bút. Các tổ chức mang danh nghĩa văn học còn bị chi phối quá nhiều bởi chính trị, nên không tập hợp được mọi người, do đó không đóng được vai trò tương xứng với nhiệm vụ của mình. Những cuộc gặp gỡ thường là giữa các nhóm nhỏ bạn bè, dù không có mục đích "tu nghiệp" như Quỳnh Mai nói, nhưng cũng ít nhiều giúp cho việc thông tin và khích lệ lẫn nhau.
LQM: Truyện ngắn "Ai Thương"(3) của Miêng đã lột trần tình yêu với một giọng văn đau đớn nhưng trong trầm tĩnh. Chị nghĩ thế nào về tình yêu? Về sự phản bội trong tình yêu? Về sự thất vọng trong tình yêu mà nhân vật chính phải chuyển hướng tình cảm qua người đồng phái tính?
M: Tôi không có khuynh hướng lập thuyết và rất sợ lập thuyết, bởi vì tất cả các lý thuyết đều có giới hạn, đều đơn giản hoá cuộc đời nhiều lắm. Không ai chối cãi là tình yêu, nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, đều rất quan trọng; đối với một số người, tình yêu nghĩa hẹp lại còn quan trọng tới nỗi nó chi phối, đưa đẩy và quyết định hết thảy mọi điều. Dầu vậy không phải hoàn cảnh nào cũng giống hoàn cảnh nào, và mỗi người có cách ứng xử khác nhau. Ví dụ khi thất tình, người có thể đi tu, người có thể tự tử, người có thể hận đời đến nỗi trả thù lên bất kỳ một người nào khác. Ngược lại, cũng có người bản lĩnh hơn, ... "điểm phấn tô son lại, ngạo với nhân gian một nụ cười". Truyện ngắn Ai Thương, tôi chỉ muốn diễn tả một cô gái không quyết đoán, cứ để cuộc đời đẩy đưa bằng những bước tình cờ. Cô "theo" người đàn ông thứ nhất vượt biên, cô "gặp" người đàn ông thứ nhì bảnh trai, mắt ướt môi mọng, cô "bẽn lẽn" với người đàn bà và làm theo lời ngoại dặn: "ai nói thương thì theo nó đi, đừng hòng ai mang trầu rượu...". Tôi không hề tỏ ý rằng vì bị bỏ rơi mà cô phải chuyển hướng tình cảm qua người đồng phái tính, cũng không cản đường nếu lúc đó cô gặp và yêu một người đàn ông khác. Tôi nghĩ là không có quy luật, mà chỉ có những trường hợp cá biệt thôi.
LQM: Iris Murdoch là khuôn mặt văn học lớn nhất của Anh quốc trong thế kỷ 20. Bà qua đời ngày 8 -2- 99 vì bệnh Alzheimer. Đề tài của Murdoch rất rộng rãi, luôn khai thác về vấn đề dâm tình. Nhân vật thường đam mê trong quan hệ ngoại tình, loạn luân, đồng tính luyến ái. Ở vào cuối thế kỷ 20 và đầu thiên niên kỷ thứ ba, Pháp quốc cũng có một số tác phẩm trở thành best-seller viết về vấn đề này (ví dụ cuốn "Lilas Says" của Chimo). Miêng định cư trên đất Pháp đã lâu, hẳn rằng chị cũng đọc qua một số tác phẩm ấy. Có bao giờ Miêng bị ảnh hưởng và đã viết vài truyện ngắn như vậy nhưng chưa gởi đến độc giả hay không?
M: Thú thực là tôi chưa hề đọc hai tác giả này. Dâm tình có thể là một đề tài văn học lớn của thế kỷ 20 ở Tây phương, nhưng đó không phải là lãnh vực mà tôi muốn đào sâu, khai thác.
LQM: Theo Miêng, nền văn học Việt Nam hải ngoại sẽ đi về đâu khi các tác giả lão thành ngưng sáng tác, các tác giả thế hệ kế tiếp sáng tác ít đi vì nhiều lý do khác nhau, và các thế hệ trẻ hiện nay sáng tác bằng ngoại ngữ?
M: Đây là vấn đề làm khổ tâm rất nhiều người trong chúng ta. Văn học Việt Nam là nền văn học viết bằng tiếng Việt, không phải là văn học viết bởi người Việt Nam. Ở hải ngoại, khi các thế hệ lão thành ngừng sáng tác, thế hệ chúng ta cũng viết ít đi và các thế hệ sau chỉ còn viết bằng ngoại ngữ, thì sẽ không còn văn học Việt Nam hải ngoại nữa, dù rằng tác giả có máu thịt Việt Nam và lấy chủ đề về Việt Nam. Đồng ý, chúng ta đã mất Mai Thảo và chắc chắn sẽ tiếp tục mất những đàn anh khác, nhưng có thật là thế hệ chúng ta có ít người viết hơn, hay đang viết ít đi không? Cách đây năm bảy năm, làm gì có Nam Dao, Mai Ninh, Lê Thị Thấm Vân, Lê Minh Hà, Phạm Hải Anh .. v. v... Vậy thì văn học Việt Nam hải ngoại hiện nay có "càng ngày càng èo uột" đi như người ta đã từng lo ngại không? Chuyện đáng lo ngại thực sự là chuyện thế hệ sau. Tôi nghĩ nếu chúng ta còn muốn duy trì một nền văn học Việt Nam hải ngoại, thì điều nên tránh là vô tình hoặc cố ý khuyến khích con em viết bằng ngoại ngữ, mà nên tạo cơ hội cho các em nối lại liên hệ với cội nguồn. Ở Pháp, đã có lúc phụ huynh học sinh phải tranh đấu để tiếng Việt được duy trì như một sinh ngữ cấp Trung học. Nếu ở nơi khác phụ huynh học sinh lại khuyến khích con em bỏ rơi tiếng Việt thì thật là trống đánh xuôi kèn thổi ngược!
LQM: Sau Tuyển Tập Truyện Ngắn xuất bản năm 1999 và Tuyển Tập Truyện Dịch xuất bản năm 2001, nhà văn Miệng có ý định xuất bản một truyện dài hay không? Nếu không, xin chị cho biết lý do. Nếu có, chị chọn đề tài nào, tình yêu hay chiến tranh?
M: Nhà tôi và bạn bè vẫn khuyến khích viết truyện dài, cũng thích, nhưng tôi chưa thử. Và nếu viết, tại sao không phải là tình yêu trong thời chiến? Viết thì phải có kinh nghiệm sống, mà trong ba mươi năm chiến tranh ở Việt Nam, tôi may mắn không sống trong vùng bất an, nhưng bây giờ cần kinh nghiệm để viết truyện dài về nó thì mới thấy là một thiếu sót lớn. Và tiếc là nói về đề tài này, người mình vẫn phải dẫn chứng những tác phẩm ngoại quốc, chưa có một quyển tiểu thuyết Việt Nam nào có tầm vóc để khi nhắc tới, nó hiện ra ngay trước mắt những điển hình sống động. Thêm vào đó, đáng buồn là đất nước đã nối liền gần ba mươi năm nay chỉ trên phương diện hành chính và cai trị, còn lòng người thì vẫn phân tán như xưa. Ngay cả về văn học, vẫn còn những dèm pha vô bổ đôi khi khôi hài.
LQM: Miêng có ý kiến gì về vấn đề đang tranh luận sôi động hiện nay: một phần lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam đã rơi vào tay Trung Quốc?
M: Tôi đã đọc các bài nói về vấn đề này, và khi xem hình thác Bản Giốc thì tôi đau tới nỗi không muốn nhìn, không muốn nghe nhắc tới nữa - có phải vì nó đẹp quá, hùng vĩ quá, lộng lẫy quá khiến mình tiếc rẻ hơn không? Con số mét vuông phần đất bị cắt, bên chống đối và bên binh vực chính quyền đưa ra không giống nhau, dĩ nhiên. Nhưng dù ít dù nhiều, dân ta có câu "tấc đất, tấc vàng", thì dẫu bao nhiêu cũng là mất mát. Điều đau đớn là người ta không thấy nhục mà còn có thể tranh cãi nhau về những con số! Rốt cuộc cả triệu thanh niên đã bị hy sinh cho cái gì?
Lê Huỳnh Mai
Paris, 11-5-2002
Ghi chú:
(1) Hợp Lưu số 43/1998, trg 212
(2) Hợp Lưu số 43/1998, trg 231
(3) Hợp Lưu số 47/1999, trg 150
■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■
Nhân Văn |
Tin Văn |
Phỏng Vấn |
Ðiểm Sách |
Ðọc Sách
Thư Viện |
Thư Quán |
Nối Vòng Tay |
Biên Tập