về chuyến đi xa
của hai nghệ sĩ

văn quang


 

ngọc bích

một thời để nhớ *

 

 

Tôi nhớ vào khoảng năm 1947-48, khi còn đi trọ học ở trường Quang Trung tại thị xã Đống Năm thuộc tỉnh Thái Bình, mới lên học lớp Trung học - đệ ngũ, đệ lục - nghe có mấy ông ở Liên Khu 3 về diễn kịch và tổ chức ca nhạc giúp vui ở Đình, thế là tôi hào hứng chờ đợi cái giây phút thiêng liêng đó. Những giây phút đầu đời nghe và thấy tình yêu văn nghệ thấm vào mạch máu. Bây giờ tôi không còn nhớ rõ tối đó có những vị nhạc sĩ nào. Nguyễn Xuân Khoát, Tô Vũ hay Đỗ Nhuận nhưng đó là những người cùng thời với các anh Ngọc Bích, Phạm Duy. Hồi đó, Cống Thần, Chợ Đại, Sêu Đặng, Đống Năm, Quỳnh Côi.. được kể là những thủ phủ của nền "văn minh hậu phương". Những người đi kháng chiến có dịp nào đi qua không thể không ghé lại đây đểít nhất được thưởng thức một ly cà phê sữa, một điếu Cotab hoặc Philip Morris, một ly trứng sữa sực nức mùi va-ni, một tô phở áp chảo nước áp chảo khô để được sống ít giờ với cái thú tiểu tư sản thành thị.

 

Vào thời tản cư, thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, cả tỉnh tôi mới có được một trường trung học. Cả tỉnh tôi mới có một sân khấu cải lương, thỉnh thoảng mới có một đoàn "danh tiếng" như Phụng Khánh về hát. Là học sinh, làm gì có tiền mua vé xem cải lương, nhưng hầu như đêm nào tôi cũng có mặt ở rạp cải lương. Cả năm sáu tên học trò chung nhau mua một cái vé hát, về lấy củ khoai, nhái đúng theo mẫu vé, khắc một con dấu, đóng vào. Thế là buổi tối năm sáu cậu lựa lúc đông người đưa vé vào xem hát. Dĩ nhiên chỉ dám làm giả vé "đi tuần" tức là vé hạng bét, vé đứng cuối rạp. Chúng tôi thường chọn đúng lúc bắt đầu hát bản chào cờ, đưa vé vào cửa. Nhưng rồi âm mưu cũng bị lộ, đêm đó tôi thấy mấy tay canh cửa kiểm soát vé gắt gao, đã tính chùn bước. Mấy cậu học trò theo tôi đều chuồn êm về ngủ. Nhưng máu mê nổi lên, tôi đưa vé vào giữa lúc chào cờ. Thế là bị tóm lại. Nhưng sau rồi họ biết là học sinh trường Quang Trung chỉ vì mê xem hát làm vé giả nên họ tha. Cái thời trẻ trung ấy làm sao quên được.

 

Tôi gợi lại kỷ niệm này vì không thể không nói đến khi nói về tuổi trẻ và những trò chơi cùng những đam mê. Nếu buổi tối hôm đó có Ngọc Bích hay Phạm Duy về đàn hát, chắc chắn tụi tôi sẽ phải để dành tiền mua vé và nếu rách thì cũng làm vé giả để đi xem. Tuy anh Ngọc Bích chẳng phải là thần tượng của tôi, nhưng anh cũng là một trong những nhạc sĩ mà tôi thầm ngưỡng mộ.

Vài năm sau đó, bài hát mà tôi thích thú nhất là bài Say Chiến công. Bài hát vui vẻ, tự nhiên với lối trình diễn rất mới mẻ. Từ đó đến nay, lâu quá rồi, không ai hát lại và tôi quên khuấy mất tác giả, có lẽ nhiều bạn cũng như tôi không nhớ rằng bài đó là của anh Ngọc Bích nếu không được anh Phạm Duy nhắc lại.

......

Có một điều anh P.Duy nhắc đến bài vè Bảo Đại của anh Ngọc Bích và "suy tôn Ngô Thủ tướng" sau đổi thành "Suy tôn Ngô Tổng thống" của hai anh Ngọc Bích và Thanh Nam. Anh PD viết: "Tích cực hơn nữa, cùng với văn sĩ Thanh Nam, anh còn soạn ra bài Suy Tôn Ngô Thủ Tướng. Về sau, khi ông Diệm thành công thì bài này mới trở thành bài Suy Tôn Ngô Tổng Thống với một sửa đổi nho nhỏ trong lời ca :

 

Ai bao năm từng lê gót nơi quê người

sửa lại là :

Ai bao năm từng in gót nơi quê người."

 

Tôi cho rằng chưa đúng hẳn đó là "tâm huyết" thật sự của hai nghệ sĩ này. Theo tôi hiểu thì bài hát này được làm theo kiểu "chiến dịch". Nói cho rõ hơn là mỗi khi có một chiến dịch đặc biệt nào trong cuộc chiến tranh hoặc một chủ trương lớn như chiến dịch "Bắc tiến", "xây dựng nông thôn", "lập làng chiến lược, ấp chiến lược", "tam túc tam giác" hoặc một chiến dịch nhỏ như ca ngợi một chiến thắng nào đó thì chúng ta thường thấy có một vài bài hát tức khắc được tung ra mà trước hết là qua các đài phát thanh Quân Đội hay đài PT Sài Gòn. Những bài hát đó ở đâu ra? Rất nhiều người hiểu rằng đó là những văn nghệ sĩ phục vụ trong các đơn vị đã sáng tác cấp tốc ra nó theo lệnh của cấp trên. Loại nhạc như thế gọi là "nhạc chiến dịch". Nghe qua rồi bỏ, dùng cho một giai đoạn rồi thôi, người ta quên nó đi và chẳng cần biết tác giả là ai. Và ngay cả tác giả cũng chẳng muốn nêu tên tuổi của mình. Trường hợp của Ngọc Bích và Thanh Nam cũng vậy. Vào thời đó hai anh đều phục vụ tại Đài PT QĐ với cấp bậc trung sĩ. Bản nhạc "suy tôn" được làm theo chiến dịch hạ bệ Bảo Đại, đưa Ngô Thủ Tướng lên làm Tổng Thống thời Đệ Nhất Cộng Hoà. Không biết là hên hay xui, bài hát hay và dễ hát nên nó được in và phổ biến và khi nó được in thì dĩ nhiên phải có tên tác giả cho nên người ta biết nhiều đến bản nhạc này. Trong khi có hàng trăm bản nhạc như thế đến nay không ai còn nhớ và ngay tác giả cũng chẳng buồn nhớ. Tôi không đính chính hay cải chính giùm vì cả hai nghệ sĩ đã qua đời và cũng chẳng ai cần nhờ tôi làm cái công việc đó. Ở đây tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến một sự thật cho rõ ràng.

 

Sau này, vào khoảng năm 1957-58, tôi thường ghé đài phát thanh Quân Đội, khi thì liên hệ công việc, đôi khi chỉ đến chơi. Hồi đó anh Vũ Quang Ninh làm Quản đốc, anh Vũ Đức Vinh tức nhà văn Huy Quang làm phụ tá kiêm trưởng ban biên tập. Đó chính là nơi tập trung khá đông những nhạc sĩ nổi tiếng của miền Nam VN. Các anh Văn Phụng, Đan Thọ, Ngọc Bích, Canh Thân, Anh Ngọc, Hoàng Hải, Vũ Huyếnđều là quân nhân của Đài này. Vũ Huyến chính là animateur trong cái đám cưới của tôi vào năm 1960 (hồi đó người ta gọi là animateur chứ không gọi là MC như thời nay). Gọi là quân nhân nhưng thực chất đó chỉ là "nghề tay trái" hay đúng hơn là "chỗ dung thân" trong thời chiến. Các anh hầu hết là những quân nhân "đồng hoá".

 

Thời đó, anh Ngọc Bích còn có cái quán Nghệ sĩ trên đường Phan Đình Phùng. Một cái quán cà phê nhỏ, mỗi tối đều có chương trình ca nhạc. Nếu tôi nhớ không lầm thì nữ danh ca Thu Hương bắt đầu sự nghiệp sân khấu của cô từ đó. Và Thu Hương cũng là nữ diễn viên chính trong một cuốn phim, phóng tác từ một cuốn tiểu thuyết do Alpha Films của ông Thái Thúc Nha thực hiện. Chỉ tiếc rằng sau này Thu Hương không đóng phim nữa mặc dầu vóc dáng của cô rất đẹp và rất "ăn ảnh".

 

Bẵng đi một thời gian, Ngọc Bích lại xuất hiện trên quán Hoà Bình ở giữa 2 khu Chợ Bến Thành và Nhà ga xe lửa cũ của Sài Gòn. Ngày nay mỗi lần có dịp đi qua, tôi vẫn còn nhớ căn lầu hai bên tường trống nhìn ra khắp mấy dãy phố giữa trung tâm thành phố. Cũng ở phòng trà này, thời đó tập trung khá nhiều những ca sĩ tên tuổi của Sài Gòn. Ở nhiều phòng trà, quán khiêu vũ, ca sĩ thường được chia ra làm vài ba thứ hạng. Những ca sĩ đến hát sớm thường là ca sĩ mới ra lò hoặc ca sĩ hạng B, hạng C. người ta gọi là "hát độn" trong khi chờ những danh ca thượng thặng đến trình diễn. Còn những "ngôi sao" thì lờ lững khi đến khi không, khi chạy sô lớn sô nhỏ, khi trái gió trở trời chẳng biết đằng nào mà mò. Nhưng ở phòng trà Hoà Bình thì dưới quyền điều khiển của "chú" Ngọc Bích, các ca sĩ tương đối đồng đều hơn. Những ca sĩ ăn khách hàng đầu thời đó như Thanh Thuý, Băng Tâm, Bạch Yến, Kim Chi, Minh Hiếu, Thuỳ Nhiên, Trúc Mai, Thuỳ Hương, Thanh Lan... đều có mặt hàng đêm. Và có một số nữ danh ca chỉ xuất hiện một thời như Bạch Quyên, Bích Chiêu, Thuỷ Tú rồi sau đó "có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi".

 

Vào thời kỳ đó, chúng tôi có rất nhiều kỷ niệm. Tôi còn nhớ vào một đêm cũng gần đến Lễ Giáng Sinh, chúng tôi ngồi chơi ở Hoà Bình rồi rủ nhau đi ăn đêm. Ắn chán ghé về nhà ông Nhân (thân phụ của nữ ca sĩ Bạch Quyên) ở Tân Định, đánh xì còm. Hôm đó có Mai Thảo, Hoài Bắc, Thanh Nam, Quốc Phong, Ngọc Bích. Hoài Bắc đánh xì "xi măng" lắm, Vũ Thế Quang tặng cho cái danh hiệu là "gánh gánh về". Mai Thảo thì đánh lơ mơ, Thanh Nam cũng vậy. Tôi không nhớ bữa đó có Thái Thuỷ không, nhưng có Hoàng Thư và ông này chỉ ngồi chầu rìa chứ không đánh. Ngọc Bích thì lâu lâu mới ngồi vào bàn cờ bạc một lần gọi là "vui anh em" thôi. Đánh đến gần sáng thì nhiều anh thua hết. Ngọc Bích vay tôi một khoản chừng năm mười ngàn gì đó. Nhưng rồi "tiền cờ bạc gác ngọn tre", chẳng bao giờ trả và dĩ nhiên tôi cũng chẳng bao giờ đòi. Rồi sau đó vài tháng, Ngọc Bích theo phái đoàn đi dự hội chợ Philippines. Khi anh về, anh đưa tặng tôi một cặp khuy manchette. Cặp khuy tay áo rất đẹp, có hình hai cái mặt nạ mạ vàng, tượng trưng cho sân khấu kịch nghệ. Tôi thích thú vì được bạn bè tặng quà. Nhưng anh giao hẹn: "Tôi trả ông cái khoản ở nhà ông Nhân đấy nhé". Tôi cho anh là người sòng phẳng, nhưng cũng hỏi: "Nếu không có cái khoản nợ đó thì ông không cho quà tôi à?". Ngọc Bích cười xoà: "Hai cái nhập làm một".

 

Sau này, vào những năm 1969, tôi về Đài PT QĐ, anh Ngọc Bích vẫn còn làm ở đó trong khi các anh khác đã giải ngũ đi làm việc khác cả rồi. Anh giải ngũ nhưng không có cơ sở nào làm ăn nên trở thành nhân viên dân chính. Cuộc sống của anh dường như lúc nào cũng túng thiếu. Đi xe hơi cũng là xe cũ, xộc xệch chẳng buồn thay. Nói năng rất ít, thỉnh thoảng anh ghé phòng tôi, nói chuyện công việc dăm ba phút rồi đi. Có buổi trưa, trời mưa tầm tã, xe hỏng, anh ngồi ngoài xe ngẩn mặt nhìn mưa qua hàng rào kẽm gai. Tôi chưa thấy đôi mắt nào buồn hơn thế. Tôi vẫy anh vào phòng tôi ăn trưa, hôm đó có cả Mai Thảo. Anh ăn uống uể oải. Mai Thảo nháy tôi:

 

"Mày bảo tài xế đưa chúng tao lên Quang Minh Đỉnh thì nó mới vui được."

 

Ngọc Bích cười thành tiếng:

 

"Không ai hiểu tôi hơn anh này."

 

Tôi gật đầu ra giá:

 

"Muốn lên Quang Minh Đỉnh thì phải ăn hết con gà quay này, chứ bỏ phí à? Gà quay Thiên Nam đấy."

 

Thế là sau bữa ăn trưa, hai ông bạn tôi kéo nhau đi.

 

Có những buổi sáng, tôi ghé qua phòng ghi âm chuyên thu thanh cho các chương trình nhạc. Trong cái không khí nhốn nháo của các ca sĩ già trẻ và ban nhạc đệm của đài yểm trợ, bao giờ anh Ngọc Bích cũng thu mình vào với cây đàn, đôi mắt nhắm nghiền chẳng buồn chú ý đến ai, chẳng buồn để ý đến nhân tình thế thái. Cuộc đời như đã lọt ra ngoài con người anh. Suốt những năm tháng dài như thế, cho đến năm 1975, chúng tôi sống và làm việc bên nhau. Anh vẫn lặng lẽ như một cái bóng. Hầu như anh không còn sáng tác gì thêm được nữa.

 

Hai mươi sáu năm rồi, tôi và những người bạn còn ở lại Việt Nam được tin anh mất, thông tin cho nhau rồi nhìn nhau lặng lẽ. Ấm thầm vĩnh biệt một người bạn.

 

Sài Gòn tháng Mười Một,2001

 

■ ■ ■ ■ ■ ■

 

đoàn chuẩn

cũng đã vĩnh biệt...

Có những đêm về sáng

Đời sao buồn chi lắm cố nhân ơi!

 

Nhạc của ông thường vẳng lên trong tâm tưởng tôi suốt 12 năm giữa những núi rừng miền Bắc giá buốt và miền Nam hiu quạnh. Không còn là nỗi nhớ, không còn là những tiếc nuối mà là nỗi u uất, thăm thẳm mịt mờ. Còn gì bi thảm hơn những đêm về sáng, nằm một mình giữa rừng núi hoang dại và mình cũng dại dột nhìn về dĩ vãng. Tuy thế, nhìn về dĩ vãng vẫn hơn là nhìn về tương lai chẳng có gì, chẳng còn gì, cũng thăm thẳm mịt mờ như núi rừng đêm nay và tất cả mọi đêm.

 

Nỗi ao ước âm thầm: Ước gì được nghe trọn vẹn một bản nhạc của Đoàn Chuẩn! Đau xót mà nghe, càng nghe càng thấm, nghe bao nhiêu đau bấy nhiêu, như người ta muốn khóc thật to để vơi được phần nào những buồn khổ. Nhưng làm sao nghe được trong hoàn cảnh đó. Cho nên nó cứ vương vất nghẹn nỗi đau làm sao. Chỉ trong hai câu trong bản nhạc đó thôi, hình ảnh của người yêu, của bạn bè bật dậy, cả một quãng đời hiện lên mơ hồ, quằn quại như điệu múa từ tiền kiếp, không bao giờ gặp lại.

Hôm nay thì tôi ngồi nghe lại cả một cuốn CD nhạc Đoàn Chuẩn khi nghe tin anh mất. Từ Hà Nội một người bạn tôi điện thoại cho biết tin này đầu tiên, trước khi những tờ báo ở Sài Gòn loan đôi dòng về tin buồn này. Người bạn tôi đã có từng có thời gian ở Hải Phòng vào những năm 1952-1953 và cũng đã có một số kỷ niệm với anh Đoàn Chuẩn. Tôi cũng có một vài kỷ niệm nhưng là rất nhỏ, trước hết là nó nhỏ với một nghệ sĩ lớn tuổi như Đoàn Chuẩn, có lẽ đến sau này anh chẳng còn nhớ tôi là "thằng nhóc" nào. Bởi anh hơn tôi đến gần 10 tuổi. (Anh sinh ngày 15-6-1924, tôi sinh năm 1933). Tuổi 19-20 với tuổi 30 khác nhau nhiều lắm. Còn hơn thế, hồi đó anh đã là một nghệ sĩ có tên tuổi, còn tôi chỉ là một anh "nhí", đang là một "mầm non văn nghệ".

 

Đoàn Chuẩn và nhóm văn nghệ Hoa Niên

 

Nhóm Văn nghệ Hoa Niên của Hải Phòng thành hình vào khoảng năm 1952 do họa sĩ Trọng Thường thành lập. Thời kỳ của những thành phố mới hồi sinh sau giai đọan đầu của kháng chiến chống Pháp. Cả thành phố Cảng của miền Bắc dường như chỉ có một nhóm văn nghệ duy nhất đó thôi. Người trưởng thành nhất là họa sĩ Trọng Thường, anh đã từng tham gia trong một vài đoàn văn công kháng chiến rồi trở về "thành", hồi ấy người ta gọi là "dinh tê". Nhóm văn nghệ gồm khoảng chừng trên 10 người, những ca sĩ hạng nhất như Ngọc Quang, Tường Vi và những ca nhạc sĩ mới ra lò như Hoài An, Huyền Linh, Phó Quốc Thăng, Thu Huyền, Lương Thảo, Trần Hải. Sở dĩ tôi được gia nhập nhóm này vào cái tuổi 19-20 vì thỉnh thoảng đi chơi với Lương Thảo, Trần Hải và cũng đã có vài bài viết lách trên mấy tờ báo ở tận Hà Nội như Cải Tạo, Tia Sáng. Thời đó, Hải Phòng chưa hề có một tờ báo nào.

 

Vì thế nhóm văn nghệ "tài tử" này được dư luận chú ý. Khoảng giữa năm 1952, chúng tôi chuẩn bị tổ chức một buổi trình diễn thi ca nhạc kịch tại nhà hát lớn thành phố. Một tờ chương trình được in rất xôm, bài thơ của tôi đã "được đăng" trên nhật báo Tia Sáng cũng xuất hiện trên trang 2 của tờ chương trình này.

 

Trước buổi trình diễn thi ca nhạc kịch chừng một tuần lễ, anh Đoàn Chuẩn đến thăm. Trụ sở của chúng tôi là căn nhà ngoài của anh em ca sĩ Ngọc Quang, trên con đường nhỏ gọi là Ngõ Nghè. Anh Đoàn Chuẩn lúc đó đã đạo mạo lắm rồi. Dáng người khỏe mạnh, bảnh bao nhưng rất hiền lành. Anh hỏi thăm về đêm trình diễn và dĩ nhiên anh Trọng Thường không bỏ qua dịp may mời anh Đoàn Chuẩn trình diễn một bản guitare Hawaiennne vốn là thứ đàn mà anh Đoàn Chuẩn rất thành thạo. Anh nhã nhặn từ chối lấy cớ bận đi Hà Nội. Anh chỉ hứa sẵn sàng cho mượn một cái mangétophone để thu lại toàn bộ chương trình hôm đó. Vào thời này có được cái máy như thế không phải là chuyện nhỏ. Không những phải là con nhà giàu mà con phải là tay biết chơi mới gửi mua thứ này tận bên Tây. Nhưng rồi đến đêm trình diễn, chuyên viên thu thanh đã làm cháy cái máy ghi âm đó của anh.

 

Công tử của thành phố Cảng

 

Cũng vì chuyện này mà sau đó vài tuần tôi còn được gặp lại anh Đoàn Chuẩn. Anh hỏi thăm anh Trọng Thường để lấy lại chiếc mangétophone. Anh Đoàn Chuẩn cho tôi leo lên chiếc xe hơi, đó là chiếc xe Buick kềnh càng, láng coóng. Hồi đó cả miền Bắc chỉ có hai chiếc xe Buick nên anh Đoàn Chuẩn rất tự hào về điều này. Nếu không có vụ này chắc chẳng bao giờ tôi được ngồi trên chiếc xe đó. Tôi đưa anh đến nhà anh Trọng Thường ở phố Cầu Đất lấy lại chiếc máy dù nó đã bị cháy. Anh nhận lại máy mà không hề phàn nàn một tiếng. Tôi lo ngại theo dõi từng thái độ của anh và tôi lễ phép nói: "Cả nhóm lo lắm, anh Trọng Thường rất ân hận, phải trốn anh đấy. Không biết lấy gì mà đền anh đây". Anh lắc đầu: "Anh sẽ gửi đi sửa, có ai muốn làm cháy đâu." Tôi kính phục cử chỉ đó của anh.

 

Hồi đó anh được tiếng là công tử thành phố cảng. Một thành phố có hoa phượng đỏ trên cao, có lá me bay vàng đường và có những tàn lá bàng che rợp những mái hiên, nhưng không có những hàng sấu như Hà Nội. Gia đình anh nổi tiếng, hầu như khắp thành phố này không ai không biết tên. Hãng nước mắm Vạn Vân không chỉ nổi tiếng ở Việt Nam mà là ở cả Đông Dương. Nhà anh gồm bốn năm gian rộng trên đường vào Chợ Sắt. Thỉnh thoảng có dịp đi qua trước cửa nhà anh tôi thường lén nhìn vào, cũng chẳng biết để làm gì.

 

Trong óc tưởng tượng của tôi, đôi khi tôi nghĩ đến một ngày nào đó sẽ được thấy chị Đoàn Chuẩn. Qua những bản nhạc của anh, qua cung cách sống của anh, tôi hình dung ra một thiếu phụ rất hiền rất đẹp, da trắng như trứng gà bóc, vận chiếc áo dài bằng nhung xanh (màu xanh vốn là màu của Đoàn Chuẩn), cổ đeo chiếc khuyên vàng, chân đi đôi hài thêu, đầu vấn tóc trần, có đôi mắt bồ câu đen lánhà Nhưng quả là tôi chưa thấy bao giờ, cho nên đến bây giờ hình ảnh ấy vẫn còn nguyên vẹn trong tôi.

Sau năm 1954, anh ở lại miền Bắc, tôi ở miền Nam. Tôi có nhiều dịp để tìm hiểu về anh và những nghệ sĩ còn ở lại miền Bắc. Nhưng về anh thì tuyệt vô âm tín. Những nghệ sĩ như Văn Cao, Tô Vũ còn thấy sáng tác, còn tham gia hoạt động ở một số cơ quan. Song Đoàn Chuẩn thì vẫn yên lặng. Thỉnh thoảng nghe lại những bản nhạc của anh, tôi thực sự thấy lòng nao nao. Gửi gió cho mây ngàn bay, Thu quyến rũ, Tà áo xanh, Tình nghệ sĩ ...đều là những tác phẩm bất hủ.

 

Tôi phát biểu ở đây một nhận định rất riêng tư, một so sánh đầy cảm tính. Nếu nhạc của cố nhạc sĩ Văn Cao có vẻ "thanh cao", lời lẽ rất văn hoa, bay như cánh chim trong khung trời hoa thơm cỏ lạ đến tận Thiên Thai thì nhạc của cố nhạc sĩ Đoàn Chuẩn lời lẽ bình dị, không bay bổng nhưng thấm sâu, rất sâu, hầu như bài nào cũng là nỗi nuối tiếc, đau đớn của con người thật đang sống. Có cảm tưởng như nỗi đau ở trước mặt, có thể sờ thấy, có thể cảm nhận, nó quanh quẩn đâu đó như một phần cơ thể của chính mình. Có lẽ tôi không cần phải kể ra đây những lời ca ấy. Nó gần gụi với người nghe lắm, như một lời tâm tình giản dị mang xuyên suốt một tình yêu tuyệt vọng với hình bóng thân thuộc của quá khứ đãà tàn rồi nhưng không bao giờ phai. Những bản nhạc của anh thường ký tên chung với một người bạn thân là Từ Linh, có người nói Đoàn Chuẩn chỉ ký tên chứ Từ Linh không làm nhạc, nhưng có người bạn tôi là anh em kết nghĩa với Từ Linh lại cam đoan rằng đã từng thấy Từ Linh làm nhạc. Nhưng Từ Linh không xuất hiện bao giờ nên Từ Linh như một "ẩn số" với nhiều thính giả. Theo tin tức tôi có thì Từ Linh đã mất vào năm 1987.

 

Những bí mật về bài ca được công bố cuối cùng

 

Ngoài những bản nhạc tôi đã nghe đi nghe lại không biết bao nhiêu lần, tôi thật sự kinh ngạc khi nghe bài Vĩnh Biệt trong CD "Gửi gió cho mây ngàn bay" do nữ ca sĩ Ánh Tuyết hát, Trung tâm băng nhạc Trẻ thực hiện, Bảo Chấn hòa âm. Thoạt tiên mở đầu bản nhạc, nghe như có tiếng trống thúc đâu đây, cứ ngỡ là bài hùng ca. Và ngay câu đầu tiên người ta đã nghe thấy lời ai oán của một "chiến tướng" đứng trước một thành quách bị tàn tành dưới tay quân địch: "Ai đốt Cô Tô thành vì đôi mắt giai nhân hề, lửa cháy báo tin rằng thành quách ta.Ai trót nhấp men tình để Mỵ Cơ thương nhớ, khi khóc rồi Tiễu Nhiên còn mơ." "Em khác gì Quỳnh Giao, lúc cam lòng phung phí hết xuân xanh, lúc đêm về, thương cho đời mà cũng ghét cho đời mà cũng chán cho đời." Tâm tình Tiễu Nhiên ố Mỵ Cơ, Phạm Lãi -Tây Thi phải chăng chính là tâm trạng tác giả: Thương, ghét và chán? Nỗi niềm u ẩn cho cuộc tình và cho cuộc đời mình. Bài ca Vĩnh biệt còn được gọi là "Bài ca bị xé". (Tôi được biết ở hải ngoại bài này còn được đặt tên là Vàng phai mấy lá). Và bài ca cho đến mãi sau này mới được phổ biến. Tại sao vậy? Đây là một bí mật riêng tư của tác giả. Nhưng nay anh đã thành người quá cố, những người yêu nhạc của anh thì chắc nhiều người muốn biết. Có người cho rằng bài này được làm từ năm 1955, đó là kết quả của một mối tình tuyệt vọng giữa Đoàn Chuẩn và một danh ca thời xưa, nay còn sống. Có nghĩa là tác giả yêu nhưng không bao giờ được yêu lại. Bởi thế nên bài ca bị xé.

 

Nhưng tôi đã đem ý kiến này hỏi một người bạn thân của anh Đoàn Chuẩn và một vài người khác. Có người cho rằng đó là kết quả của một mối tình nồng nàn say đắm. Hồi đó anh Đoàn Chuẩn ở Hải Phòng yêu một nữ danh ca ở Sài Gòn. Anh đã yêu cầu một hàng bán hoa ở đường Catinat, mỗi ngày đưa đến tặng nữ ca sĩ một bó hoa tươi. Nhưng nữ ca sĩ này không nhận và đòi phải cho biết tên. Đoàn Chuẩn hứa là sẽ cho biết tên sau nửa tháng. Và nửa tháng sau đó Đoàn Chuẩn đã tiết lộ tên người gửi hoa. Trong hoàn cảnh như thế ai cầm lòng cho đậu. Mối tình bắt đầu. Nhưng tiếc rằng cả hai người đếu đã có gia đình nên một thời gian sau mối tình tan vỡ. Bài ca cũng đã nói lên sự "đàn trùng dây, phím lỡ".

 

Bài ca không được phổ biến và bị xé vì mang nỗi đau thương như không thể nói thành lời như người ta muốn khóc mà không khóc được. Nhưng tất cả chỉ là dự đoán. Sự thật như thế nào chỉ có ông mới biết và chúng ta là những yêu nhạc Đoàn Chuẩn bây giờ coi như một giai thoại đẹp và buồn khi vĩnh viễn chia tay với người nghệ sĩ tài hoa, người mãi mãi là một công tử, một tài tử đúng nghĩa nhất đối với tôi.?

 

■ ■ ■

 

* Nhạc sĩ Ngọc Bích sinh năm 1925 tại Hà Nội. Chơi nhạc cho các vũ trường Hà Nội từ 1942. Trong nhóm nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên xuất ngoại sang giúp vui cho binh sĩ đồng minhở Côn Minh, Trung Quốc trong Đệ Nhị Thế Chiến. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động văn nghệ ở Liên khu 3. Sau 1954, ông vào Nam, làm việc tại các đài phát thanh Quân Đội, đài Sài Gòn, đài Mẹ Việt Nam. Di tản sang Hoa Kỳ vào cuối tháng Tư, 1975. Khoảng đầu thập niên vừa qua ông đã cùng nhạc sĩ Nguyễn Hiền lập ban nhạc "Saigon band".

 

Văn Quang

 

■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■

Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách

Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập