(những) nhân vật của tôi
và tôi

trần hữu thục


 

Ông Võ Phiến có một nhận xét vui vui: "Ai cũng chịu cô Kiều là đẹp, là đáng yêu. Nhân vật nam trong truyện, bao nhiêu chàng mết Kiều, đã đành. Mà theo lời truyền tụng xung quanh tác phẩm của Nguyễn Du thì ở đời có những nho sinh mê Truyện Kiều rồi mê luôn cả cô Kiều, mê như Tú Uyên mê Giáng Kiều trong tranh. Nghe vậy biết vậy. Nhưng giả sử có một tiên ông hiện đến hỏi thẳng vào mặt: "Cho đấy. Muốn cưới Kiều, cho cưới về làm vợ đấy, chịu không?", bấy giờ ta hoang mang ngay. Cố gắng vận dụng trí óc để mường tượng xem cô vợ mình ra sao, thấy khó quá. Mắt như nước mùa thu mày như núi mùa xuân, má đỏ hơn hoa, tóc xanh hơn liễu v.v.. Cái gì cũng mơ mơ hồ hồ."

 

Nhớ hồi còn nhỏ, mê phim, khi đi xem những phim chưa hề biết nội dung, thì cứ việc bình yên thưởng thức. Nhưng khi đi xem những phim đóng từ một truyện nào đó đã đọc rồi, cảm giác hoàn toàn khác. Không chỉ khác ở những chi tiết mà ở chỗ những nhân vật trong sách bây giờ hiện ra thành những con người thật khiến tôi đâm ra bối rối, ngỡ ngàng. Dường như chẳng có vai nào giống với những nhân vật tôi đã từng đọc ở trong truyện. "Chúng" có mặt mày, tay chân, bộ điệu, tất cả giống như những ai đó mà mình vẫn thường gặp hàng ngày trên đường phố, trong xóm. "Chúng" sao sao đâu, không có vẻ gì là những nhân vật mà mình hằng yêu thích. Chẳng hạn như trong phim "Doctor Jivago", Omar Sharif đóng vai Jivago và Christie Julie đóng vai Lara. Họ đẹp thật và đóng hay thật. Nhưng xem đi xem lại mấy lần, đó vẫn là những Jivago, Lara khác với Jivago, Lara trong truyện của Pasternak. Xem "Le repos du guerrier", Robert Hossein đóng thật xuất sắc vai Renaud, Brigitte Bardot đóng thật xuất sắc vai Geneviève thế nhưng tôi vẫn cảm thấy cả hai chẳng dính dáng mấy đến Renaud và Geneviève trong truyện cùng tên của Christiane Rochefort. Rồi Vivien Leigh với Scarlett, Clark Gable với Butler trong "Gone With The Wind" của Margaret Mitchell hay Rachel Ward với Meggie và Chamberlaine với cha Ralph trong "The Thorn Birds" của Mc Cullough cũng thế. Người trong phim và nhân vật trong truyện khác nhau. Nhưng giả sử như có ai đó hỏi tôi: vậy thì theo anh, những nhân vật trên phải như thế nào, thì tôi đành chịu, không trả lời được. Trong tôi, những nhân vật ấy chỉ là những cái bóng mờ mờ. Mà ngay cả có ai hỏi tôi, thế thì những nhân vật trong truyện của anh nếu được đưa lên thành phim, thì thế nào, tôi cũng chịu, không trả lời được. Dù rằng chính tôi đã tạo ra chúng.

 

Chắc chắn không phải vì những tay đạo diễn dở (dở sao được khi đó là những phim thuộc loại xuất sắc), mà là vì những cái mà ta vẫn tưởng là những nhân vật - những cái tự-ngã tưởng tượng ấy - khi đọc truyện, chỉ là những cái bóng vô hình vô thể. Ta ngỡ ngàng không phải vì nó giống hay không giống. Mà ngỡ ngàng vì những cái vô thể ấy đột nhiên mang lấy những hình thể. Chúng đâm ra bị định hình. Chúng giết mất tưởng tượng. Chúng giết mất cái đa dạng, đa thể. Chúng giết mất cái mờ ảo, phi thực của nhân vật trong truyện. Hóa ra, nhân vật là nhân vật mà người là người. Chúng có liên hệ với nhau thật đấy nhưng vẫn là những thực thể riêng biệt.

 

Nhân vật: những bóng ma

 

Hãy mở một cuốn truyện ra đi. Và đọc. Chúng ta sẽ có cái gì nào? Chữ. Chỉ có chữ và chữ. Những giòng chữ bất động, năm tênh hênh trên giấy, nằm mãi ngàn năm như thế, vô hồn. Chữ to, chữ nhỏ. Chữ hoa, chữ thường. Những phết, chấm, xuống hàng, thụt đầu giòng, gạch đầu giòng... Chỉ có thế. Nhưng hành vi đọc lại đánh thức những chuỗi liên tưởng nằm sẵn trong ký ức. Hình nối hình, ý nối ý, chúng bám vào những con chữ để trồi lên. Đọc, hình như rốt cuộc, là một cách nhớ lại. Nếu trí óc ta rỗng không, nghĩa là mất ký ức, ta không thể nào đọc được. Đọc, cũng là một cách viết lại. Vì chuỗi liên tưởng không dừng ngay tại những con chữ gợi ra mà còn tỏa ra, đi xa hơn, thậm chí khác đi. Võ Phiến nói: "Người viết vẽ, nhưng vẽ bằng lời." Muốn đọc cho có hiệu quả, ta phải biết kìm hãm giòng liên tưởng lại, cột chúng vào câu, chữ và ý đang đọc (ai cũng có kinh nghiệm, nếu không kìm hãm, ta đọc, nhưng không hiểu gì cả, đôi khi phải đọc lại). Nghĩa là tập trung đầu óc lại. Để hiểu. Để tìm. Tìm gì?

 

Tìm nhân vật. Trong tiểu thuyết, (những) nhân vật được diễn tả qua nhiều hình thức:

 

- Tên hoặc ngôi. Trong tiểu thuyết mới, không có cả tên. Truyện của Nguyễn Bình Phương mới đây, không cả ngôi, tựa như người ta viết tiếng Spanish.

 

- Nhân dáng

 

- Hành vi

 

- Tâm cảnh (độc thoại nội tâm hay mô tả tâm tình, cảm nghĩ trước sự việc)

 

- Đối thoại

 

Trong tất cả các hình thức nêu trên thì nhân dáng là cái nghèo nàn nhất. Trước hết truyện cho một cái tên (viết hoa) hay một chủ thể (tôi, chàng, nàng, nó, hắn...) hay một ai đó (một người đàn bà, một thanh niên...). Truyện có thể sẽ cho ta biết một chút về phái tính, độ tuổi và một vài đặc điểm nào đó về thể hình. Nhiều truyện chẳng có gì, ngoài một cái tên viết hoa gọn lỏn. Hết. Trong suốt diễn tiến truyện, ta có thể thấy lập đi lập lại không biết bao nhiêu lần nhân vật cười, nói, đi, đưa tay, thở dài, hôn, sờ, khóc...Chỉ còn là những cái tên hay ngôi vị di động. Chúng như những cái bóng. Bóng ma. Mà ma thì vô định hình để cho ta mặc sức vẽ rắn thêm chân tùy thích.

 

Hãy thử đọc Nguyễn Du. Hai nhân vật chính trong truyện chẳng cho ta một nhân dáng nào gọi là cụ thể. Này nhé, Kiều thì chỉ được ông cho hai câu:

 

So bề tài sắc lại là phần hơn

Làn thu thủy nét xuân sơn...

 

Nói cho có nói. Còn Kim Trọng thì chẳng có mô tả gì ngoài hai chữ "văn nhân", nghĩa là dáng dấp thư sinh nho nhã. Còn một nhân vật khá quan trọng nữa là Hoạn Thư, Nguyễn Du hoàn toàn chẳng cho ta một chi tiết nào về thể hình của người đàn bà thông minh sắc sảo này. Các nhân vật khác, ông cho một vài nét phác họa. Thúy Vân thì:

 

Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang

...Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da

 

Từ Hải thì:

 

Râu hùm hàm én mày ngài

Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao

 

Sở Khanh thì:

 

Một chàng vừa trạc thanh xuân

Hình dung chải chuốt áo khăn dịu dàng.

 

Mã Giám Sinh:

 

Quá niên trạc ngoại tứ tuần

Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao

 

Như ta thấy, những chi tiết nêu trên chỉ có tính cách tượng trưng, mô tả tính cách và phong cách nhiều hơn là nhân dáng. Hầu như chẳng có chi tiết cụ thể nào để biết con người của các nhân vật đó ra sao.

 

Nam Cao cụ thể hơn nhiều. Hãy xem ông mô tả Chí Phèo:

 

"Trông đặc như cái thằng sắng cá! Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất câng câng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết! Hắn mặc quần áo nái đen với áo Tây vàng. Cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng, phượng với một ông thày tướng cầm chùy, cả hai cánh tay cũng thế. Trông gớm chết!"

 

Còn Thị Nở thì chi li hơn:

 

"Cái mặt của thị thì thực là một sự mỉa mai của hóa công: nó ngắn đến nổi người ta có thể tưởng bề ngang lớn hơn bề dài, thế mà hai má nó lại hóp vào mới thật là tai hại, nếu má nó phinh phính thì mặt thị lại còn được hao hao như mặt lợn, là thứ mặt vốn nhiều hơn người ta tưởng, trên cổ người. Cái mũi thì vừa ngắn, vừa to, vừa đỏ, vừa sần sùi như vỏ cam sành, bành bạnh muốn chen lẫn nhau với những cái môi cũng cố to cho không thua cái mũi: có lẽ vì cố quá cho nên chúng nứt nở như rạn ra. Đã thế thị lại ăn trầu thuốc, hai môi dày được bồi cho dày thêm một lần, cũng may quết trầu sánh lại, che được cái màu thịt trâu xám ngoách. Đã thế, những cái răng rất to lại chìa ra: ý hẳn chúng nghĩ sự cân đối chữa được một vài phần cho sự xấu"

 

Nam Cao có thành thật chút nào không khi mô tả Chí Phèo và Thị Nở? Có và không. Ông mô tả được khá nhiều chi tiết giúp ta hình dung (dù chưa rõ ràng lắm) hai nhân vật khá đặc biệt của ông và những chi tiết đó làm ta hãi. Nhưng giọng văn của ông lại muốn nhấn mạnh đến một điều khác: sự ác, sự xấu. Vẫn là kiểu Nguyễn Du tả Từ Hải hay Mã Giám Sinh: những nét đặc trưng biểu lộ cho nhân cách hơn là thể hình.

 

Thế cũng đã là quá nhiều. Đọc Mùa Biển Động của Nguyễn Mộng Giác, từ đầu chí cuối, cái gì của nhân vật chính Ngữ, tôi cũng biết hết: cá tính, sở thích, lập trường, sự sợ hãi, lòng trung chính và cả cách anh ta ái ân...chỉ trừ một điều: nhân dáng. Tôi đọc khá kỹ, nhưng hoàn toàn mù tịt chẳng biết Ngữ giống ai? Bộ điệu, tóc tai, mặt mày thế nào? Chắc cũng "thường thường bậc trung". Một vài nhân vật khác thì đỡ hơn, nhưng vẫn đơn sơ, giản lược. Diễm thì khuôn mặt hơi gầy, da ngăm ngăm, mũi cao, cằm nhọn, cổ thon. Tường thì mặt xương xương, tóc dài, đôi mắt nhỏ có đuôi, môi thâm (vì hút thuốc lá nhiều). Trong "Dặm Trường", nhân vật nữ chính là Hạnh chỉ được tôi mô tả (qua cái nhìn của ông thầy giáo Quý) là "không được đẹp" và thấp. Còn Lục (nhân vật chính nam) thì hầu như chẳng hề có nhân dáng. Nguyễn Trọng Khôi vẽ hình bìa rất đạt, nhưng nói về nhân dáng, tôi thấy người đàn bà chẳng dính dáng gì đến một Hạnh mà tôi "tơ tưởng", "ôm ấp" trong trí khi viết "Dặm Trường".

Thì thế! Hầu hết những truyện tôi viết hay đọc đều đại loại như thế. Nhân vật chỉ là những chiếc bóng mang tên, Những vô thể biết di động. Thế là thế nào? Tại sao ta vẫn cứ đọc, vẫn cứ viết? Chỉ vì, thường thì ta (đọc hay viết) có xu hướng đồng hóa những cái bóng đó với mình, với chủ thể, nhất là với nhân vật chính. Mấy khi mình tự hỏi mình là ai đâu. Ngồi một mình, ta vẫn tự hỏi hay tự nhủ "mình sẽ thế này, thế nọà", mấy khi thắc mắc mình là cái gì, giống ai. Tóm lại, không ai có nhu cầu phải tìm thấy một nhân dáng cụ thể khi đọc. Rốt cuộc, chỉ là những "tôi", những "anh", "chị", "chàng", "nàng", "hắn", những Huy, Tiệm, Thường, vân vân và vân vân - những thứ mà ta muốn ghép với ai cũng được hoặc không muốn ghép thì cũng...thôi. Ta quan tâm đến cái khác.

 

Tôi đi tìm (những) nhân vật của tôi

 

Nhân vật - những cái bóng - lại không đơn giản tí nào trong quá trình tạo sinh ra chúng. Nguyễn Huy Thiệp viết: "Cha tôi tên là Thuấn, con trưởng họ Nguyễn...". Nguyễn Mộng Giác viết: "Buổi chiều Tường có giờ dạy ở Quốc học nên trong xưởng vẽ chỉ có Ngô và Ngữ...". Nguyễn Xuân Hoàng viết: "Tôi quỳ chân dưới gậm giường tìm đôi dép và ngay khi đỡ Quỳnh đứng dậy, tôi nghe thấy tiếng chân người." Những cái "tôi", cái "anh", cái "hắn" hoặc những cái tên như Ngữ, Tường, Ngô, Loan, Dũng, Bốn Thôi, Hạnh, Tùy...không đơn giản chỉ là những cái tên khô chết trên trang giấy, những cái bóng, những vô thể như khi ta đọc. Mà chúng xuất phát từ những con người cụ thể, những hiện sinh cụ thể. Không phải chúng chỉ có cái cổ cao, cằm bạnh hay má gầy, môi thâm...hay là "cái mặt trân trân", "đôi mắt nhấp nháy"...hay đẹp, xấu một cách chung chung, một cách đầy ý niệm, mà là những khuôn mặt, những thân hình, những kỷ niệm, những cái vẫy tay, những nụ cười, những dáng dấp sống động. Đó có thể là một ông K, thầy giáo dạy văn chương tôi hồi lớp đệ ngũ, đó có thể là tay quản giáo X, kẻ đã hàng ngày dẫn giải tôi đi lao động trong trại cải tạo, đó có thể là tay công an khu vực, thường đến vòi vĩnh tôi những lúc tôi đi một chuyến đường xa về, đó có thể là một cô bồ của tôi hồi tôi học lớp đệ nhị, đó có thể là thằng N. mà tôi ghét cay ghét đắng vì nó hay chê những bài tôi viết, cũng có thể là người đàn bà ở trước mặt nhà hay tay đồng nghiệp trong sở, vân vân và vân vân.

 

Kinh nghiệm viết cho thấy, dù không cố tình phản ảnh một cách trung thực người và việc thật chăng nữa, người viết cũng phải sử dụng những nhân dáng cụ thể của "hắn" (tôi tạm dùng từ "hắn" để ám chỉ những nhân dáng thực mà tôi dùng để cấu tạo nhân vật) để làm chỗ dựa, để làm mẫu. Đôi khi, để tạo cảm giác, người ta dùng đúng tên thực của "hắn", để khỏi bị lạc hướng. Một nhân dáng cụ thể không phải để ta mô tả các chi tiết thể hình của nó, mà để tạo ấn tượng, tạo liên tưởng và tạo những hứng khởi cho những mô tả khác về không khí, sự việc, diễn tiến câu chuyện. Nhiều khi, ta phải đi "thực tế", nghĩa là đi đến hiện trường để nhìn, nghe "hắn" và tạo cảm giác về "hắn". Roland Barthes cho rằng cái tệ hại nhất của một nhà văn là tưởng rằng ngôn ngữ là một thứ trung gian tự nhiên, trong suốt mà xuyên qua đó, độc giả có thể tóm bắt được hiện thực. Đúng! Thì làm sao được, nếu đó là điều tệ hại thì cũng đành vậy vì người viết, trong khi viết, họ cũng bắt từ hiện thực để viết kia mà! Nếu họ có ảo tưởng như thế thì càng tốt vì chính từ cái ảo tưởng đó mới có văn chương.

 

Mặt khác, tuy nói về "hắn", nhưng tôi chẳng muốn phản ảnh một cái gì về "hắn" cả. Tôi ghép "hắn" với nhiều cái "hắn" khác, cũng cụ thể như "hắn" bên cạnh những việc, những vật khác không dính dáng gì đến hắn. Và - đây là điều khá thú vị trong hành vi viết - tôi làm một việc ngược đời khác: tôi mượn, tôi dùng chính tôi để tả hắn, y như thể là tôi và "hắn" chẳng khác gì nhau. Tôi đội lốt "hắn" hay "hắn" đội lốt tôi? Trong quá trình xây dựng (những) "hắn" thành (những) nhân vật, tôi truy tìm rất nhiều trong chính tôi, từ một cảm giác nhỏ nhặt cho đến những ý đồ to lớn và cả nhân sinh quan của mình. Vì trong thực tế, "hắn" chỉ cho tôi những cử chỉ, những thái độ, những hành vi bên ngoài, còn cấu trúc nội tại, nghĩa là cái bộ máy tâm lý của "hắn", tôi không thể tìm ở đâu khác ngoài tôi trong một giả thiết rằng tâm thức con người là cùng một thể. Nói một cách khác, một nhân vật không bao giờ là một thực thể đơn lẻ mà là một tổng hợp:

 

(Những) nhân vật = tôi + (những) phi-tôi

 

(Tôi tạm dùng chữ "phi-tôi" để chỉ những "hắn" và những sự việc, sự vật mà tôi sử dụng như là những vật liệu để tạo thành 'những' nhân vật của tôi).

 

Bởi thế mà ta không ngạc nhiên, khi đọc lại những gì mình viết ra, bao giờ tôi cũng thấy cái chất "tôi" bàng bạc trong tác phẩm, dù tất cả là viết về (những) người khác. Đó là (những) nhân vật ở ngôi thứ ba. Còn những nhân vật xưng "tôi", trừ thể loại hồi ký, thường cũng để ám chỉ những phi-tôi, những "hắn". Trong "Bụi và Rác", nhân vật xưng "tôi" là một tổng hợp giữa Nguyễn Xuân Hoàng và những "hắn" nào đó. "Bụi và Rác" y như là tự truyện mà vẫn không phải là tự truyện. Trong "Ắn trưa, nghe kể chuyện tình" của Nguyễn Hữu Trí, mỗi một truyện ngắn có một cái "tôi" khác nhau, tuy "tôi" nhưng mà là những phi-tôi (những người đàn bà) trong lúc vẫn là?"tôi". Nói như Nguyễn Xuân Hoàng trong lời giới thiệu, tác giả đã "tách mình ra khỏi cái ?tôi? để hóa thân vào những cái ?tôi? khác, những hoàn cảnh khác, những cảnh đời khác, những kinh nghiệm khác." Đó là một chuyển mình trong quá trình viết. Đọc xong Dặm Trường, một nhà văn nhận xét: "Đời anh gian nan thật đấy!" có ý ám chỉ rằng cái "dặm trường" của nhân vật cũng chính là cái "dặm trường" của tôi. Một độc giả quen thì lại quả quyết: đúng cái ông nhà giáo Túy là chính anh chứ không ai khác. Tôi không nhận như vậy. Nói cho đúng, nhân vật nào cũng có một chút "tôi" trong ấy: một chút bất lực của Lục trước thời cuộc, một chút hư hỏng của Hạnh, một chút ngổ ngáo của Hồng, một chút đứng đắn giả tạo của Quý, một chút du đãng giang hồ của Thuận, một chút táo bạo của Mười Giộc...Đọc Mùa Biển Động của Nguyễn Mộng Giác, ta sẽ thấy hình ảnh của ông trong Ngữ, Ngô, Tường, Diễm, ông Văn. Có lẽ chính vì thế mà thường khi nghiên cứu về tác phẩm, bên cạnh những điều khác như cơ cấu ngôn ngữ, các ám ảnh vô thức, ảnh hưởng xã hội, người ta không thể bỏ qua việc tìm hiểu hoàn cảnh, tâm tình cũng như cá tính của tác giả.

 

Tắt lại, (những) nhân vật là sản phẩm lai tạo. Trong sinh vật học, sự lai tạo đẻ ra những sinh vật, dù chúng chẳng giống tí nào với kẻ đẻ ra chúng. Trong văn chương, sự lai tạo đẻ ra một hiện thực khá ngộ nghĩnh: chữ. Cái mà tác giả gửi vào đó biết bao nhiêu tâm huyết chỉ còn là một hiện hữu vô tri vô giác. Những vô thể. Chúng cứ nằm như thế trong thư viện, trên kệ sách, im lặng ngàn năm nếu không có một hành vi tích cực: Đọc. Tác phẩm văn chương chỉ vùng dậy thành hiện thực khi nào được đọc. Đọc là đánh thức những vô thể. Và khi đó thì "hạt bụi nào" mới có thể "hóa kiếp thân tôi, để một mai vươn hình hài lớn dậy". Không Đọc thì không thể có văn chương. Chẳng thế mà sau này, các nhà phê bình đẻ ra lý thuyết văn chương dựa vào người đọc (reader-oriented theories). Tất nhiên là còn tùy ở cách đọc. Nhưng điều kiện ắt có và đủ phải là Đọc. Dù viết (văn chương) và đọc (văn chương) có thể chỉ là một hành vi hoàn toàn vô tích sự!

 

Nhân vật tìm tôi

 

Có những người ta tình cờ gặp hoặc nghe kể lại, lại đột ngột trở thành những nhân vật hoặc nếu không, lại trở thành khuôn mẫu cho những nhân vật. Trong một số trường hợp, lắm khi rất bất ngờ, nhân vật "chộp", "bắt" tôi. Sở dĩ thế là vì chúng xuất hiện một cách đặc trưng với những nét rất đặc trưng trong một hoàn cảnh đặc trưng mà những lúc bình thường ta không thấy. Ở đây, chúng tự hiển lộ nhiều điều ẩn dấu khiến ta giật mình kinh ngạc. Và thế là, không tìm mà gặp, không hẹn mà nên.

Nhiều nhân vật đến không phải từ những "hắn" cụ thể ngoài đời, mà lại bắt đầu từ những ý tưởng, những trạng thái xúc động. Cũng chính vì thế nhiều nhân vật tiểu thuyết ta không thể nào tìm thấy trong thực tế. Chúng chỉ là hậu thân của những ý tưởng hay xúc cảm đột ngột đến với người viết. Gregor Samsa trong "Metamorphosis" (Hóa thân) của Kafka chẳng hạn. Cũng như trong giấc mơ, chính những ý tưởng hay những xúc cảm đến với ta, tồn tại trong ta để rồi xuất hiện trong giấc mơ dưới dạng những cảnh, những người - không phải như chúng có trong thực tế mà chúng có theo cảm quan của mình. Một người ta thích xuất hiện kiểu này nhưng nếu cũng người đó mà ta ghét lại xuất hiện kiểu khác. Giấc mơ, hiểu theo một nghĩa nào đó cũng là một loại hư cấu. Nhiều kiệt tác nghệ thuật, như ta biết, đôi khi là một loại giấc mơ tiềm ẩn hay xuất phát từ một giấc mơ.

Những nhân vật như thế đến với tôi rồi cư trú luôn trong tôi, không rời. Chúng thúc bách tôi khai sinh ra chúng, tạo cơ hội cho chúng chào đời. Nhiều khi, mặc chúng thúc bách, tôi bất lực. Có thể là vì chưa có cơ duyên. Cũng có thể là vì chúng đa dạng quá, đặc sắc quá, tài lực tôi không đủ để nặn chúng thành "nhân vật". Mà cũng có thể vì chúng "nghèo nàn" quá về mặt biểu hiện, về tính cách. Và tôi chỉ biết đợi. Đôi khi, đợi hoài. Đấy là lý do tại sao nhiều tác phẩm cứ phải nằm trong tình trạng "thai nghén". Chỉ tội cho những "nhân vật"!

 

(Những) nhân vật và tôi: tranh chấp

 

Quan hệ giữa tôi và nhân vật không mấy ổn định. Quá trình sáng tác là một quá trình tranh chấp giữa tôi và (những) nhân vật của tôi, nghĩa là giữa tôi và (những) phi-tôi. Tranh chấp thể hiện ra giữa những gì tôi muốn và những gì tôi không muốn. Một tác phẩm thất bại hay thành công đôi khi là hậu quả của tranh chấp đó: hoặc nhân vật không nói lên được những gì tôi muốn nói (tác phẩm phóng túng, thiếu chủ đề, rặt cả những "nguyên liệu"), hoặc do nhân vật thể hiện hết những gì tôi muốn thể hiện (quan niệm "văn dĩ tải đạo" biểu hiện qua các tiểu thuyết luận đề). "Papillon" (Người tù khổ sai) của Henri Charrière chẳng hạn. Theo như giới thiệu, tác phẩm của Charrière đầy cả những "nguyên liệu", nghĩa là ông không viết với tư cách một nhà văn, mà viết như những gì ông có thể viết. Một loại tự truyện mà đầy chất tiểu thuyết.

 

Tại sao có tranh chấp? Bản chất của chủ thể sáng tác thường là áp đặt. Trong trường hợp cực đoan, tôi tự cho mình có toàn quyền tạo, toàn quyền hư cấu, toàn quyền "bịa", nên - như Thượng Đế muốn tạo ra con người theo hình ảnh của mình - tôi cũng muốn tạo những nhân vật theo ý mình. Chúng phải hoàn toàn tuân phục tôi. Tôi mặc sức định đoạt số phận chúng, bắt chúng cười, nói, suy nghĩ hoàn toàn theo cảm quan và lập trường của tôi. Và do đó, tôi biến những nhân vật của tôi thành những con bù nhìn. Chẳng hạn như bắt một nhân vật người Mỹ phải suy nghĩ theo cung cách người Việt hay bắt một anh bộ đội Cộng sản phải suy nghĩ theo kiểu của một người lính VNCH. Chúng (nhân vật) nói mà không phải chúng nói, cười mà không phải chúng cười. Y như những con rối nước. Đọc La Nausée của Sartre, đôi lúc tôi thấy "tội nghiệp" cho anh chàng Roquentin. Anh ta phải suy gẫm về tình trạng hiện sinh, về dự phóng, về thân phận, về phi lý...y như Satre. Trong truyện ngắn "Những bài học nông thôn" của Nguyễn Huy Thiệp, có đoạn mô tả đoạn đối thoại giữa hai nhân vật, một là anh giáo Triệu và một là một cậu học sinh lớp 12 như sau:

 

"Anh Triệu bảo: "Bác Ba Đình ạ, ông khách của bác thẹn thò như con gái ấy. Tôi thấy tướng thông minh nhưng nhiều bất hạnh. Nghe tôi nói nhé: lớn lên chú đừng sa vào con đường văn chương chữ nghĩa. Thế nào chú cũng ăn đòn. Người ta sẽ nguyền rủa đấy. Chú không chống nổi sự ngu dốt của bọn có học đâu. Tôi đây này, tôi hiểu sâu sắc sự ngu đốt của bọn có học tai hại như thế nào, vừa phản động, nó vừa nguy hiểm, lại vừa mất dạy. Sự ngu dốt của bọn có học tởm gấp vạn lần so với ở người bình dân". Tôi hỏi: "Vì sao?". Anh Triệu bảo: "Vì chúng giả hình. Chúng nhân danh lương tâm, đạo đức, mỹ học, trật tự xã hội, thậm chí nhân danh cả dân tộc nữa. Chính trị không cao siêu sẽ nhầm lẫn". Tôi hỏi: "Nhân dân không cần tri thức sao?". Anh Triệu bảo: "Trẻ em rất cần. Còn khi trưởng thành, tôi nói là nhân dân ấy, cần một thứ còn hơn cả tri thức nữa: sự bình ổn để sống tự nhiên hài hòa. Tuổi già cũng cần tri thức nhưng ở dạng khác, đấy là tôn giáo. Khái niệm nhân dân của tôi không có trẻ con, người già. Ở tuổi cường tráng, bản thân đời sống nhân dân là tri thức rồi."

 

Không thấy thầy giáo Triệu đâu, chỉ thấy Nguyễn Huy Thiệp.

 

Dù không chấp nhận quan niệm "văn dĩ tải đạo" hay quy cho văn nghệ một sứ mệnh nào đó, dường như không có nhà văn nào viết một cách hồn nhiên, vô thưởng vô phạt. Anh/chị ta luôn luôn tìm cách áp đặt cái "tôi" của mình vào tác phẩm. Áp đặt có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Hoặc là áp đặt quan điểm (nhân sinh, chính trị, đạo đức), hoặc là áp đặt số phận và các tình hưống hoặc áp đặt tình cảm thương, ghét. Sự áp đặt có khi rất trắng trợn, thẳng thừng. Cũng có lúc tiềm ẩn. Có lúc áp đặt chỗ này, nới lỏng chỗ khác. Nhiều tác phẩm, ta không hề nhìn thấy sự áp đặt, nhưng đầy tính cách áp đặt, tất nhiên là được che dấu dưới các thủ pháp nghệ thuật tinh vi. Nhiều tác phẩm văn chương là những minh giải triết lý. Nhân vật, trong trường hợp đó, là những hình tượng triết lý, hoàn toàn bị không chế bởi những tiền đề có sẵn trước đó. Meursault trong "L'Étranger" của Albert Camus, Gregor Samsa trong "Metamorphosis"của Kafka, chẳng hạn, là những hình tượng triết lý.

Nhưng, những nhân vật không phải lúc nào cũng "ngây thơ", "hồn hậu" như tôi muốn. Chúng "phản kháng". Chúng không muốn nhận lấy một số phận tiền định, hay ít nữa, chúng không muốn tôi can thiệp sâu vào hiện sinh của chúng. Và do đó, trong quá trình sáng tác, những dự tính, sơ thảo ban đầu thường bị xáo trộn, có khi biến thể hoàn toàn, khiến tác phẩm khi hoàn tất lại là một cái gì khác hẳn ý đồ lúc tiên khởi của người viết. Sáng tác trở thành một cuộc nội chiến trong chính tôi. Nó làm tôi thao thức, trăn trở, vật vã với (những) nhân vật của mình. Viết rồi lại xé. Xé rồi lại viết. Sửa đoạn sau, đành phải sửa đoạn trước, chẳng hạn thế. Viết, nhiều khi, đặt tôi vào trong cái thế chênh vênh, bất định. Sáng tác văn chương trở thành một dao động, một đong đưa giữa những gì tôi muốn và những gì tôi không muốn, giữa áp đặt và tùy hứng, giữa dự phóng và tùy tiện, giữa khuôn khổ và phóng túng. Người viết dường như luôn luôn đu dây giữa mình và (những) nhân vật của mình, giữa tôi và phi-tôi.

 

Chính vì thế, đôi khi, tôi thích gọi viết là bịa.

 

Trần Hữu Thục

(1/2002)

 

■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■

Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách

Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập