flux
vũ đức thanh, giữa nét thăng trầm

nguyễn vĩnh long


 

Tôi gặp lại Vũ Đức Thanh lần nầy, loáng thoáng, đã hơn một năm rưỡi. Cả anh và tôi rất ít khi liên lạc nhau. Gần như không liên lạc với nhau thì đúng hơn. Thanh sống kín đáo, còn tôi thì không gần gũi với sinh hoạt của đám đông. Anh bận bịu chuyện anh, tôi xuôi ngược đời tôi. Thỉnh thoảng, tôi nhận được tin anh qua sinh hoạt của một nhóm thân hữu trên một diễn đàn văn nghệ liên mạng. Và ngược lại... Vậy mà khi gặp lại, câu chuyện bắt đầu và nối tiếp cứ như mới chia tay nhau tối hôm qua. Chừng như lúc gần, tôi và anh nén nguyên vẹn những mảnh màu của đời sống trên khung vải tình bạn. Để sau đó, cần một khoảng cách nhìn ngắm, trân trọng những sắc màu tâm cảnh của nhau. Yên lặng là một khoảng cách cần thiết "sống-chết" của đời sống nghệ thuật? Có lẽ. Hay ít nhất đối với tôi và với anh. Điều khác biệt ở đây, anh là một họa sĩ còn tôi, chỉ là người luôn "mù-quáng" trước mọi cái đẹp.

 

Vũ Đức Thanh đón chúng tôi ngay bãi đậu xe của khuôn viên thư viện trường đại học UCF (University of Central Florida). Buổi trưa đứng bóng, thành phố Orlando nắng đổ chói chang. Trông Thanh gọn gàng và trẻ hơn. Đi với gia đình tôi còn có hai người bạn văn nghệ của tôi và anh, chị Cúc Trân ở Tampa và anh Bùi Trần Tuấn ở cùng thành phố. Sau vài câu thăm hỏi thông thường, Thanh nói sơ qua về cuộc triển lãm mang tên "FLUX". Bắt đầu từ hai hôm trước, 5 tháng Bảy, cuộc triển lãm sẽ kéo dài đến hết tháng nầy. Cùng với anh, là một họa sĩ người Mỹ, Nick Davis, giáo sư môn Fine Art cho Sanford Community College.

 

Thanh vẽ tranh không nhiều. Nhưng tranh anh dầy chiều sâu của màu sắc và bao la trên mặt bố thời gian. Anh không vẽ tranh để vẽ. Đắn đo, suy tưởng và chờ đợi sự "chín-mùi" những cảm nhận, những ám ảnh không ngừng trong đời sống. Của quá khứ. Với hiện tại. Hay cả những tầm nhìn của ngày mai. Có rất nhiều điều đến, qua đi và đôi điều ở lại. Anh đón nhận nó như niềm hạnh phúc vô biên. Để rồi trong những đêm khuya, những ngày cuối tuần "rãnh nợ áo cơm", anh ghi lại trên khung vải của mình. Nghệ thuật theo anh, không phải là một cứu cánh vật thể, mà là cách nhận thức. Điều trọng yếu không là phong cách hay hình tượng. Chính là tư tưởng (1). Phòng tranh chỉ trám đầy một vách của thư viện nhưng màu sắc phủ kín mọi chiều của không gian.

 

Với mười lăm bức tranh, một con số khiêm nhường cho một cuộc triển lãm, anh làm tôi ngạc nhiên và thích thú đến bất ngờ. Khác hẳn một Vũ Đức Thanh phản kháng ầm ĩ trong những sắc màu nóng, bén cạnh chực chờ bùng nổ; những xáo trộn hiện thực chênh vênh trên những bờ ngờ vực tuyệt cùng. Đã thấy một Vũ Đức Thanh an nhiên tự tại. Đã gặp được Vũ Đức Thanh mới lạ thong dong. Từ nét sơn đến đường cọ. Từ The Drama Of Emotion, sắc tím phủ trùm mọi không gian của tâm tưởng đã qua và còn đó, trong quá khứ không ngừng lùi sâu từ hiện tại chồng chất, bủa vây. Nhưng màu tím trong những vệt xuôi giòng chen lẫn xanh, nâu, vàng xám của My Birthplace lại là những ngậm ngùi về một nơi chốn tưởng đã khuất xa. Đối diện, Thanh mở rộng tâm cảnh hun hút phía sau sắc màu của tâm tưởng. Màu tím trong tranh anh không phải là những nỗi buồn tuyệt vọng, mà là chuổi ngậm ngùi một dĩ vãng đã xa. Một nơi chốn mà nỗi đau vĩnh viễn là vết thương không lành trong dòng ý thức anh đang trôi qua cánh cửa hiện tại. Tôi không dừng lâu, chỉ đủ giữ lại màu tím của bờ vực thời gian ẩn khuất, ngỡ quên... Đến Early-Afternoon và Blue Moon thì tranh anh khác hẳn. Tính lãng mạn trừu tượng (abstraction lyric) mới mẽ và táo bạo, trong màu xanh rõ nét và xẩm tối phía sau nền. Cân đối mà không mô phỏng. Nét cọ không mỏng ở mức hững hờ nhưng cũng không dày đến thô bạo. Tôi vốn khó tính với màu xanh, một màu sắc thông dụng dễ dẩn đến sự tầm thường. Phải nhắc đến họa sĩ người Bỉ, René Magritte (2) với các họa phẩm sử dụng màu xanh lừng lẫy: The Return, Battle of Argonne và Voice of Space. Chịu ảnh hưởng của Giorgio de Chirio (3), René đã tạo một phong cách riêng cho mình. Ông dùng màu sắc và hình tượng đơn giản để tạo những ấn tượng phong phú, kỳ ảo trong tranh. The Return là hình ảnh của cánh chim bồ câu bay trên chiếc tổ đầy trứng trong một khung nền toàn xanh. Hay Voice of Space với một bầu trời xanh trống không và những hình khối tròn hở miệng.. Hầu hết màu xanh của René dàn trải, biểu hiện chiều cao rộng của không gian và gây nhiều ảo giác. Hoặc màu xanh đầy tính trữ tình, tươi sáng với nhiều đường nét trừu tượng (abstract) trong Blue II và Miro Dancer của Joan Miró (4), họa sĩ lập thể người Tây Ban Nha. Biểu tượng màu xanh đã bị "chiếm đoạt" trong tôi từ đó... Với Blue Moon, anh đã đánh thức và chinh phục lại tôi với bản màu của anh. Ánh trăng xanh thẳm của Thanh mang cả niềm hy vọng và những hoài nghi. Như chợt đâu, bước lạc vào vườn xưa trong nỗi-cô-đơn-xanh-màu-hạnh-phúc. Chừng như trong tác phẩm nghệ thuật, tình yêu là sự có mặt của bản ngã nhưng hạnh phúc là sự vắng mặt của cái tôi. Cá tính trong tạo hình và cái đẹp trong tư tưởng. Có nhìn thấy bức màu toàn xanh của Thanh, tôi tâm đắc cùng anh sắc màu của hạnh phúc.

 

Một cách cố ý hoặc vô tình, đến Precise Distance thì anh muốn phá vỡ mọi yên lặng mở từ đầu. Hai bàn tay như cố vươn lên từ vùng giam hãm, đọa đày. Những tảng màu nóng hình thể chất chồng (volume), tạo nhiều phản tính mạnh mẽ. Sự phản kháng của thân phận hơn là sự phá hủy của quá khứ. Có màu đỏ, có màu nâu trộn lẫn tím, vàng tạo nhiều cảm tính mãnh mẽ. Đường cọ thẳng đứng, mạnh bạo chồng lên nhau như kêu gọi những khát vọng tự do tột cùng. "Tôi không dùng đề tài chiến tranh. Tôi chỉ vẽ con người Việt Nam. Có máu, có nước mắt. Có chia lìa, đau đớn. Cả thế giới đều biết cái thể thảm của cuộc chiến." Anh đã nói như thế về đề tài trong sáng tác của mình (5). Không hiểu sao khi nhìn Precise Distance tôi liên tưởng đến những bàn tay trong họa phẩm lừng danh Metamorphosis of Narcissus của Salvador Dali (6). Trong bức tranh, Dali dùng màu nóng, sắc đậm trong sự tương phản của thật và mộng, của bóng và hình. Precise Distance của Vũ Đức Thanh với nhiều màu sắc đậm mang tính biểu tượng (expressionism) và ẩn náu trong tiềm thức những ước vọng đầy tính nhân bản (humanism). Thiên nhiên và con người luôn có mặt trong từng đường cọ, nét sơn của anh. Nhưng, là sự có mặt không theo một trật tự và truyền thống có sẵn. Đảo lộn, tản mạn và ẩn hiện bất chợt không chừng. Tãt cả đòi hỏi người thưởng ngoạn phải vận dụng mọi khả năng cảm nhận màu sắc và trí tưởng tượng phong phú để bắt gặp sinh thể trong tranh. Early Afternoon và Precise Distance thể hiện trọn vẹn mối giao cảm giữa con người và thiên nhiên không thực thể. Mọi biên giới của lãnh thổ, màu da,... không còn giam giữ hình tượng con người trong tranh anh. Chỉ còn ước mơ và hệ lụy là tồn tại.

 

Trong một bài nói chuyện với Triều Hoa Đại, anh cho biết: "Vẽ tranh, là một việc làm để cho tôi tìm lại chính mình. Và, cũng là để giúp tôi xoay ngượcthời gian. Dù chỉ thoáng nào trong quá khứ..." (5). Quá khứ và chính mình, là nỗi ám ảnh lớn, không riêng gì với Thanh mà chung cho người làm nghệ thuật. Hiện tại thoáng chốc và quá khứ vô cùng. Người nghệ sĩ không có nhiều lựa chọn thời gian. The Early 2000, là một thể hiện đậm nét của Vũ Đức Thanh về cả đề tài lẫn màu sắc. Toàn bộ bức tranh, khổ lớn, là những vạc màu xám trắng. Nét cọ nhanh, táo bạo như chia khung vải thành hai phần theo chiều ngang không gian không đều. Quá khứ vẫn dự phần nhiều hơn hiện thực. Hình tượng những người phụ nữ ẩn hiện phía trên của nền họa theo đường cong ngang và buông thả nét sơn chiều dọc tạo nên tâm cảnh nuối tiếc, bàng hoàng. Phía dưới là giòng sông hiện hữu, xuôi chở bóng hình của một quê hương ngàn dặm trong anh. Tôi dừng rất lâu ở The Early 2000. Hội họa không chỉ "nói-lên" mà để "cảm-nhận". Kỹ thuật rải màu, đường cọ ngắn dài, nét sơn đa dạng tượng hình (figurative) tạo nội tâm sâu thẳm, nghìn trùng. Nơi một quá khứ hiện hữu và, một hiện tại vắng mặt, trải rộng trên cùng chiều không gian trong họa phẩm của Thanh.

 

Những tảng màu xám trộn lẫn, chồng chất lên nhau bởi nhiều hình dạng giàu tính tưởng tượng trên nền xanh đen xẩm tối tạo nên một Garbage of Society. Bức họa gây nhiều cảm tính của sự thất vọng và mất mát niềm tin. Thật khó khăn để hài hòa một tấm tranh tối trong nhiều sắc màu không sáng. Nhưng rõ ràng Garbage of Society có một vị trí rất sáng trong số tranh trên tường của anh. Những khuôn mặt chết, những thân thể sống lẫn lộn trong cùng một không gian vây hãm, tối tăm. Ý niệm hiện thực của chủ đề được anh thể hiện bằng một bố cục mang tính siêu hình thể (metaphysical). Tôi nghĩ, rất dễ dàng nhận ra cái nhìn đầy thất vọng của anh đối với thời đại và xã hội chung quanh. Khoa học kỹ thuật phục vụ nhu cầu con người nhưng cũng dự phần không ít vào hố thẳm chôn vùi nhân phẩm.

 

Nếu vài năm trước đây, tôi bị choáng ngộp và chinh phục hoàn toàn với bố cục biểu hiện tính thời đại của Infinity Square thì hôm nay là bức họa No Background của anh. Vũ Đức Thanh đã biến những xúc cảm sâu kín của mình bằng nét sơn màu đậm trên khung bố. Sức hút của thị giác không dừng ở bố cục mà bao quát toàn bộ nâu đỏ, xám, xanh, vàng của những phân nền ẩn hiện phía sau tranh. Tính biểu tượng tự tại, an nhiên tạo cho khung màu tối có sức cảm nhận mạnh mẽ với người đối diện. Càng nhìn lâu, tôi càng khám phá nhiều đường nét tượng trưng và vô thể của toàn bộ bức tranh. Khoảng cách của không gian phản ảnh những biến động không ngừng trong sự kết hợp hài hoà của nhiều vết màu tương phản. Kiến thức nghèo nàn về hội họa không cho phép tôi lạc đề nhiều hơn, nên tôi đành nhờ đến tác-giả. Bằng nụ cười hiền lành, thông cảm anh giải thích thêm về bức họa đầy tính mê hoặc nầy. Bức tranh hình thành khi anh được tin nhà thơ Bùi Giáng mất ở quê nhà. Hình tượng và nỗi thương tiếc Bùi Giáng là cấu trúc chính chi phối hoàn toàn đường nét và màu sắc trong tranh. Những bản màu tối, ngoằn ngoèo góc cạnh với những mô hình rối loạn là cả thân người, ôm tròn thân phận của nhà thơ. Hai vai nhô cao như gánh quằn đôi vầng nhật nguyệt đời nầy. Nét sơn mền mại, tự tại, ung dung biểu trưng toàn vẹn con người và cuộc đời của nhà thơ. Tính chất Á Đông hài hoà trong những nét màu vàng, đỏ, xanh trộn lẫn, chất chồng như thật như hư. Sắc tranh màu tối mà xuyên suốt. Sơn màu đọng nhiều nơi mà luân lưu, truyền chảy không cùng. Một cách chủ quan, nếu Infinity Square (Mix Media) biểu hiện tính tượng trưng thời đại cao nhất của nghệ thuật ở cuối thế kỷ XX, thì No Background là biểu tượng cảm tính của người vẽ sâu sắc, mới lạ và nhiều sức mê hoặc nhất của Thanh trong những ngày đầu cho nghệ thuật bước vào thế kỷ XXI. Bức họa chừng như không chấm dứt ở viền khung, hứa hẹn người thưởng ngoạn nhiều, rất nhiều nối tiếp từ No Background của Vũ Đức Thanh.

 

Trải suốt mười lăm bức họa, sắp xếp theo tính thời gian, từ My Birthplace đến No Background là cả những vết thăng trầm của người nghệ sĩ Vũ Đức Thanh trước nhiều biến động của thời đại và ý thức nghệ thuật trong hội họa. Chỉ vài giờ trong phòng tranh, tôi không thể cảm nhận hết những sắc màu "da-thịt" của Thanh, nói gì đến "xương-tủy" để viết về tranh anh. Hơn nữa, hội họa lại là lãnh vực tôi chỉ đứng ngoài, dựa cột. Hỏi: "... anh theo trường phái nào vậy?" Trả lời: "Tôi vẽ theo năng lực và cá tính..."(5). Cũng như anh, tôi chỉ là người thưởng ngoạn theo cảm tính và năng lực hội họa kém cỏi của mình. Quen biết Vũ Đức Thanh vài năm trở lại đây, nhưng tôi đã có dịp nhìn thấy những biến chuyển rất lớn trong nghệ thuật của anh. Không phải ở nét sơn, đường cọ mà trong nhận thức và tư tưởng của anh về cái mới của hội họa. Mọi trường phái đối với anh đều đáng học hỏi, nhưng không mô phỏng và tuân theo như một giáo điều. Sự tái lập trong nghệ thuật đòi hỏi nhiều sáng tạo, nhất là hội họa. Anh muốn dùng năng lực để biểu hiện cá tính của mình trên khung vải. Đường nét và màu sắc tranh anh không phải là những ký hiệu (sign) của đời sống mà là những biểu tượng (expression) của con người và thời đại. Tôi nghĩ tranh anh không phải là sự biểu lộ tính thuần túy của vật thể mà biểu lộ tính nghệ thuật của màu sắc. Đường nét hữu hình vắng mặt, nhường lại cho nghệ thuật trừu tượng và vô thể trong tranh anh. Nét sơn tạo chiều dầy của không gian và những khoảng vô cùng trên mặt tranh. Với FLUX, Vũ Đức Thanh đã tạo cho mình một lối đi riêng, một mạch sống vô cùng trong màu sắc của chính anh.

 

Nguyễn Vĩnh Long

Tháng 7, 2001

 

■ ■ ■

 

(1) Art is not an object, is a way of receiving.

Style or midium is not important. The thought is., được khắc trên bảng đồng cho buổi triển lãm như một phát biểu của Vũ Đức Thanh về hội họa, nói riêng và nghệ thuật nói chung. [ trở về ]

 

(2) Magritte, René (1898-1967): họa sĩ lập thể người Bỉ. Ông sử dụng màu sắc và hình tượng giản dị, quen thuộc thể hiện nhiều ước mơ và viễn tượng. [ trở về ]

 

(3) Chirio, Giorgio de (1888-1978): họa sĩ trường phái siêu hình (metaphysicalism) người Ý. Màu sắc và hình tượng trong tranh ông mang tính ấn tượng mạnh mẽ và tạo nhiều không khí bí ẩn và cô đơn. Tranh của Chirio đã ảnh hưởng rất nhiều đến các họa sĩ lập thể như Salvador Dali, René Magritte... [ trở về ]

 

(4) Miró, Joan (1893-1983): họa sĩ lập thể người Tây Ban Nha. Tranh ông mang nhiều phong cách lãng mạn với cách xử dụng màu sắc trong sáng và hình ảnh trừu tượng. [ trở về ]

 

(5) Tạp chí Văn, số 48 tháng 12, 2000 (trang 106-108). [ trở về ] [ trở về ] [ trở về ]

 

(6) Dali, Salvador (1904-1989): họa sĩ người Tây Ban Nha. Bắt đầu với chủ nghĩa vị-lai (futurism), Dali chuyển dần và được coi là người lãnh đạo của trường phái siêu thực (surrealism). [ trở về ]

 

■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■

Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách

Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập