văn hóa tiêu thụ:
tiểu thuyết tự truyện của Linda Lê
leakthina c. ollier
nguyễn thị ngọc nhung
dịch


 

Nhắc lại châm ngôn của nhà văn Ba lan Stanislaw Jersey Lec, khi phỏng vấn Linda Lê, Ook Chung đã hỏi: "Kẻ ăn thịt đồng loại có thể phát biểu nhân danh nạn nhân được không?", và cô đã trả lời: "Tôi không nói 'nhân danh nạn nhân' mà tôi nói kẻ ăn thịt đồng loại là người tiêu thụ cái gì im lặng, và văn chương vừa là máy nghiền những gì câm nín vừa là ống nhổ của những gì đã được tiêu hóa." Những phát biểu như thế thường mang lại cho cô những lời phê bình, một 'bóng tối hứa hẹn' trong văn phong của cô (Sarrola), những lời nhiệt tình của một ngòi bút khốc liệt, lối văn giận dữ, lột bỏ mọi chất béo dư thừa. Đối với một tác giả ba mươi sáu tuổi, Lê có một bộ tác phẩm đáng kể: hai tuyển tập truyện ngắn, Solo và Les Evangiles du crime (The Gospels of crime), tuyển tập tiểu luận phát hành năm ngoái có tựa đề thích đáng Tu écriras sur le bonheur và bảy cuốn tiểu thuyết, Un Si tendre vampire (Such a Tender Vampire), Fuir (Escape), Calomnies (đã được dịch ra Anh ngữ dưới tựa đề Slander ấn hành bởi University of Nebraska Press năm 1996), Les Dits d'un idiot (The Saying of an Idiot), Les Trois Parques (The Three Fates), Voix (Voice), và Lettre morte (Dead letter). Năm 1990, cô được giải Prix de la vocation và Les Trois parques được kể trong danh sách hai mươi tác phẩm hay nhất của tạp chí Lire và được lựa chọn tranh giải Prix Medicis 1998.

 

Được kể là một nhà văn đang lên trong nền văn chương đương đại Pháp, tác phẩm của cô thường có trong mục điểm sách của báo chí Paris như Le Monde và Liberation. Các nhà phê bình thường chào đón từng tác phẩm với những khen tặng rầm rĩ, tô nhuộm bởi sự hỗn hợp của ngưỡng mộ, chưng hửng, và khó chịu. Với từng bài điểm sách, độc giả được nhắc đi nhắc lại rằng tác giả trẻ tuổi này ra đời ở Việt nam, sang Pháp năm mười bốn tuổi, là một trong những "boat people," như thể cô là đại diện cho làn sóng tị nạn Đông Nam Á và là phát ngôn viên cho người Việt ly tán tại Pháp; tóm tắt lại là "một nhà văn", theo lời Lê tự châm biếm trong Slander, "mang gốc bản xứ cựu thuộc địa," một "con chim đói bé nhỏ", một "phụ nữ trẻ yếu đuối" (28). Lê đã từng tuyên bố rằng cô không thích từ ngữ "boat people", sặc mùi "thương hại và chiếu cố" (Martin), và trong cuộc phỏng vấn của Chung, cô nhìn nhận, trong cô có một cái gì "cần thoát ra ngoài mọi hình thức tuân thủ... thí dụ, tuân thủ trong cách viết bao gồm cả việc khai thác chân dung nhà văn lưu vong, khai thác giới khách hàng ưa thích, cái khái niệm về métèque - đứa ngoại quốc dơ dáy - kể những chuyện ly kỳ." Với những người đi tìm phần tự truyện trong tác phẩm của cô, Lê trả lời:

 

Tùy ở định nghĩa của mỗi người... Hồi ký thường là chuyện đời của một người, một ước muốn đi tìm nguồn gốc, đi tìm lý lịch, đấy là điểm khởi hành của tác phẩm [nói về Slander], nhưng ý tưởng của tác phẩm, và đấy là lý do tại sao tôi đặt tựa đó, một thứ tự truyện rối loạn, lung lay, và cố đưa ra vài ý niệm về lộ trình, đồng thời tìm cách làm nhạt đi những con đường mòn và đưa ra nhiều đường sai lạc với những điều khó tin... Thật ra, đây là một tự truyện với ý tưởng, rốt cuộc thì sự thật cũng là một phần của dối trá.

 

Khi phát hành tuyển tập truyện ngắn Les Evangiles du crime (The Gospels of crime), Linda Lê là một trong những khách mời tham dự chương trình văn học Caractères trên truyền hình của Bernard Rapp. Trong khi ống kính giới thiệu với chúng ta một phụ nữ trẻ mặc toàn đen, Bernard Rapp trước tiên hỏi ngay tác giả nên đọc tên của cô như thế nào "Linda Lê hay Linda Li" rồi tiếp tục bằng cách nhắc nhở công chúng rằng "chớ nên tin vào dáng vẻ ngây thơ này, đầu óc cô ấy có đủ thứ..." (it ne faut pas se fier de son apparente innocence, elle a des choses dans la tête). Đúng vậy, đến phiên cuốn Les Evangiles du crime được mô tả, bởi người điều khiển chương trình và ba người khách phái nam khác, là đẹp đẽ và lạ lùng nhưng khó chịu, nếu không muốn nói là kinh khủng, một cuốn sách gây ra ác mộng. Một trong ba người khách, Eric Segal, tác giả tác phẩm nổi tiếng Love Story, nói rằng ông không dám, và cũng không khuyến khích, đọc sách đó trước khi đi ngủ.

 

Hiển nhiên, người ta không thể không lưu ý đến những phản ứng khôi hài khác nhau: đó là một bầy sói run rẩy sợ bị con trừu bé nhỏ ăn thịt, hoặc có lẽ nên nói trong trường hợp này, cô bé "viết/quàng khăn" đen* . Bỏ chuyện khôi hài qua một bên, những phản ứng có với tác giả Les Evangiles du crime là triệu chứng của sự pha trộn giữa mê hoặc, khủng hoảng, và ham muốn được hình dung qua lần gặp gỡ giữa Tây và Đông phương, gặp gỡ Cái Khác, nhắc lại Black Skin, White Masks của Frantz Fanon, lời kinh ngạc của đứa bé khi thấy người da đen: "Kìa, một thằng đen Negro... Mama, hãy nhìn thằng Negro! Con sợ quá..." Những phản ứng này hiện thân của những lời bia khắc, đánh dấu cô là Cái Khác trong tưởng tượng của phương Tây: kẻ ma thuật, trẻ thơ, mụ phù thủy, kẻ ăn người, lừa phỉnh; bản sao của một phong thái xảy ra không phù hợp với thực tại; không thể tin cậy. Cuộc phỏng vấn Linda Lê, về sau được phát hình trong đề mục "những cuộc phỏng vấn thất bại" của Caractères, nhấn mạnh đến chỗ sơ hở của truyền đạt, sự hiểu lầm về Cái Khác. So với tài hùng biện và nhiệt tình của những người cùng xuất hiện trong chương trình, sự im lặng, ngần ngừ và giọng nói quanh co của cô gây nên một cảm giác khó chịu mà người điều khiển với giọng cha chú đã gắng sửa lại bằng những tràng chữ, ngắt quãng những câu chưa kịp hoàn tất, những ý tưởng chưa kịp hình thành, nhắc nhở chúng ta rằng Phạm Quỳnh đã nói về người Việt nói tiếng Pháp như sau: "Chúng tôi suy nghĩ... như tạp chủng. Suy tư của chúng tôi vùng vẫy trong phỏng chừng, trong mập mờ" (Yeager 90). Mặc dù cô đã đạt được một chỗ đứng trong văn giới đương thời, sự có mặt của Linda Lê vẫn là một dấu âm chỏi. Trong cái cộng đồng chia sẻ bởi giới cầm bút và trí thức, cô đứng ở ngưỡng cửa, nơi mà sự khác biệt và lối đứng hàng hai của Fanon biến ông cũng ra như vậy, tuy là không giống hẳn. Mặt khác, cô cũng thú nhận rằng lúc nào cũng "cảm thấy vô nguồn cội trên chính đất nước mình" (Slander 153):

         

Ở Việt Nam, tôi học chương trình Pháp, từ đó tôi đã cảm thấy là một người lạ trên đất nước mình. Và tôi cũng không rành mấy về văn hóa Việt, thật ra, tôi biết rất ít. Tôi biết văn hóa Pháp nhiều hơn... Một kiểu bật rễ, một thứ mất lý lịch và điên khùng hòa lẫn theo đấy. (Entretien).

 

Trong cuộc "tranh đua lý thuyết", chúng ta thường nghe các nhà phê bình cổ võ đề tài trật chỗ về hậu thuộc địa, tán dương cái ngoại biên, như Ricin, một nhân vật trong Slander, nhắc người hắn bảo hộ, "con chim đói khát bé nhỏ gốc cựu thuộc địa": "vun đắp cái ngoại biên", hắn nói, "cứ ở nơi những mép rìa. Làm sao để lúc nào cũng có một điều gì không ai ưa trong người, một thứ khó thương, khúc mắc" (23) Trong khi không chối cãi, những lý thuyết này đóng một vai trò quan trọng trong việc khảo sát, tái thẩm định, lật đổ tính bá quyền phương Tây, và hơn nữa, đúc khuôn lại tư tưởng chúng ta. Phải nhớ, tác giả không cần vun đắp cái ngoại biên: cô đang sống trong đó, hít thở nó, người cô đầy mùi nó. Để viết bài này, nhiều tiếng nói khác nhau thường nhắc tôi rằng trong bất cứ cố gắng nào để đặt thực tại vào nghi vấn, ta không được quên nỗi đau khổ thật sự của những kẻ sống bên lề. Những tiếng nói như Alice Walker đã hỏi: "những điều này có nghĩa gì đối với những người không bao giờ có một mái nhà, hay một đất nước để nhớ?... những vấn đề như lưu vong và quyền được tùy thuộc, quyền được bước vào, quyền tị nạn, quá nghiêm trọng để ám dụ trong một lý tưởng mới" (in Braidotti 21). Những giọng nói như của Edward Said cảnh cáo "nghĩ là lưu vong tạo nên ích lợi nhân văn cho nền văn chương này là tầm thường hóa sự hủy hoại, mất mát nó đã gây ra cho những người chịu khổ, sự câm nín nó đã ứng đáp cho bất cứ cố gắng nào để hiểu là `tốt cho chúng ta" (357-58). Và những tiếng nói thì thầm như của Linda Lê: "cội rễ của chúng ta không sâu hơn mặt nước" (Nos racines sont à fleur deau - tiếc rằng, phần lớn những công thức đẹp này bị mất đi trong bản dịch Anh ngữ. Lối chơi chữ trong thành ngữ "fleur de peau" (trên mặt ngoài da) và cách dùng chữ "fleur" còn có nghĩa là "hoa"). Giữa hình dáng những gốc rễ thẳng đứng, bám chặt vào đất, biểu trưng cho chủ thể trung tâm, và những gốc rễ không sâu, theo chiều ngang, loại rễ lan nổi tiếng của Deleuze được hồi sinh bởi Rosi Braidotti như là một ẩn dụ về thứ chủ thể rày đây mai đó, là người "bôi xóa biên giới mà không phải đốt cầu" (4), còn là thứ lục bình nước với cọng rễ mảnh khảnh trôi theo dòng nước. Đấy là hiện thân của sự bí ẩn với một lý lịch trôi nổi, thứ bí ẩn viết bằng tiếng Pháp (dirty foreigner writing in French) như Linda Lê và nhân vật kể chuyện trong Slander tự xưng, là người chưa bao giờ tìm được tiếng nói, chỗ đứng trong nền văn hóa cội nguồn và trong tiếng mẹ đẻ, nhưng cũng chưa hẳn là đã chạm được đến nền văn hóa nơi trú ngụ (cả trong văn hóa Pháp lẫn trong văn chương). Như vậy, cô ta bị xử phạt phải đứng giữa sự im lặng và thừa mứa chữ, mượn đỡ một câu của Roland Barthes, "vừa rất văn hóa vừa rất mọi rợ".

 

Chúng ta thử nhìn đến một bí ẩn khác, Vinh L., tên gọi của nhân vật chinh trong truyện ngắn Les Evangiles du crime, đối tượng cuộc phỏng vấn của Bernard Rapp. Bỏ qua ba cuốn sách đầu vì cô thú nhận đã "bước vào Pháp ngữ với lòng tôn trọng và nể sợ trước bộ mặt quyền uy của nó, và viết với sự khuất phục" (Yeager 97), cuốn thứ tư, Les Evangiles du crime cũng đã nhặt lượm nhiều trắc đồ đã có trong những cuốn trước nhưng đấy còn là một khởi hành trong kỹ thuật và văn phong truyện kể, với cách dùng chữ lặp đi lặp lại, sự nói nhiều quá đáng xen lẫn với im lặng, một tiếng nói vừa từa tựa tiếng gào truyền kỳ của giống cây độc nhân sâm khi bị nhổ, vừa là tiếng thì thầm trong miệng bịt kín, kể lại sự đau khổ quá sức chịu đựng đến nỗi không còn thốt được nên lời. Như ba truyện khác trong tuyển tập, "Vinh L." được khắc dưới dấu hiệu hàng hai - sự đan quyện giữa hai tiếng nói, hai nhân vật đến cùng lúc chỉ để hoàn tất thỏa hiệp phá bỏ và tự hủy. Nó còn là một câu chuyện nói về sự cần thiết và không thể được, để tự diễn đạt, phơi bày cái bí mật trong lúc đang sống, sự ham muốn và bất khả thể để được là chính mình và là người khác. Qua nhiều lá thư, nhân vật chính trong truyện, Vinh L., kể với người nhận thư, một nhà đạo văn, những gì đã xảy ra trong cuộc hành trình. Trong khi Lê không bao giờ nhắc đến nguồn gốc của Vinh, người ta có thể phỏng chừng, hắn là người Việt sống ở Pháp, cái biến cố được nhắc đến xảy ra không mấy lâu sau ngày Sàigòn thất thủ, và hắn ra đi với làn sóng boat people trên một chiếc tàu mong manh, rời quê hương xứ sở. Để sống còn trên đường vượt biển, hắn và những người đồng hành định mệnh đã giết và ăn thịt một người chung thuyền. Như đã nói trước ở chương dẫn, được viết bởi nhà đạo văn, Vinh là người đầu tiên nhận ra những đoạn văn ăn cắp, và liên lạc với hắn, bởi Vinh nhận thấy mình trong nhà đạo văn ấy: "để hiện hữu, sách của nhà văn phải ăn những cuốn sách khác. Để sống còn, Vinh L. phải ăn thịt người" (176-77).

 

Cảm hứng của truyện ngắn này đến với Lê sau khi cô đọc một truyện tương tự trên báo, trong đó "những tác giả của bi kịch đã cố gắng bằng mọi cách để tự dung xá bằng cách nói `ồ, chuyện đã xong rồi, thôi đừng nhắc đến nữa" (Caractères). Nếu "tội lỗi nằm ở khởi thủy của viết lách" đối với Lê như cô đã nói trong một cuộc phỏng vấn ("Entretien"), thì không có gì ngạc nhiên khi một mẩu tin tức báo chí cung cấp nguồn tài liệu mơ ước, một cơ hội bằng vàng, qua hành động biện giải bằng ngòi bút, không chỉ cho riêng tội lỗi của cô mà còn cho tội lỗi của người khác nữa. Nhắc đến những người trong mẩu tin tức ở chương trình Caractres, cô giải thích:

 

"Tôi muốn gánh vác tội lỗi của họ, thứ tội lỗi không muốn tự biểu lộ, thứ tội lỗi muốn, bằng mọi cách chừa ra nỗi đau đớn, để tự nó biểu lộ. Khi đảm đương việc này, tôi có cảm tưởng ít nhiều giống như một người đạo văn tìm cách níu lấy một lần nữa những biến cố đã sống bởi người khác".

 

"Nhà đạo văn," người thư từ qua lại với Vinh đã viết một cách lãnh đạm, mượn đỡ câu văn của người khác mà không dùng ngoặc đôi, "là cách văn minh chấp nhận những kẻ ăn thịt đồng loại" (176). Và kẻ ăn thịt đồng loại, theo Linda Lê, "là người tiêu thụ cái gì câm nín." Qua chương trình văn học truyền hình, qua chính tác giả và truyện ngắn, người ta có thể tham dự vào mạng lưới hành động ăn thịt người, phối hợp "cái gì câm nín," trở thành ước muốn ăn-thịt-hóa tội lỗi của người khác, hoặc theo thói quen, nói giùm cho Cái Khác. Nếu tội lỗi được xem như là dấu hiệu của khuất phục, thì ta đã hình dung trước một vị trí đối kháng, nên nhớ rằng "thứ luận thuyết nào nuôi dưỡng mầm mống lỗi lầm và tội lỗi đều là luận thuyết của quyền lực và kiêu căng" (11) như Trịnh Thị Minh-Hà đã nhận ra rất đúng trong Woman, Native, Other. Linda Lê để ý kỹ đến điều đó. Thế giới tiểu thuyết của cô có nhiều nhân vật đã-có-lần-im-lặng - đàn bà, di dân, sống bên lề, bị ngược đãi những người qua lời nhạo báng và giận trách, chửi mắng thái độ mê sảng của bọn phương Tây muốn nếm mùi kinh nghiệm "nhân chủng" và những mẩu chuyện thành công của bọn di dân truyền rao văn hóa bằng cách xoay mòn bất cứ cố gắng nào để nhận diện lý lịch, tội lỗi hay tự thương hại của chủ thể bị phân cách, và phân cực - dân thuộc địa/thuộc địa hóa, Đông/Tây, văn minh/mọi rợ, kẻ chiếm đoạt/người bị chiếm đoạt.

Ngược với truyền thống văn chương phương Tây, trong và sau thời kỳ thuộc địa hóa, đã chính thức ghi khắc đại diện của Cái Khác dựa trên khái niệm của "cố định, như dấu hiệu khác biệt của văn hóa/lịch sử/[và] nhân chủng" (Bhabha 66), ta tìm thấy, trong "Vinh L.," sự cố gắng của một người Việt tìm cách ghi khắc truyện kể của hắn. Tuy vậy, nó không phải chỉ là việc đổi vai trò, đổi tiếng nói, đổi quan điểm. Linda Lê cống hiến chúng ta sự phức tạp của lối kể truyện vượt ra ngoài những đối tính. "Vinh L." được đặt trong một môi trường lẫn lộn tình cảm, trong đó hoàn toàn không làm sao phân biệt được thiên thần và kẻ ác, người có tội với người vô tội, kẻ ăn thịt người và người bị ăn. Hơn nữa, mặc dù độc giả được dẫn dắt đến chỗ tin rằng những lá thư đó được viết cho nhà đạo văn bởi Vinh, trong cách sàng lọc viết lách hậu hiện đại, ta không thể biết ai là tác giả, vì nhà đạo văn, với thói quen ăn cắp, và dùng mánh lới để đạt đến hoàn hảo, đã viết lại những lá thư nguyên tác chỉ vì hắn nhận ra, nó quá "chính xác", quá "lạnh" cho cái vị giác tinh tế của hắn, và nghĩ rằng Vinh đã trao "một tội ác đông lạnh gói bằng giấy kính trong suốt" trong khi hắn muốn Vinh mang lại, "trên cái mâm, thịt còn tươi mùi máu" (177) . Sau đó, để xóa tan bằng chứng, hắn hủy bỏ mọi lá thư nguyên thủy. Dù vậy, hắn vẫn đối diện ngay lập tức với sự kiện rằng bản viết của hắn có vẻ sai lạc, và buộc phải nhớ lại những lời thư nguyên thủy của Vinh. Hắn đầu hàng và thú nhận thất bại: "khi viết lại lần thứ nhất những lá thư của Vinh L., tôi muốn ăn thịt hắn. Để rồi tôi bị hắn ăn thịt" (178). Ở chuyển động đầu, hắn phù hợp với ước muốn của người Việt, hăng hái làm vật hy sinh, để rồi thấy mình trở thành kẻ ăn thịt, phó bản của hắn, kẻ tiêu thụ chữ nghĩa của người khác vì thiếu thịt người. Nếu Vinh gởi những lá thư này cho nhà đạo văn với hy vọng rằng nhà đạo văn ấy sẽ tự cho là của mình, như vậy, chuyển giao được tội phạm và tội ác của hắn lên người kia. Nhưng thế, khi lần vết câu truyện, người viết phải tự đặt mình vào vị trí của Vinh, nằm trong hắn, để "thuộc về hắn tự bên trong," và biến thành nạn nhân của hắn. Đối với Vinh, từ khi đến Pháp, hắn đã vùi mình trong một cuộc háu đói văn hóa với mục đích "rửa sạch cái mọi rợ trong hắn," nguôi ngoai qua sách vở y hệt như hắn đã làm dịu cơn đói bằng cách giết người chung thuyền. Cảm giác, nếu thật sự là của hắn, chính ra đều rút từ văn chương phương Tây và lời thú nhận, tự nó vẫn còn xa lạ vì nó đã được viết và phun ra bằng một ngôn ngữ không phải của hắn. Dù ta có nghi ngờ tác quyền của những lá thư này hay không cũng không có gì lạ, vì văn chương và hành động viết khiến hắn cách biệt với chính hắn; bản ngã, lý lịch, tất cả đều bị giảm xuống, và chỉ có thể định nghĩa được bằng quan hệ với hành động hắn đã làm trên thuyền, một hành động không nói được - hắn là kẻ ăn thịt đồng loại.

 

Truyện ngắn tạo hình ảnh nghịch lý của lý lịch và biến hóa, nối kết và phân chia. Nó nằm ở "ngưỡng cửa," mà Homi Bhabha nhắc đến, "chỗ đứng lưng chừng, nơi vừa cho phép vừa cấm cản mọi lý lịch từ đôi bên được an cư ở phân cực nguyên thủy" (4). Truyện kể nghiêng từ ngòi bút của Vinh qua ngòi bút của nhà đạo văn và ngược lại: nếu nhà đạo văn đủ sức làm Vinh cung khai thì điều này chỉ xảy ra qua cái giá phải trả là nhượng lại cái bí mật của chính hắn. Hắn phải cung khai tội ác của mình là ăn cắp văn người khác. Nhưng cái bí mật cho phép người giữ nó nhận thức được, hắn cũng có một cái tôi, như đứa trẻ giữ kín một bí mật chợt nhận ra cha mẹ không thể nào biết được những gì trong đầu nó, sẽ hủy diệt và giết chết bởi đức tính của cái không thể diễn tả. Nói một cách khác, sự phơi bày bí mật cho phép ta sống nhưng lại dẫn đến sự mất mát một phần cái tôi - tóm lược, đó là điều kiện cần thiết trong điều kiện bị thuộc địa hóa để hiện hữu, hắn phải tương xứng với hình ảnh của Cái Khác, một hình ảnh xa lạ thiết kế bởi bọn thực dân, cái hình ảnh đã ngăn cấm không cho đến gần thứ gọi là "cái Tôi nguyên bản," nhưng ra khỏi đó, hắn lại không thể sống còn. Như thế, bí mật phân chia, nhưng một khi nó là "bí mật", nó lại loại bỏ những chướng ngại phân biệt Cái Tôi và Cái Khác, cho phép Cái Tôi biến mất trong Cái Khác, để gần gũi và nhập thành một với hắn. Đó là một tràng ẩn dụ ăn thịt đồng loại: để biến mất trong Cái Khác và chứa Cái Khác trong nó; cái bí mật, tiêu thụ và gặm nhắm, là bí mật hóa trong chuyển động xuất tinh, làm nhơ bẩn trang giấy trắng với những dấu mực và máu trong hành động tối hậu của tiêu thụ. Một ẩn dụ ăn thịt đồng loại khác: việc Vinh đảm đương thư từ qua lại còn là một điệu bộ hướng về sự chịu phép Thánh, hối hả bởi ước muốn cho và về Cái Khác. Tuy vậy, bởi phỏng đoán hoàn toàn về địa vị của hắn là "mọi rợ," là "ăn thịt người," hắn đã mở rộng đón chào phương Tây, thích thú sự tưởng tượng hướng về phương Tây, và dẫn đến sự chiếm đoạt những hình ảnh đã thoát khỏi bọn thực dân, biết rất rõ là những hình ảnh này luôn luôn thoát khỏi họ, như thế, chế nhạo sự sợ hãi, mê hoặc, ước muốn và kỳ ảo của họ. Về "kỳ ảo của dân gốc", Homi Bhabha quả quyết, "một cách chính xác đã chiếm ngự lấy chỗ của người chủ trong khi vẫn giữ nguyên địa vị một tên nô lệ trong sự giận dữ trả thù" (44): "Tôi chưa có hết những thói quen của anh" Vinh viết, "tôi có sự thành thật bí ẩn, ngốn ngấu văn hóa nhưng ọe ra cho mọi người sự nôn mửa nó" (191).

 

Trong một bài viết bóng gió về cuộc hành trình của James Cook tại Thái bình dương, Gananath Obeyesekere gợi ý, luận thuyết của người Anh về cách ăn thịt đồng loại phơi bày quan hệ giữa Ấu châu và Man rợ, nhiều hơn là đặc tính của tục ăn thịt người Man rợ. Vì, một bên là những nhà nhân chủng người Anh, hăng hái trong việc xác định giả thuyết của họ, đã phỏng chừng một cách tự nhiên rằng những người Hawaii mà họ gặp là giống ăn thịt người; trong khi bên kia, người Hawaii khi nhìn thấy bọn thủy thủ rách rưới, dơ dáy và đói khát lên đảo, ngốn ngấu thức ăn và hỏi về tục ăn thịt người, đã nghĩ rằng chính bọn người Anh này sẽ ăn thịt họ. Mặc dù dân Hawaii không ăn thịt người, tuy vậy, họ vẫn là mối đe dọa cho đám người Anh. Như vậy, luận thuyết ăn thịt đồng loại, Obeyesekere kết luận, được dùng bởi cả hai phía và "thêm phần rắc rối bởi bọn khôi hài và nghiêm túc: bọn khôi hài bởi vì hình như có lúc, ít ra, họ có vẻ thích thú trước sự biến thể của bọn Ấu châu; và bọn nghiêm túc, vì đấy là khí giới làm họ sợ trong bối cảnh đồng thế lực, nơi mà khí giới thật sự của họ hoàn toàn không là gì hết so với súng của bọn Ấu châu" (23). Một phương pháp tự bảo tồn khác được tìm thấy trong văn chương Créole mà Mireille Rosello đã khảo sát trong cuốn Littérature et identité crole aux Antilles (Literature and Creole Identity in the Caribbeans). Nói về tình cảnh người Caribé bị xem là đứa con hoang của Pháp và Phi châu, bà giải thích:

 

"giữa phản bội, bỏ rơi bởi lịch sử, và sự chấp nhận thụ động dẫn đến sự khó tiêu, nôn mửa, là hình thức nói duy nhất của đứa con hoang và cho phép nó từ chối một cách có tổ chức thứ gì biếu không, ngay cả khi nó không có những phương tiện để phát minh ra thứ khác" (130).

 

Sự liên lạc của Vinh còn là những gì hắn ụa mửa, nôn trở ra, nhưng ta có thể cố tự biến chúng thành những bức thư tình mà hắn gởi cho bản sao của hắn, kẻ thù địch: "có thể anh sẽ không giữ những bức thư này; dầu sao anh cũng không bao giờ chép lại vì chúng rắc rối, đầy cuồng nộ và rên rỉ, hãy đối diện điều này, chúng nó rất tệ, như tất cả mọi thư tình khác" (225). Nghĩ rằng sự liên lạc này là bắt buộc đối với hắn và vì nó tượng trưng cho khả năng hồi phục của hành động không thể nói được, để đạt tới khoái lạc mãnh liệt [cô dùng chữ jouissance"], làm hắn "bất lực":

         

Tôi không biết làm sao để đánh thức dương vật của mình dậy. Tôi là một thằng đàn ông kiệt sức với quá nhiều khoái lạc mạnh bạo. Khi tôi nằm xuống, khi tôi kẹp giữa hai chân một miếng thịt lạnh ngắt, không có gì kích thích cả. Khi tôi nhìn tôi trong gương, tôi chỉ thấy một bộ phận phụ trợ đầy khinh bỉ của kích thích. Đừng nghĩ rằng sự trai giới này là một hình phạt tôi tự gây ra. Tôi không sa vào sự than vãn của một kẻ ăn thịt người bị thiến. Kể từ ngày gây ra tội ác, dục tính của tôi không tìm thấy hứng khởi nào để có được cảm giác cương cứng. Ắn thịt người đã đem lại một lần, chỉ một lần mà thôi, một khoái lạc xuyên thấu đến độ biến tôi thành bất lực. (195)

 

Trong khi hành động viết cho phép hắn tìm lại nam tính, sự cường tráng, bằng cách nhận diện lý lịch đối với kẻ thực dân, không có gì nghi ngờ, ngòi bút đã thay thế con dao đã giết và phân thây nạn nhân trên thuyền, và dục tính của hắn không còn đáp ứng với kích thích, ta cũng có thể đặt hắn vào vị trí sẵn sàng, và ngay cả thách thức, tự đầu hàng nhà đạo văn, như đầu hàng tình nhân, trong khi vẫn giữ sự thực thi "ăn thịt đồng loại tỉnh ngộ." Thật thế, Vinh nói với hắn: "Hãy ăn cắp văn tôi. Lột trần tôi. Lóc da tôi. Anh không làm tôi đau, bởi vì anh chỉ lột bỏ lớp da trí thức của tôi" (226).

 

Tuy nhiên, luận thuyết tình nhân, như một nơi hồi phục, tiêu thụ, và chịu thánh lễ (trong cả hai nghĩa xưng tội và chịu mình Thánh) là một luận thuyết phỉnh phờ. Mặc dù sự liên lạc thư từ là một trong những hình thức đặc quyền của truyền tin, nó diễn ra trong đơn độc và tượng trưng hóa sự vắng mặt. Như thế đó, nó mang chúng ta trở lại hiện trường tội ác trên thuyền. Trong khi bi kịch xảy đến cho cả cộng đồng, tuy vậy, mỗi thành viên của nó phải gánh vác phần lỗi và trách nhiệm của riêng mình. Và để giết, để tiêu thụ thịt người, họ phải "tự phép nghỉ để có đủ thì giờ nhai và làm dịu cơn đói" (194). Trích dẫn một "mảnh của luận thuyết tình nhân," khác của Roland Barthes, có thể nói rằng "vắng mặt chỉ có thể xảy ra vì là hậu quả của cái khác" (19) theo đó, ta có thể thêm được là "Cái Khác trong chính ta." Và để chịu đựng sự vắng mặt, ta phải có thái độ của một "chủ thể đã dứt sữa; tự ăn, đồng thời làm các việc khác, ngoài bầu vú mẹ" (20). Để hợp nhất với văn hóa của người khác, Vinh, thật thế, đã có thái độ "chủ thể dứt sữa," trong khi chờ đợi trở về với mẹ, như ta thấy ở đoạn kết, để làm mới lại mối nối tưởng tượng đã ràng buộc hắn với đất mẹ. Nhưng trong lúc ấy, "sự vắng mặt" còn là, theo Barthes, "sáng tạo của tiểu thuyết" (22). Viết, ngay lập tức là một hình thức mất thiện cảm và "thiện cảm." Nó tạo thành "cơ cấu" cũng như "hủy cơ cấu". Bằng cách hắn cho rằng "làm tình là để tự vừa lòng với hương vị giả tạo của thức ăn" (196), Vinh luôn biết rằng bí mật vừa là nói-với-nhau vừa là bị cấm trong viết (theo nghĩa tiếng Pháp inter-dit dùng bởi Derrida), bởi vì nếu nó cho phép sự cứu trợ tương tự, nó lại không dung xá; và giả như nó dung xá, nó không còn đạt đến hành động nguyên thủy, bản tường trình "sống":

 

Tôi viết để kể với bạn câu chuyện của tôi: tội ác của tôi không bình thường, có thể tóm tắt được bằng ba chữ: tôi đã giết. Không có liên hệ gì khác. Bất cứ gì khác người ta thêm vào, là sự tái thiết. Người ta chỉ có thể xác nhận một khi mặc cảm tội lỗi đã bị chinh phục. Người ta cho người khác những mảnh vụn bánh mì, thức ăn hâm lại, thịt nguội lạnh. Trong đó, tội ác giống như tình yêu: khi xúc cảm còn thành thật, người ta quấn mình trong im lặng. Người ta bắt đầu bép xép khi xúc cảm đã chết. (206)

 

Vinh đã "để mình bị lôi cuốn bởi những chữ xoay vòng" của người đạo văn để đi đến nhận thức một cách đau đớn rằng, nếu chữ dùng để nuôi dưỡng tinh thần, thì chúng không làm được gì hết cho cơ thể, phần man rợ và chưa thuần của cái tôi: "cả người tôi run rẩy và suy yếu, bừng bừng với kiến thức đầu độc mình. Đầu tôi trên cao và cơ thể trong bãi lầy" (219). Ở đoạn kết, khi nhận được thư mẹ báo tin cha chết, hắn quyết định về nước để học lại sự im lặng, để sống ở một quê hương mà những người đàn bà như mẹ hắn không có "những ý nghĩ ồn ào" và không có "vị giác... cho thứ tự hủy quanh co và chuyện phiếm rỗng" (225). Trở lại với mẹ tức là trở lại thời tiền Oedipus, trở lại trạng thái toàn vẹn/đầy đủ nơi mà ngôn ngữ biến thành vô dụng. Trong trường hợp này, trở lại với mẹ còn là hành động quá mức, vượt qua sự đồng hóa chính trị, kinh tế của "ăn" và "bị ăn," biện chứng của "vị giác ngon" và "vị giác dở". Vinh không bao giờ thấy mẹ ăn. Bà không có vị giác hoặc ở ngoài mọi vị giác. Nếu "để nói, và trên hết mọi thứ, để viết, thì phải kiêng ăn" (20) là đúng như Deleuze và Guattari đã quả quyết trong What is a Minor Literature, kiêng nhịn là điều kiện cần thiết cho viết và viết, thay thế sự ăn, mặt khác, hình như Linda Lê đã gợi ý ở kết cuộc, cái thay thế cho kiêng nhịn là sống không tạo nên sự thay thế hay một điều kiện của hoặc cho bất cứ điều gì; sống có thể và phải là, tự động.

 

Tuy vậy, vẫn có vài câu hỏi cần được trả lời: Làm thế nào để một người, như Vinh chẳng hạn, trở về với mẹ khi "hắn phải nuốt sống cuống nhau nối liền đất mẹ" (226-227)? Làm sao hắn ngừng trôi nổi và tìm đường trở lại khi "gốc rễ [của hắn] không sâu hơn mặt nước"? Làm thế nào hắn về lại mái nhà xưa khi điều này, điệp khúc của một bài hát quen thuộc ám ảnh và nhắc nhở hắn: "Tôi là người xa lạ ở đây/ Tôi là người xa lạ ở bất cứ đâu/ Tôi sẽ về, nhưng/ Tôi là người xa lạ ở đó" (Slander 22)? Chắc chắn, kết cuộc của "Vinh L." hình như còn mơ hồ, và tệ hơn, không tưởng. Nhưng tôi nghĩ, ít nhất có hai cách khác để diễn dịch đoạn kết: thứ nhất, khi đọc Lê, ta phải luôn luôn đề phòng cách cô dùng sự châm biếm, ta phải luôn luôn nhớ đến tài "đâm thủng" và làm xói mòn "những ảo tưởng to lớn," kể cả ảo tưởng của chính cô, và tiếng cười kỳ quái ẩn trốn dưới lối văn mê man tuyệt vời: đoạn kết ấy có thể là nhại đùa giấc mơ trở lại của đám người ly tán. Thứ hai, tôi tin là cần thiết để nhớ rằng truyện ngắn này đại diện cho một thời tiến triển trong đời tư và đời cầm bút của Lê. Câu hỏi về sự trở lại là câu hỏi đích đáng, cho những nhóm lưu đày, di dân, hay tị nạn, ở một điểm nào đó hay đến một mức độ nào đó, đã không đến hoặc mơ tưởng đến sự trở về, ngay cả khi chỉ để nhận ra sự không thể làm được như người kể chuyện trong Slander nhận ra về sau, điều ta có thể xem như là một hành động tàn phá đầy ngụ ý nơi đất mẹ của cô. Trong Slander, được phát hành sau Les Evangiles du crime, câu cuối cùng rất giản dị: "Tôi đang rời khỏi" (150). Tương tự như vậy, trong Voix và Lettre morte, tác phẩm gần đây nhất của cô, người kể chuyện lặp lại kết cuộc quen thuộc này; một thì nói: "Tôi phải lên đường lần nữa" (69) và cuốn kia thì "Tôi phải đi".

 

Tất cả đều đi đến kết luận, trích dẫn lời của tác giả cuốn LIngratitude, Ying Chen, người Gia nã đại gốc Tàu, "điều quan trọng hơn hết là tiến tới và không hẳn là để đến nơi. Những người muốn đến một nơi nào đó, đi tìm một chỗ riêng biệt. Tuy vậy, thoạt đầu, mọi nơi đều có khuynh hướng xua đuổi ta đi, rồi lại giam cầm ta lại. Bất cứ nơi nào chúng ta đến, rồi thì ít nhiều gì chúng ta cũng đều được chôn cất y hệt như vậy" (62).

 

Hành trình đầu tiên của Vinh L., như dấu hiệu của chuyến đi từ văn hóa này sang văn hóa khác, từ phương Đông đến phương Tây, được thực hiện qua sự giết chóc và tục ăn thịt người. Cái tội ác hướng về Cái Khác lật ngược trở lại, và cái ước muốn tiêu hủy Cái Khác giống như ước muốn chiếm hữu văn hóa và ngôn ngữ của Cái Khác, chỉ thành hình được qua sự mất mát và hủy diệt cái tôi. Tuy vậy, nếu vì ăn thịt người khiến xã hội xa lánh và cấm hắn không được qua lại với kẻ khác, đấy cũng là một bi kịch tạo nên năng lực để hắn chống lại sự chiếm hữu và đạt được tiếng nói mới, một im lặng mới. Một im lặng đã dẫn phương Tây đến chỗ lảm nhảm một cách khó chịu và điên khùng trong sự bất ổn định của chính nó, lúc gặp Cái Khác, và để tự an cư trong khoảng lờ mờ của sự phỏng đoán. Một cách nghịch lý, hành động không thể nói được thoát khỏi luận thuyết nhưng lại cho ra đời một chủ thể vùng vẫy ở lưng chừng, trong mập mờ, và không thể níu giữ và giam hãm trong luận thuyết phương Tây. Nó cho phép hắn được "rời khỏi xứ sở của những người điên khùng mà không bước vào đất nước của những người bình thường" (71) như người cậu, người Tàu, trong Slander, đã nói, mặc dù không có gì để nghi ngờ rằng độc giả, không quen mấy với kiểu lặp đi lặp lại này, cũng cần bị bỏ đói để có thêm sự thèm muốn: thật sự ra, chính Vinh L., một chủ thể tội ác không thích đáng, được đặt ở khắp nơi và không ở nơi nào, đã thoát khỏi điều luật của tính cố định; một kẻ sát nhân ăn thịt người, không hẳn là đi tìm sự ăn năn; một "nhà văn đang lên" "vừa có văn hóa vừa man rợ" đã nhúng ngòi bút trong thống khổ; một bí ẩn, một đứa ngoại quốc dơ dáy, với cái nhìn băn khoăn, dù không có gì cả hay tất cả mọi thứ trong hắn phản bội quá khứ ăn thịt người, thách thức mọi nguồn căn mà những người "văn minh" đã dựa vào để có thể tự phân biệt với người "không văn minh"; một ăn năn mà ta không thể tin cậy; một cái tên không ăn nhập với quốc gia nào, dù vậy vẫn có vẻ xa lạ và ngoại quốc, và lối đọc tên cũng không chính xác; thật ra, không phải riêng Vinh L. mà còn có "cô ấy" (elle, she), tác giả, Linda Lê, Linda Li hay Linda Le, người phụ nữ trẻ mặc toàn đen ngồi yên lặng trong bối cảnh văn chương Pháp mà người ta sợ rằng có thể là cô đang trốn đàng sau "vẻ ngây thơ bề ngoài," không chỉ là số mệnh của một tên đạo văn mà còn là xu hướng biến thành kẻ ăn thịt đồng loại.

 

(Thêm vào câu phê bình cuối, tôi cũng nên nói là mặc dù không hề có nhiều dư luận như chuyện nhà văn Calyxthe Beyala nổi tiếng ở Pháp, đã bị cáo buộc và thưa kiện về việc đạo văn, đã có vài nghi ngờ rằng tác phẩm đầu tiên của Lê, hơi mỉa mai một chút là cũng chú trọng đến chuyện đạo văn, được viết bởi một trong những bạn trai cũ của cô).

 

Leakthina C. Ollier

Nguyễn Thị Ngọc Nhung dịch

 

Chú thích

Leakthina C. Ollier

Assistant Professor of Roman Languages tại Bowdoin College

Spring 2000 Faculty Lectures Series, April 6, 2000.

  

(*) Người viết chơi chữ, dùng tựa Cô bé quàng khăn đỏ, the little red riding hood thành ra the little black "writing" hood.

■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■

Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách

Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập