những dấu mốc hành trạng
|
Khi một thế kỷ chấm dứt và một thế kỷ mới bắt đầu, trong mọi lãnh vực hoạt động tinh thần người ta thường nhìn lui để nhìn tới. Để xác định vị trí và cất bước vào tương lai. Công việc này có thể tiến hành theo nhiều cách khác nhau, nhưng dù làm theo cách nào chăng nữa người làm công việc này phải là người ở trong nghề, có kiến thức ngành nghề và có khả năng thực sự, cộng thêm sự lương thiện trí thức nữa. Nếu việc này để cho (hoặc do tự ý) một tay ngang hoặc một người có chút tên tuổi trong giới viết sách nhưng do thế lực đương quyền điều khiển chỉ thị làm thì kết quả nhiều khi không những chẳng giúp ta nhận diện được quá khứ mà còn chỉ ra những tín hiệu sai lạc cho tương lai.
Nhìn lui nhìn tới triết lý và văn chương một thế kỷ vừa qua, Đặng Phùng Quân có thể giúp người đọc khái quát về mặt cơ sở của hành trạng tư tưởng thế kỷ 20 trong hai tập sách nhỏ Hành Trạng Tư Tưởng (HTTT) và Phê Phán Hệ Tư Tưởng Mác-xít (PPHTTM.) Gọi là hai tập sách nhỏ vì đây chỉ là một phần của dự án Cơ Sở Tư Tưởng Thời Quá Độ (xem PPHTTM, Bạt trang 197.) Về tay nghề, khả năng và sự hiểu biết cũng như lương thiện trí thức chúng ta có thể tin tưởng nơi Đặng Phùng Quân là người đã ăn ở thủy chung với triết học và văn chương từ những năm 60 (Tiểu luận triết L?Existence d?autrui et la fidélité dans l?oeuvre de Gabriel Marcel xb năm 1967, Giảng sư Triết Đại Học Văn Khoa Sàigòn trước 75.) Trong hoàn cảnh từ lâu phải ra khỏi nước, những người trong thế hệ chúng tôi trước đây trong nghề giảng dạy văn chương triết học nay không còn bục giảng và lớp học, ngày ngày tám giờ mưu sinh nghề khác bào mòn cạn kiệt, tuy biết phận mình vốn là những kẻ chót mang mệnh nghiệp phải ở với văn chương và triết học, dù cho hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận trực tiếp với các văn bản nguyên ngữ hơn hồi còn ở trong nước, nhưng vẫn thấy mình đã vào độ cuối thu sang đông bạc đầu quẩn quanh với những toan tính quy/bất quy (Xem Thu Chí trong HTTT trg 84-91) nên khi thấy Đặng Phùng Quân vẫn đọc vẫn viết và ra sách được thật tình không thể không ngưỡng mộ tấm lòng và sức làm việc bền bỉ của người bạn minh triết này.
1. Hành Trạng Tư Tưởng Giữa Hai Thế Kỷ.
Những bài viết trong HTTT ngoại trừ bài "Trường hợp Trần Đức Thảo" đăng trên báo Văn Học năm 1994, còn lại mười bài kia đều đã được đăng trên tạp chí Chủ Đề trong những năm từ 2000 tới 2002. Theo chúng tôi thấy những luận văn này nhằm hướng tới một sở cứ (abode) của tư tưởng nên khi đọc chúng ta cần có sự cố gắng thảo luận không ngừng để định vị chữ "hữu" (Sein, Etre, Being) đã được khai mở và che khuất trong tư tưởng và văn chương suốt một trăm năm qua như thế nào.
Phải nói ngay là HTTT tuy mục tiêu là nhìn lại một thế kỷ tư tưởng nhưng không "nhằm đưa ra một bức tranh toàn cảnh về triết học và văn chương thế giới mà giới hạn vào một vấn đề: cơ sở của ý nghĩa hành trạng triết học và văn chương trong một thế kỷ vừa kết thúc." (HTTT, trg 10.) Vậy cách kiểm điểm của tác giả không phải là kiểm điểm kiểu biên soạn lịch sử triết học, trình bày những trào lưu khuynh hướng theo trật tự thời gian. Không viết lịch sử tư tưởng theo lối cổ điển. Mà thăng trầm theo hành trạng tư tưởng của một thế kỷ. Nhưng hành trạng là gì? "Hành trạng của tư tưởng ví như cuộc sống của một nhân vật. Khi xác định như một nhân vật, tư tưởng có những giai đoạn phức tạp trong một đồng thể, nhữ?g thăng trầm của một quá trình lịch sử. Sự chuyển hóa từ một giai đoạn khái niệm này sang một giai đoạn khác là những khâu trong một hệ thống, giảm thiểu những ý hướng của con người, nói khác đi không phải người là một tác nhân tự do mà chính vận động tích phân, khu biệt của hệ thống xác định những hành động của người." (HTTT trg 140-141.). Triết gia, người bạn của sự không ngoan, theo Giles Deleuze là kẻ sáng tạo ra những khái niệm và ký tên mình trên những khái niệm đó. Sáng tạo khái niệm để giải quyết những nan đề triết học. Theo Đặng Phùng Quân "Hành trạng tư tưởng - Hành trạng nhân vật." Giữa hai vế không phải là dấu = mà là gạch ngang -. Mối quan hệ giữa khái niệm và nhân vật (triết gia) không phải là đối lập nhị thức mà là biện chứng, thăng trầm theo những xung đột lịch sử. Có thể nói được rằng tư tưởng, khái niệm, nhân vật (kể cả nhân vật tiểu thuyết) trong số phần cưu mang hủy tính, bạo động, luôn phóng mình tới một điểm độ không nằm bên ngoài tri/bất tri, kiến/bất kiến, là cái vô thường danh (Samuel Beckett), cái trung tính vô ngôn (René Char), cái Vô tuyệt đối (Nishida Kitarô), Tư tưởng Cõi Ngoài (Maurice Blanchot). Mở ra một không gian trên mặt phẳng độ không (Ground-Zero) của văn chương tư tưởng: văn chương là thứ ngôn ngữ tự tách khỏi chính mình càng xa được bao nhiêu càng hay, là "cõi ngoài bản thân" ?phơi lộ thể tính trong ánh?sáng chói đột ngột vén mở ra không phải quá trình hồi phản của những dấu chỉ mà là một khoảng trống, một sự biến mất của chính ngôn ngữ. Chủ thể văn chương (chủ thể nói trong văn chương và điều chủ thể nói về) không phải là ngôn ngữ trong trạng thái tích cực thông đạt ý nghĩa mà là cái khoảng trống so le tách rời ngôn ngữ sở cứ không gian đó để tác hành. Tác hành trong sự trần trụi của cái "tôi nói."
Tại sao nói tư tưởng thế kỷ 20 là tư tưởng thời quá độ? Có thể xác định thời quá độ? Theo Đặng Phùng Quân, "nếu lấy tình hình triết học tư tưởng Tây phương làm mẫu mực,. không hẳn theo niên biểu nhưng những vấn đề đặt ra chưa chứng thực là những dấu hiệu của thế kỷ kế tiếp" (HTTT trg 9): thế kỷ 20 khởi đầu với hiện tượng luận, phân tâm học rồi trào lưu hiện sinh kế đến những đợt phê phán chủ nghĩa Mác, thuyết hậu cấu trúc, hậu hiện đại, sự gặp gỡ đối thoại giữa triết học cựu lục địa truyền thống với triết học Anh-Mỹ có thể coi là dấu mốc thời quá độ. Thêm vào đó là "sự kế thừa những di sản của giai đoạn hậu hiện đại, hậu cọng sản, hậu thuộc địa cũng như quá trình tiến hóa hậu công nghiệp đã đưa ra những vấn nạn về sự cáo chung của lịch sử (chỉ khác biệt ở chỗ khủng hoảng của thơi?hậu thế chiến thứ hai dẫn tới viễn cảnh bi quan về cái chết của con người, còn sự khủng hoảng của thời hậu lịch sử là tuyệt lộ của tư tưởng?) (HTTT trg 9.)
Trên bình diện lịch sử thế kỷ 20 là thế kỷ quán quân về tội ác: hội chứng Auschwitz, quần đảo ngục tù (Gulag), chiến tranh diệt chủng, trại cải tạo, chiến tranh lạnh v.v. Nhưng cũng không thiếu những hiện tượng tích cực: làn sóng di dân, sự xụp đổ của chế độ cọng sản, phong trào nữ quyền, giải thực, giao lưu văn hóa toàn cầu v.v.Chúng ta chưa quên trong thập niên 50 "bánh mì", câu nói đầu môi chót lưỡi của trí thức Pháp như Derrida kể lại là "Chấm dứt." : Sự chấm dứt của lịch sử, của con người, của Siêu Hình Học. Nói chung là tuyệt lộ, là tận thế, mạt kiếp. Vào những năm cuối thế kỷ này cũng chính Derrida tự chỉ ra: Sự chấm dứt đó chỉ là sự chấm dứt một khái niệm lịch sử, con người, Siêu Hình Học nào đó mà thôi. Chẳng hạn quan niệm duy vật lịch sử đã cáo chung cùng lúc với quan niệm nhân bản tự do, quan niệm về con người trong triết học cổ điển (cả duy tâm lẫn duy vật), quan niệm Siêu Hình Học/Hữu Thể Học truyền thống về "hữu" từ Platon tới Hegel chung qui chỉ là những nỗ lực tri thúc mưu tìm tổng thể trong sở cứ tư tưởng và những quan niệm này đã được phân tích hủy tạo chỉ ra vai trò của chúng đã chấm dứt trong thế kỷ vừa qua.
Trước ngưỡng cửa thế kỷ 21 mối ưu tư của thời đại là: chung cuộc hay khởi đầu? Từ thời quá độ sẽ chuyển tiếp sang thời.? Trong Specters of Marx Jacques Derrida dẫn một câu nói trong vở Hamlet (Cảnh I, hồi V) của Shakespeare: "The time is out of ioynt: Oh cursed plight" . Làm sao chuyển ngữ câu nói này? "Time" ở đây là thời gian, thời, lịch sử, thế giới? "out of ioynt" là trật đường rầy, trật bản lề, lật úp, hay danh giá bị mất? Có phải diễn ngôn hủy tạo dẫn về một chung cuộc là bản ai điếu (mourning) hay khai tử / sinh lịch sử, con người, tư tưởng, văn chương?
Đọc Hành Trạng Tư Tưởng của Đặng Phùng Quân để nghe trong tĩnh lặng những bước chân dặm ngàn hiện biến của nhân vật triết lý văn chương một trăm năm qua. Và khi buông sách xuống, ngẫm lại lời Nguyễn Du : "Bất tri tam bách dư niên hậu/Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như." Tôi rất muốn hiểu"nào ai khóc" của Nguyễn Du là một lời kêu/mời gọi lên tiếng, phá vỡ sự im lặng, tham dự vào những nghi thức thiêng liêng của giờ vĩnh biệt, tiễn đưa những nhân vật tư tưởng văn chương. Chung qui đến, ở lại với văn chương có phải cũng chỉ để viết/đọc những bài ai điếu tưởng niệm?
2. Phê Phán Hệ Tư Tưởng Mác-xít (PPHTTM)
So với HTTT đọc PPHTTM người đọc có cảm tưởng thoáng hơn, dễ nắm bắt những chủ điểm trình bày trong sách vì tác giả đã cố gắng giới hạn gạn lọc thông tin để giải quyết vấn đề: "nhằm định vị sự phát triển và thất bại của chủ nghĩa ở chung cuộc cùng với sự cáo chung của chế độ đã phân hóa thế giới thành hai văn hóa, hai ngôn ngữ. Sự thống trị của một bóng ma không thể phục sinh trên con đường quyền lực tư tưởng."(PPHTTM, trg 198).
Như đã nói ở trên, tập sách PPHTTM là một phần trong dự án Cơ Sở Tư Tưởng Thời Quá Độ của Đặng Phùng Quân, phải viết và in rời vì nó vượt khuôn khổ nhận thức luận. Nhưng ĐPQ không làm công việc viết một quyển sách trình bày triết lý hay học thuyết của Marx như một số sách vở đã có trong nền văn học, thư tịch Mac-xít cả bằng Việt ngữ lẫn ngoại ngữ. Mục đích của quyển sách được tác giả minh định: bằng lối phê phán hủy tạo, tư tưởng Mác-xít được xét đến trong toàn bộ "thảo luận vấn đề cơ sở tư tưởng của thời đại" (PPHTTM, Bạt.)
Đặng Phùng Quân đọc Marx: đọc Lenin đọc/viết Marx đọc Lukács đọc/viết Marx đọc Sartre đọc/viết Marx đọc Merleau-Ponty đọc/viết Marx đọc Marcuse đọc/viết Marx đọc Trần Đức Thảo đọc/viết Marx đọc Althusser đọc/viết Marx đọc Derrida hủy tạo Marx .Cơ sở hệ tư tưởng Mác-xít sau đó được phê phán trên những nan đề xương sống tư tưởng Marx: lý luâ? về Tha hóa, lý luận về Tư bản, lý luận về Ý thức hệ, lý luận về Vật hóa, và lý luận về Lịch sử. Tập sách kết thúc bằng hai chương 8 "Phê phán chủ nghĩa duy vật lịch sử" và chương 9 "Phê phán thực tiễn chủ nghĩa Mác."
Có thể nói bóng ma Marx đã ám ảnh suốt chiều dài thế kỷ 20, tạo nên những thay đổi biến động mãnh liệt cả về thế giới quan lẫn thực tại xã hội. Riêng về những chủ đề triết lý như đã kể trên ảnh hưởng của Marx không phải là đã chấm dứt, Nhưng trên cơ sở tư tưởng thời quá độ dù cho bóng ma Marx còn ám ảnh nhân loại nhưng sang đến thế kỷ mới sẽ không thể còn người Mác-xít nào nữa.
"Marx đã chết. Ở ngưỡng cửa bước vào thế kỷ 21, nếu Marx có sống lại như một chủ nghĩa tân-Mác, như những chủ nghĩa tân-Kant, tân-Hegel, lời nguyền đầu tiên của ông chắc hẳn là: Tôi không là người Mác-xit." (PPHTTM, trg 198).
Nhân loại đã học bài học lịch sử bằng một giá phải trả quá đắt khi tin tưởng rằng có thể hoàn tất cái tổng thể lịch sử thông qua một khái niệm về yếu tính Con Người nói chung.
Ðào
Trung Ðạo
Tháng
7/02
* Đọc Hành trạng tư tuởng giữa hai thế kỷ và Phê phán hệ tư tưởng mác-xít của Đặng Phùng Quân, Chủ Đề xuất bản
■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■
Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách
Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập