tân hình thức
câu chuyện tiếp tục được kể lại

khế iêm


 

Một thân hữu đã gửi đến chúng tôi bài viết "Nhận xét về thơ Tân hình thức" trên tờ Hồn Quê. Một điểm hay trong bài phê bình là tác giả khuyên những nhà thơ Tân hình thức Việt đừng "vẽ voi thành chuột". Thơ từ trước đến nay hình như chỉ vẽ voi thành chuột chứ có bao giờ vẽ chuột thành voi hay vẽ voi thành voi đâu. Nhưng vẽ voi thành voi thì cũng thường thôi, vẽ voi thành chuột mới kỳ thú, vì khoa học chẳng phải đang vẽ voi để tìm chuột, rồi từ chuột lại thấy ra voi đó sao. Câu nói biểu trưng nổi tiếng của nhà khí tượng học Edward Lorenz: "Một cánh bướm đập ở Texas có thể gây bão ở Ba Tây", ngụ ý rằng, một thay đổi rất nhỏ có thể tạo nên một ảnh hưởng rất lớn, như vậy, khoa học cũng đại ngôn ư? Những "cuộc tranh tài chữ" (theo từ ngữ của nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam) đã tạo nên không biết bao nhiêu những từ ngữ bóng bẩy, cao siêu, nhưng đọc mãi đọc mãi nào có thấy cao siêu, chỉ cho người đọc một ảo giác cao siêu (và rỗng không). Đọc thơ chỉ vụ vào chữ (thanh, tục, trau chuốt) thì chẳng bao giờ thấy thơ, bởi chữ là phương tiện, là ngón tay chứ không phải mặt trăng. Thật buồn cười cho những ảo tưởng bất tử (Nguyễn Du chăng? Hay Du Nguyễn?) Còn Tân hình thức Việt, làm được việc "vẽ chuột thành chuột" cũng là may rồi, vì chủ vào cách ngắt điệu và ngôn ngữ đời thường, để chuyên chở đời sống. Mà đời sống thì nào có cao siêu bóng bảy hay lớn lao gì đâu, tầm thường và vớ vẩn là đằng khác, nhưng nắm bắt được những khoảnh khắc tầm thường và vớ vẩn đó cũng chẳng phải dễ dàng. Xin cảm ơn người viết đã chỉ cho chúng tôi những lời khuyên vàng ngọc (và hồ đồ).

 

Dùng kỹ thuật lập lại để thay thế vần, chứ có ai nói kỹ thuật lập lại là vần đâu. Chúng tôi đã đề cập đến trong một bài tiểu luận: "Vần, khi qua thơ tự do (tiếng Anh) được thay thế bởi yếu tố lập lại hình ảnh, ý tưởng và cấu trúc văn phạm." Chúng tôi đưa yếu tố này vào Tân hình thức Việt, để kết hợp giữa thơ tự do và truyền thống. Vả lại, vần cuối câu theo thơ Việt cũng chưa áp dụng được thì làm sao áp dụng các loại vần của thơ tiếng Anh, và như thế thì lôi các loại vần đó ra giảng giải có ích gì. Các yếu tố rút ra để áp dụng vào Tân hình thức Việt không có yếu tố nào gọi là vần, vì kỹ thuật vắt dòng khó đi được với vần ở cuối dòng nên mới phải dùng hình thức lập lại (sau này biết đâu có người sẽ biến chế lại vì luật thơ đâu phải là một công thức toán học). Thơ Tân hình thức Việt hoàn toàn khác với thơ Tân hình thức Hoa kỳ (so sánh các yếu tố) vì nếu cóp y chang thì cùng lắm, hoặc chỉ là một thứ két, hoặc cũng có thể là một thiên tài (vì cóp đâu phải dễ, tiếc rằng tác giả bài phê bình không đưa ra được bài thơ Việt nào giống y chang thơ Tân hình thức Hoa kỳ để chúng tôi khắc lên bảng vàng.) Bởi nếu dễ thì cần ai bỏ công tìm tòi để rút ra những yếu tố riêng cho thơ Việt làm gì. Đó là chưa kể nhiều chỗ người viết bài cố tình hiểu sai ý về cải lương (có ai lại ngớ ngẩn nói áp dụng âm luật của vọng cổ vào thơ bao giờ) để diễn giải cho hợp với lối phê bình mỉa mai của mình.

Và hình như nhà phê bình cũng rất lờ mờ giữa thơ và văn xuôi. Về cơ bản, văn xuôi là ngôn ngữ nói và viết thông thường, được phân biệt với thơ bằng dòng (line), sự lập lại (repetitive pattern of rhythm) hay thể luật (meter), theo định nghĩa tiếng Anh. Còn thơ văn xuôi (prose poem) là một thể loại giữa thơ tự do và văn xuôi, có hình thức văn xuôi (không vắt dòng hay dòng gẫy), với những đặc tính của thơ như sự lập lại nhịp điệu, thính giác, và cú pháp (rhythmic, aural and syntactic repetition), sự cô đọng tư tưởng (compression of thoughts), cường độ (sustained intensity) và hình thái cấu trúc (patterned structure). Có nghĩa là, trên nguyên tắc, thơ và văn xuôi có cái nền chung là cú pháp văn phạm, nhưng thơ có rất nhiều kỹ thuật chung và riêng (của từng nhà thơ) để làm cho thơ khác với văn xuôi, vắt dòng và lập lại chẳng hạn. Kỹ thuật lập lại (không có trong văn xuôi, và không dính dấp gì tới vần) là yếu tố mạnh mẽ, một thứ strange attractor (điểm quyến rũ kỳ lạ) của thơ, có khả năng làm bật dậy hình ảnh, ý tưởng, những khoảnh khắc có thực của thực tại, như những yếu tố ổn định của trật tự trong một một hiên tượng hỗn mang. Người đọc, nếu nắm được một số nguyên tắc và yếu tố thơ sẽ dễ dàng hiểu thơ, nhưng người làm thơ phải qua một đoạn đường chông gai, nhiều khi tưởng như khó vượt, biến những nguyên tắc hay yếu tố đó thành tác phẩm. Không thiếu những hình ảnh, câu chữ, nhịp điệu lập lại trong các bài thơ Tân hình thức Việt của nhiều tác giả. Chỉ lấy một thí dụ, bài thơ Tân hình thức đầu tiên "Những Nụ Hồng của Máu" của Nguyễn Đăng Thường, rất cao cấp và phải tinh ý mới nhận ra được những yếu tố đó. Hiểu theo nhà phê bình thì thơ Tây thơ Mỹ đều là văn xuôi trá hình cả. Nếu nhà phê bình cho rằng những định nghĩa về thơ và văn xuôi nêu trên, không phù hợp với thơ Việt (như Trung quốc không chấp nhận định nghĩa nhân quyền của phương Tây), thì cứ về nguồn, thoải mái với Đường thi, Tiền chiến, có ai phản đối đâu.

 

Phương pháp phê bình chưa từng thấy, lấy những câu văn, đoạn văn trích dẫn, lắp ráp thành bài phê bình, nhìn qua tưởng là công phu, nhưng đọc kỹ, chỉ là mớ chắp vá vụng về, khó hiểu, bởi như thế thì làm sao tạo được bố cục và lập luận xuyên suốt để thành một bài viết có tính nhất quán. Hậu quả là, những câu văn bị cắt rời ra khỏi đoạn văn, những đoạn văn bị cắt rời ra khỏi bài viết của chúng tôi, trở thành vô nghĩa và vô lý một cách thảm hại, chỉ dùng để chứng minh và kích bác một yếu tố không có trong thơ Tân hình thức Việt: vần. Phê bình thành phản phê bình, gậy ông đập lưng ông, và như vậy, nhà phê bình đã đấm một cú đích đáng. vào khoảng không. Thí dụ trong bài "Tân Hình Thức & Quan Điểm Thẩm Mỹ Mới", vì muốn cho mọi người ai cũng hiểu được nên chúng tôi cố viết bằng một văn phong dễ hiểu, phân đoạn phân minh, từ đoạn này qua đoạn khác, đã cẩn thận để cách một dòng trống. Đoạn về thơ Tân hình thức Hoa kỳ (dùng vần) và thơ Tân hình thức Việt (chưa thể dùng vần) rõ ràng, như đếm. Một bài viết rất dài, phải lần từng bước một, chỉ với mục đích dẫn người đọc bình thường tới một điểm duy nhất, nhận ra một vài yếu tố thích ứng để áp dụng vào thơ Việt. Có gì khó hiểu đâu.

Phê bình là đi tìm sự thực, mà sự thực thì khó vô cùng, có khi chẳng bao giờ thấy, vì trong cái dở cũng có cái hay và trong cái hay cũng hàm chứa cái dở. Chúng tôi luôn luôn biết ơn những lời phê bình và ngay cả chỉ trích nếu giúp chúng tôi nhận ra được những sai sót để làm tốt hơn, nhưng bài viết phê bình trên chỉ là trò cắt dán vội vã và lủng củng, cố ý (hay tối mắt) làm dị dạng những ý tưởng rất đơn giản và rõ ràng của chúng tôi, để đập thơ Tân hình thức. (Những điều chúng tôi từng viết, đã được chắt lọc và suy ngẫm năm này tháng nọ, qua kinh nghiệm sáng tác và học hỏi, chứ đâu phải chỉ là sự cóp nhặt nông nổi mà muốn đập thì đập!) Chúng tôi không khai chiến với ai, dĩ nhiên, (Nước thanh bình ba trăm năm cũ.), chỉ cảm thấy hơi bất bình như khi xem lầm một phim "Ngọa Hổ Tàng Long" giả. (Một tiệm cho thuê video, khi thấy cuốn phim võ hiệp Tàu này quá nổi tiếng, đã lừa gạt bằng cách lấy một phim khác dán nhãn hiệu hao hao giống, "Tàng Long Phục Hổ" vào để cho thuê. Được con tép, nhưng lại mất con tôm là lòng tin của khách hàng).

 

Thật ra, chúng tôi đã từng viết, "người làm thơ phải rất giỏi về văn xuôi", vì nếu không thì làm sao đẩy ngôn ngữ đời thường thành thi pháp đời thường? Thế nào là thi pháp đời thường, thì đó là phần trả lời của mỗi nhà thơ trong sáng tác của họ. Những câu hỏi như ý nghĩa của thể thơ 7, 8 chữ khi áp dụng vào Tân hình thức hay sự vận hành trong tiến trình sáng tác một bài thơ, đòi hỏi một bài tiểu luận công phu, và dài hơi trong tương lai. Một số anh em cho rằng, Tân hình thức mới đầu thì thấy dễ, nhưng làm rồi mới thấy khó vô cùng. Một loại thơ đã làm nhiều người băn khoăn, trăn trở là một loại thơ đang mở ra nhiều chân trời mới. Hãy cứ coi những nhà thơ khởi đầu của Tân hình thức Việt như những nhà tiền phong hơn là những đòi hỏi quá đáng nơi họ, vì thơ cần có sự nắm bắt và thực hành lâu dài chứ không phải dễ dàng như ăn cơm uống nước. Không ai bắt buộc, một người thích thơ Nguyên Sa hay thơ Tiền chiến phải thích thơ Tân hình thức, vì như thế là một kiểu áp chế độc đoán, phi dân chủ. Mỗi thời kỳ văn học đều có quan điểm thẩm mỹ và giá trị lịch sử của nó và không ai có thể phủ nhận. Nhưng có điều nghịch lý là tiến trình sáng tạo cũng là tiến trình của phủ nhận. Những điều chúng tôi nêu ra trong thơ Tiền chiến hay tự do cũng chỉ là thể hiện tiến trình phủ nhận chính mình vì chúng tôi đã từng sáng tác thơ vần điệu và tự do trước khi chuyển qua Tân hình thức. Bài viết "Nhận xét về thơ Tân hình thức" cuối cùng, chỉ làm lộ ra thái độ cố chấp, hẹp hòi, như những phản ứng tiêu cực ở bất cứ thời kỳ nào có sự chuyển đổi thơ ca. Câu trả lời đúng nhất, có lẽ, là để cho mỗi nhà thơ tự trả lời bằng sáng tác của họ, những bài thơ hay, Tân hình thức.

Chúng tôi xin chấm dứt bằng cách, mượn câu kết trong một bài viết của nhà thơ Dana Gioia: "Hãy dựng một giàn hỏa táng với những tập tục khô cằn, chất đống quanh mình, và nhìn con phượng hoàng cổ xòe lông, không thể nào giết được, cất cánh từ đám tro."

 

Khế Iêm

 


 

Chú thích của Nhân Văn:

Trên tạp chí Hồn Quê, hai bài nhắc đến thơ Tân Hình Thức là:

1) Bùi Tiến: Cảm nghĩ về sự thích hợp của thể thơ Tân Hình Thức trong thi ca Việt Nam [ đọc bài ]

2) Nguyễn Vũ Văn: Nhận xét về thơ Tân Hình Thức [ đọc bài ]

Bài dưới đây là trả lời mới nhất của Nguyễn Vũ Văn

3) Nguyễn Vũ Văn: Trả lời về thơ Tân Hình Thức [ đọc bài ] [02-12-02]

 

■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■

Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách

Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập