Ở ngoài rìa Budapest, cách trung tâm thủ đô chừng 15 phút xe hơi, có một công viên rất nổi tiếng, thu hút sự chú ý của không ít du khách ngoại quốc đến thăm nước Hung. Đó là Bảo tàng Công viên Tượng (Szoborpark Múzeum - Statue Park Museum), một bộ sưu tập độc nhất vô nhị trên thế giới gồm những bức tượng, những đài kỷ niệm tiêu biểu của chế độ độc tài cộng sản. Một thời, trong suốt hơn nửa thế kỷ của "chủ nghĩa xã hội hiện thực", những công trình kiến trúc này từng ngự trị tại các quảng trường Budapest, phục vụ hữu hiệu ý thức hệ cộng sản và đường lối văn hóa chỉ huy. Ít nhiều, chúng đã ăn sâu vào tiềm thức người dân Hung và đọng lại như những di chứng đau đớn, khó phai mờ, của quá khứ.
Đến thăm Bảo tàng, du khách có cảm giác như đang đi ngược lại thời gian, về những năm tháng mà Đông Ấu còn nằm sau "tấm màn thép" của thời kỳ chiến tranh lạnh; quá khứ ấy, dù đã trôi qua hơn một thập niên, nhưng dường như vẫn lẩn khuất, hiện hữu đâu đây, giữa và trong mỗi chúng ta. Đặc biệt, có thể cảm nhận một cách sâu sắc điều đó qua bài thơ "Một câu về độc tài" (Egy mondat a zsarnokságról) khắc trên mặt chính diện, được xây dựng theo phong cách hoành tráng của trường phái kiến trúc "hiện thực xã hội chủ nghĩa", của viện bảo tàng đặc biệt này.
"Một câu về độc tài" là thi phẩm nổi tiếng của thi sĩ, nhà soạn kịch Illyés Gyula (1902-1983). Thuộc hàng các nhà thơ hàng đầu thế kỷ XX ở Hung, ông từng theo học trường Sorbonne (1922-1926), là bạn của Aragon, Éluard và thuộc nhóm khởi xướng trường phái siêu thực và ấn tượng ở Hung. Trong sự nghiệp sáng tác, Illyés Gyula đã được nhận nhiều giải thưởng thi ca cao quí như Giải Baumgarten (4 lần; 1931-1936), Giải thưởng lớn Knokke (1956), Giải Herder (1970), Giải thưởng lớn của Hội các nhà thơ Pháp (1978), Giải Kossuth (3 lần: 1948, 1953, 1970; giải lớn nhất trong khoa học và nghệ thuật ở Hung), Giải József Attila (1950; giải thưởng lớn của Hung về thi ca).
Bài thơ "Một câu về độc tài" được Illyés Gyula sáng tác từ năm 1950, nhưng chỉ được công bố năm 1956, vào thời gian diễn ra cuộc cách mạng dân chủ Hungary. Đó là một bản án mạnh mẽ giáng vào chế độ độc tài nói chung và độc tài cộng sản nói riêng. Illyés Gyula đã bóc trần và lên án bản chất và cơ chế của thể chế độc tài, đồng thời ông cũng chỉ ra tính chất "đồng hóa" của nó: độc tài xuất hiện ở mọi nơi mọi chỗ, ngự trị trong tinh thần và thể xác của mỗi con người, biến họ thành nạn nhân và như một căn bệnh lây lan từ người này qua người khác, dần dần nó bắt các nạn nhân trở thành tín đồ phục vụ cho chính nó.
Về mặt nghệ thuật, "Một câu về độc tài" mang dáng dấp một thi phẩm "tân hình thức" với cách diễn đạt hàm súc, chứa nhiều hình ảnh ẩn dụ. Có thể coi bài thơ là một "tiểu trường ca" với 50 khổ thơ (mỗi khổ bốn dòng); độc giả có thể đọc nó một hồi, không nghỉ, và sẽ có ấn tượng như đang đối diện với những cơn sống biển dạt dào, có lúc ồ ạt, không ngừng nghỉ. Đọc tác phẩm này của Illyés Gyula, chúng ta dễ liên tưởng tới bài thơ "Tự do" của Paul Éluárd với điệp khúc "Ta viết tên em: Tự do" được lặp lại nhiều lần. Điều thú vị là Éluard sáng tác "Tự do" khi châu Ấu đang nằm dưới gót giày xâm lăng của Đức Quốc xã, còn "Một câu về độc tài" lại nhằm vào chế độ độc tài Stalin, vốn tự hào đã đánh thắng phát-xít Đức, hoành hành tại vùng Đông Âu chỉ sau đó ít năm.
Cách đây 10 năm, "Một câu về độc tài" đã được Diễm Châu chuyển ngữ ra tiếng Việt (nguyệt san "Thế kỷ 21" số 25, tháng 5-1991, trang 60-62). Đó là một bản dịch tương đối thành công, tuy nhiên có thiếu vài ba khổ thơ và đôi chỗ chưa thật chính xác (có lẽ vì phải thông qua ngôn ngữ trung gian là bản tiếng Pháp?) Chúng tôi xin dịch lại từ nguyên bản tiếng Hung để giới thiệu với bạn đọc một tác phẩm lớn và có tiếng vang của nền thi ca Hung thế kỷ XX.
■ ■ ■
một câu về độc tài
Illyés Gyula
(1950)
Ở nơi có độc tài,
thời độc tài ở đó,
không chỉ ở họng súng,
không chỉ trong những nhà tù,
có độc tài
không chỉ ở những phòng thẩm vấn,
không chỉ ở tiếng người lính canh
thét lên trong đêm tối
không chỉ ở lời buộc tội
tuôn ra cuồn cuộn, nhá nhem
không chỉ ở những lời tự thú,
và trong "mật mã" (1) của người tù
không chỉ trong phán quyết
lạnh lùng của quan tòa: có tội!
có độc tài
không chỉ trong tiếng hô "nghiêm!" nhà binh,
trong tiếng gằn giọng: "Bắn!"
trong tiếng trống rền,
không chỉ trong cách một thây ma
bị quăng xuống huyệt,
không chỉ trong những tin tức
thì thào lo âu
qua những cánh cửa
hé mở lén lút,
không chỉ trong ngón tay đặt trước miệng
"Im nào!", chớ cựa quậy!
ở đâu có độc tài,
thời độc tài ở đó
không chỉ trong nét mặt
dán vào song sắt nhà tù
và trong tiếng rên la
quằn quại, âm thầm sau song sắt,
trong lớp sóng trào
của nước mắt câm nín
gia tăng sự im lặng,
trong con ngươi giãn nở;
độc tài có trong tiếng trườn của chiếc xe
rón rén lướt trong màn đêm
và trong cái cách
nó dừng lại trước cánh cửa;
nó có khi anh "A-lô"
giữa chừng, qua ống nghe yên lặng
anh cảm thấy
một đôi tai lạ lẫm đang nghe ngóng;
không chỉ như nạn nhân
quằn quại giữa bầy rắn: (2)
tàu hỏa, máy bay, đường ray,
nút trói, đầu sợi dây,
bởi có độc tài
không chỉ trong những tiếng tung hô
đứng thẳng, gào thét
những tiếng hoan hô, những khúc hát,
nó có trong những bàn tay
vỗ không biết mỏi
trong khúc nhạc kịch,
trong điệu kèn,
nó có ở góc phố
trong pho tượng đá vươn người,
kêu vang
vui tươi hay rền rĩ nghiệt ngã
nó có trong phòng tranh muôn màu
và rạng rỡ,
trong riêng mọi khung tranh,
ngay cả trong cọ vẽ;
bởi độc tài có
hiện tại
ở khắp mọi nơi,
còn hơn cả vị thần ngày trước của của anh;
bởi độc tài có ở
trong những nhà trẻ
trong lời khuyên của cha
trong nụ cười của mẹ.
trong câu ấp úng của một đứa bé
với người khách lạ,
trong cách anh quay lại nhìn sau
trước khi mở miệng thì thầm,
không chỉ trong dây kẽm gai,
không chỉ trong những dòng sách,
trong những khẩu hiệu mê muội
còn hơn cả dây kẽm gai;
nó cũng còn đó
trong nụ hôn giã biệt,
trong cách người vợ hỏi:
"Bao giờ về, anh yêu?"
trong những câu "khỏe không?"
lặp lại thật quen thuộc ngoài phố
trong cái bắt tay
bỗng dưng đã hờ hững hơn,
trong khuôn mặt người thương
hình lình sững lại, băng giá,
vì chính nó có mặt
ở nơi ta hò hẹn,
không chỉ trong cuộc khẩu cung,
mà cả trong lời thú nhận,
trong câu nói say sưa, ngọt ngào,
như con ruồi chết chìm trong men rượu,
bởi anh chẳng còn một mình
cả trong những giấc mơ,
độc tài nằm trên giường cưới,
và trước đó, trong cả nỗi khát khao,
bởi anh chỉ tin là đẹp
những gì đã một lần thuộc về nó;
anh ngủ với nó
mà ngỡ là mình yêu,
nó ở trong đĩa và trong ly,
trong mũi, miệng
trong ánh sáng và bóng tối,
ở bên ngoài và trong buồng anh,
như thể cánh cửa để ngỏ
và mùi xác thối tràn vào,
như thể trong tòa nhà
đâu đó thoát hơi ga,
khi anh thì thầm một mình,
thì nó, độc tài, căn vặn,
anh không còn độc lập
ngay cả trong mộng tưởng,
trên kia, giải Ngân Hà cũng đã khác,
giải biên giới, nơi chùm ánh sáng quét qua,
cũng tựa như bãi mìn
vì sao như một lỗ nhòm lén,
trời cao nhung nhúc những lều vải
hợp thành một trại lao động độc nhất
bởi độc tài lên tiếng
trong cơn sốt, tiếng chuông,
từ cửa miệng người tu sĩ đang giải tội,
từ những bài thuyết giáo,
nhà thờ, quốc hội, đoạn đầu đài
và bao nhiêu sân khấu;
anh hoài công khép mở mí mắt,
nó vẫn hoài nhìn anh;
như căn bệnh,
nó cặp kè bên anh, như kỷ niệm,
bánh tàu quay, anh nghe,
theo nhịp: "Mày là tù nhân",
độc tài anh hít thở
trên núi, ngoài ao hồ;
khi lằn chớp lóe lên, nó đấy
trong từng tiếng động,
từng tia sáng bất ngờ,
trong từng nhịp đập thảng thốt của trái tim;
trong sự yên tĩnh
trong nỗi buồn chán của chiếc còng tay,
trong cơn mưa rào xối xả,
trong song sắt vút lên tận bầu trời,
trong cơn tuyết đổ cầm chân anh
trong màu trắng bức tường xà-lim,
nó nhìn anh
qua đôi mắt con chó của anh,
và bởi nó có mặt trong mọi dự định,
trong ngày mai của anh,
trong tâm tưởng anh,
trong mọi cử chỉ của anh;
như con nước theo dòng chảy,
anh theo nó và sản sinh ra nó;
thử đưa mắt nhìn ngoài tầm của nó,
nó sẽ nhìn anh trong tấm gương,
anh hoài công muốn trốn, nó rình rập anh
vừa là tù, đồng thời anh là tên cai ngục;
nó len lỏi vào vị thuốc anh hút,
vào chất vải áo quần anh mặc
nó thấm vào anh, nó ăn sâu
thấu tận tủy xương anh;
anh muốn nghĩ suy, nhưng chỉ có
những tư tưởng của nó hiện về,
anh muốn nhìn, nhưng chỉ thấy
những gì nó phù phép cho anh,
và quanh anh, bừng cháy
khu rừng, bởi một que diêm,
bởi khi liệng đi,
anh đã quên dẫm nát;
như thế cả anh nữa, nó cũng canh chừng anh,
tại nhà máy, ngoài đồng, trong nhà ở;
và anh không còn cảm thấy: thế nào là sống,
thế nào là thịt, là bánh mì,
thế nào là yêu, là khao khát,
là giang rộng cánh tay,
và như thế, chính kẻ nô lệ
tự rèn lấy xiềng xích mình mang;
anh vỗ béo chính nó khi anh ăn
và vì nó anh sinh con đẻ cái,
ở nơi có độc tài:
mỗi người là một mắt xích;
anh toát ra một mùi hôi thối,
vì chính anh cũng là độc tài;
bởi, vì anh, đứa trẻ
trở nên bất trị,
và trong lòng anh, người vợ hiền thảo
hóa thành con điếm;
như bầy chuột chũi dưới nắng mặt trời
thế đấy, chúng ta mò mẫm trong tăm tối,
và cựa quậy không yên trong căn phòng kín
tháo chạy cả khi đã ở giữa sa mạc;
bởi ở nơi có độc tài,
tất cả đều vô ích,
cả bài thơ này nữa, dù nó trung thành,
như bất cứ tác phẩm nào,
bởi nó ở
ngay bên phần mộ của anh,
nó hạ lệnh cho anh phải là ai,
tro của anh cũng nhằm phục vụ nó.
Ghi chú:
1. Nguyên văn: fal-morse (trong tù, các tù nhân thường liên lạc với nhau theo tín hiệu Morse bằng cách gõ vào tường).
2. Ở đây, tác giả dùng một điển tích trong thần thoại Hy Lạp, không dịch được. Xin dịch thoát ý.
Nguyễn Hoàng Linh
dịch và giới thiệu
11.03.2001
■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■
Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách
Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập