Võ Phiến: Sinh năm 1925 tại Bình Định.
Tên thật: Đoàn Thế Cẩn. Sau 1934 đổi thành Đoàn Thế Nhơn.
Công chức, viết văn, viết báo (tại Việt Nam và hải ngoại).
Định cư tại Hoa Kỳ năm 1975.
Tiếp tục làm công chức ở Los Angeles cho đến lúc về hưu
vào tháng Bảy năm 1994. Chủ trương Nhà Xuất Bản Thời Mới. Cộng tác với các báo Bách Khoa, Sáng Tạo, Thế Kỷ 20,
Văn Học, Văn, Khởi Hành v.v..
Trên 40 tác phẩm đã xuất bản
từ Chữ Tình (1956) đến Văn Học Miền Nam (1999).
1.
Cả một đời thiết tha với văn chương, ông có nghĩ như William Faulkner(1), rằng "Nghệ sĩ là người bị ma quỷ xúi giục"?(2)
William Faulkner là một tài năng lỗi lạc, đã đạt thành công lớn lao. Ông có cá tính mạnh mẽ, có quan niệm nghệ thuật độc đáo, và không ngại lời lẽ cực đoan. Còn mình - tôi nghĩ - mình chỉ là kẻ tầm thường, chẳng qua thấy người ta viết nên truyện hay thơ hay, thì mình đọc, rồi ham, rồi bị lôi cuốn mà liều lĩnh viết theo. Vớ vẩn vậy thôi. Thường tình thôi. Nếu có sự "xúi giục", thì chính những cái hay cái đẹp của thiên hạ xúi mình, không có ma quỷ nào.
2.
Herman Melville (3) phải đợi gần nửa thế kỷ sau khi mất mới nổi tiếng qua tác phẩm Moby Dick. Stendhal (4) chỉ bán được ba cuốn Le Rouge et Le Noir khi mới xuất bản. Còn ông từ thập niên 50 đến nay đã được độc giả ái mộ và giới phê bình đánh giá cao. Ông thấy mình có may mắn hay không?
Nói tới sự may mắn, chắc chị còn nhớ tới Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng. Nếu tôi có được một số độc giả chú ý, chẳng qua cũng như anh chàng Xuân Tóc Đỏ trong truyện ấy thôi.
3.
Trước 1975 nhà phê bình Đặng Tiến viết: "Võ Phiến là một nhân chứng thời đại, muốn chế riễu cả thời đại lẫn vai trò nhân chứng của mình, chế riễu bằng một nụ cười lặng lẽ. Và bên kia nụ cười, cuộc đời không còn gì nữa cả." Lời phê bình đó từ sau 1975 đến nay có còn đúng không?
Ông Đặng Tiến hiểu biết rộng, nhận định sâu sắc; nếu có dịp chúng ta nên đặt câu hỏi vừa rồi với ông Đặng Tiến để ông giải đáp thì thích hợp nhất. Mình mà tự tiện suy nghĩ về mình thường khi sai lầm: thiên hạ người ta cười cho.
4.
Trong bài phê bình về Nguyễn Mộng Giác (5), ông thú nhận "không tránh khỏi cám dỗ là luôn nhắc về quê hương Bình Định". Thưa ông nguyên nhân chính có phải là nỗi sợ hãi cô đơn như ông viết hay không "con người rất sợ cái lạ. Không gì kinh hãi bằng bị nhích ra khỏi chỗ quen thuộc. Tư bề đều dưng" (6).
Chị nói đúng: cô đơn đáng sợ hãi lắm. Nhưng dù sợ cô đơn hay không sợ, người địa phương nào vẫn thích nói về địa phương nấy. Người Huế nhớ Huế, người Hà Nội nhớ Hà Nội, người Quảng nhớ Quảng, người Vĩnh Long Cần Thơ nhớ Vĩnh Long Cần Thơ.. . Ai nấy nhớ và nói mê tơi về quê mình. Người Bình Định cũng vậy đó. Hàng năm cứ đến ngày họp hội ái hữu đồng hương thì dù ở xa xôi cũng kéo về họp, nghe giọng nói quen ăn món ăn quen là sung sướng rồi.
Nguyễn Mộng Giác với tôi là người cùng tỉnh. Bài phê bình chị vừa nhắc đến, nguyên là bài tựa viết cho cuốn truyện ngắn của Nguyễn Mộng Giác, cuốn Ngựa Nản Chân Bon. Gặp một tác giả đồng tỉnh là một niềm vui mừng, lại phát giác ra ở tâm hồn tác giả nọ một số đặc điểm địa phương đã làm nên cái đẹp của tác phẩm thì lý thú biết bao! Làm sao cầm lòng được? Phải nói về Bình Định chứ chị!
5.
Tại sao Tùy Bút(7) của ông lại chọn đúng tên một tác phẩm của John Steinbeck(8): Của Chuột và Người?
Tác phẩm của John
Steinbeck mà chị vừa nói, nhan đề của nó lấy từ mấy chữ trong một câu thơ của
Robert Burns, một thi sĩ Tô Cách Lan (Scotland) hồi hậu bán thế kỷ thứ XVIII.
Bài "To a mouse" của ông là một bài thơ danh tiếng viết dưới dạng lời nói với
con chuột mà một đường cày vừa làm bật vỡ cái hang. Bài thơ có câu đại khái đề
cập tới sự tan vỡ niềm ước mơ đẹp đẽ nhất của chuột và người. Đó cũng là điều
đã xảy đến trong cuốn truyện của Steinbeck. Hai người bạn nghèo cặp kè đi làm
công, một kẻ mơ ước dành dụm đủ tiền để sống thảnh thơi và nuôi một con thú
nhỏ làm bạn, ngày ngày ve vuốt bộ lông mượt mà của nó. Kẻ ngây ngô chỉ mơ được
chừng ấy hạnh phúc. Nhưng một hôm anh chàng khờ khạo mà quá vạm vỡ này lỡ tay
gây nên cái chết của một cô gái. Giấc mộng tan tành. Steinbeck mượn mấy chữ
trong câu thơ của Burns để nhắc đến sự trùng hợp nọ: trùng hợp ở cảnh vỡ mộng
tức tưởi.
Bài tùy bút của tôi viết nhân một chuyến đi Gia Nghĩa. Lúc bấy giờ là đầu thập
kỷ 70. Một số bạn sống tại địa phương đã kể cho tôi nghe đôi điều buồn bã. Kể
rằng Gia Nghĩa hồi đệ nhất cộng hòa đã được dự tính xây dựng thành một trung
tâm du lịch thứ nhì ở Cao nguyên. Đà Lạt là nhất, là trung tâm dành cho giới
du lịch ngoại quốc, tư bản, giàu sang; Gia Nghĩa sẽ là trung tâm hợp với khả
năng tài chánh của du khách trung lưu như công tư chức chẳng hạn. Bấy giờ số
người kéo đến sinh sống tại Gia Nghĩa có đến 52 nghìn. Sau biến cố chính trị
cuối năm 1963 tình hình an ninh suy đồi dần. Hai năm sau, dân số Gia Nghĩa chỉ
còn 28 nghìn người. Giấc mộng trung tâm du lịch Gia Nghĩa thành mây khói! Như
vậy, ở Gia Nghĩa bấy giờ tôi lại gặp một trường hợp tan vỡ giấc mơ nữa. Nhân
sự gặp nhau ở ý nghĩa vỡ mộng trong bài viết của mình và tác phẩm của J.
Steinbeck, tôi noi theo Steinbeck: là khi đặt nhan đề tôi mượn bốn chữ nọ để
nhắc lại ý thơ ngộ nghĩnh của Burns. Là dùng chút điển tích cho vui thôi.
6.
Nguyễn Hưng Quốc thấy ông chịu ảnh hưởng của Đào Duy Anh, André Maurois(9) . Bùi Vĩnh Phúc so sánh ông với Lâm Ngữ Đường(10). Nhiều ảnh hưởng đã tạo nên văn phong độc đáo của ông. Nhưng nhà văn Võ Phiến đã dí dỏm nói rằng "Nghề văn do trời cấp lai-xăng. Số mệnh cả!"(11) Ông có thấy trời bất công khi cấp cho mỗi người một số mệnh hay không?
Nếu câu nói của chị có thể hiểu rằng những ai không được Trời cấp lai-xăng hành nghề văn chương sẽ trách móc ông Trời, thì oan cho Trời lắm. Ở nước ta, xưa nay trong giới văn thơ mà có được sự nghiệp lẫy lừng nhất chắc phải kể tên Nguyễn Du. Vậy mà Nguyễn Du chỉ mong sao sau khi mình chết, trong thiên hạ có được một kẻ khóc mình. Như vậy rõ ràng hành nghề văn thơ có sung sướng gì đâu? Viết lách khi sống đã gian nan đáng thương, khi chết lại đáng khóc. Thế thì khỏi được cái số mệnh văn chương là nhất không nên oán Trời trách Đất.
Và khi không thoát khỏi, khi đã trót vương vào nghiệp viết lách thì mong sao viết đừng dở quá. Đã trót viết lách thì bớt dở chừng nào tốt chừng nấy. Do đó đối với bất cứ các vị nào đã có công dạy bảo mình, ảnh hưởng đến mình, để mình tránh bớt cái xấu cái dở, tôi đều biết ơn sâu xa.
7.
"Trong vòng 20 năm, người độc giả miền Nam lặng lẽ chuyển hóa từ nam ra nữ và họ còn bị trụt tuổi nữa"(12) . Ông có thể nói thêm về phái tính và tuổi tác của độc giả hiện nay?
Chị vừa nêu ra một vấn đề thú vị. Nhưng vì tôi không có dịp tìm hiểu kỹ về nền văn học đương đại hoặc trong nước hoặc ngoài nước, cho nên không có những hiểu biết rõ ràng để trình bày. Căn cứ trên đôi điều nghe thấy trong giới hoạt động về sách báo hải ngoại, chỉ xin gợi ra vài suy đoán:
Một số tiệm sách cho biết rằng bán chạy nhất hồi gần đây là các loại tác phẩm về chính trị và về tôn giáo. Thiết tưởng hai món ấy dù không phải thuộc độc quyền của đàn ông thì cũng không phải món sở trường của nữ giới.
Lại nghe một số trong các vị trong giới xuất bản phàn nàn rằng in sách mỗi ngày mỗi đắt, mà độc giả bây giờ đòi cỡ chữ trang sách phải lớn thêm. Thiết tưởng mắt thích cỡ chữ lớn mới đọc nổi không phải là đặc trưng của tuổi trẻ.
Vậy chuyển hóa tính phái và trụt thấp tuổi tác e không phải là chuyện xảy ra trong lúc này.
8.
Ông viết trong Tạp Bút(13): "Tiểu thuyết Tàu, Pháp, Nga, Mỹ, Nhật đều có bản sắc riêng. Một bản sắc riêng biệt như thế, thế hệ tiểu thuyết gia ngày nay còn đang sáng tạo cho Việt Nam.." Sau 26 năm ông thấy tiểu thuyết Việt Nam đã có bản sắc riêng hay chưa?
Đến nay, tiểu thuyết Việt Nam đã có ngót trăm năm lịch sử, hoặc đậm hoặc nhạt chắc hẳn đã có bản sắc riêng. Bản sắc như thế nào, điều ấy không đơn giản, không tiện nói qua loa trong đôi câu. Nhưng hiển nhiên là người viết tiểu thuyết Việt Nam ngày nay không bắt đầu như cụ Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Bá Học. Thậm chí cũng không bước những bước đầu tiên như Nhất Linh khi viết Hồng Nương hay Người Quay Tơ. Trong kho tàng tiểu thuyết Việt ngữ đã khá đồ sộ, người tiểu thuyết gia trẻ tuổi của chúng ta bây giờ ngoài việc có thể rút được những kinh nghiệm bổ ích, có lẽ lại còn có thể tìm thấy một bầu không khí thích hợp quen thuộc giúp mình tự phát huy bản sắc dễ dàng và mạnh dạn hơn các lớp tiền bối.
9.
Cũng trong Tạp Bút(14) ông nhận xét "Một số sự việc xảy ra cho thấy như thể là ngoài các người văn nghệ ra không còn mấy ai đọc tác phẩm văn nghệ nữa, và ngoài các người văn nghệ ra cũng không mấy ai buồn chú ý đến văn nghệ nữa." Lời nhận xét của ông có đúng cho tình trạng hiện nay tại hải ngoại hay không?
Như chị đã nhận thấy, là bài tạp bút vừa nêu ra được viết vào tháng Mười Một năm 1974: Chỉ còn năm tháng nữa thì miền Nam Việt Nam sụp đổ. Trong hoàn cảnh ấy sự sống còn của bản thân, sự tồn tại của chế độ, cái tự do của mọi người đang bị đe dọa trầm trọng. Thái độ của người trong nước bấy giờ đối với tác phẩm văn nghệ có mất hẳn quan tâm cũng dễ hiểu thôi.
Ở hải ngoại hiện nay, chúng ta gặp một hoàn cảnh khác. Quần chúng văn nghệ cũng không mấy đông đảo, nhưng lý do không phải là vì tình hình khẩn trương nữa, mà có thể chỉ vì lớp người ra đi từ những thập niên 70 - 80 thì tuổi đã cao, có kẻ quá cao, hay đã qua đời; còn lớp trẻ lớn lên ở ngoài nước thì vốn hiểu biết Việt ngữ chưa đủ để tham dự vào sinh hoạt văn nghệ.
Cũng có thể có những yếu tố khác nữa ảnh hưởng đến văn học hải ngoại mà tôi chưa có dịp suy nghĩ kỹ càng, không tiện phát biểu phiêu lưu.
10.
"Truyền thông và thương mãi tung rộng tác phẩm văn nghệ ra quần chúng bằng một cái đà rất mạnh mẽ nhưng đồng thời cũng hạ thấp nó xuống, tạo ra một thứ văn chương không phải là văn chương. Lấy gì làm dấu hiệu nhận ra cái văn chương tính của một công trình xây dựng bằng ngôn ngữ?" Xin ông cho biết dấu hiệu nào giúp ta nhận ra văn chương tính của một công trình xây dựng baằng ngôn ngữ.
Một công trình xây
dựng bằng ngôn ngữ, thế nào là có văn chương tính, thế nào là không? Đẹp đến
mức nào thì gọi là có nghệ thuật, dưới mức nào thì chưa? Có lẽ chúng ta không
nên lạc vào những lý luận dông dài xa xôi. Nên nói chuyện với nhau về những
điều cụ thể gần gũi. Những người tù ở các trại lao công cưỡng bách phải làm
việc nặng nề và ăn uống thiếu thốn, nên khao khát chất ngọt, đối với họ một
tán đường đen là quý báu; tán đường quý lắm, nhưng nói về tính "nghệ thuật"
thì nó không bằng chiếc bánh trung thu trong dịp thưởng trăng. Cũng như ở gáo
nước lạnh trong buổi trưa hè, tính nghệ thuật thấp hơn ở chén trà Long Tĩnh
mỗi sớm tinh sương. Cũng như ở cà phê bít tất trong ly nhựa, tính nghệ thuật
thấp hơn ở các loại cà phê gourmet, Starbucks, Pasqua...
Cái nghệ thuật tính trong thơ văn gọi là văn chương tính. Đại khái thì ở những
bài vè lưu hành rộng rãi đó đây không có văn chương cao bằng ở Truyện Kiều xứ
ta hay truyện Thủy Hử bên Tàu chẳng hạn.
Vừa rồi có nói tới mấy chữ "lưu hành rộng rãi" nhiều bài vè được lưu hành rộng rãi trong dân gian; và Kiều cũng là một tác phẩm lưu hành rộng rãi khắp dân gian. Vậy thì tầm phổ cập không làm suy giảm tính văn chương. Không cần phải lo rằng viết mà không được quần chúng yêu thích là viết không cao tài không lớn.
Mặt khác, sự trau chuốt, cầu kỳ quá đáng, mài dũa thận trọng quá đáng cũng không làm tăng tính nghệ thuật. Trở lại trường hợp nhà văn từng bị "ma quỷ" giục giã: William Faulkner ngã một chiếc xe cút kít xuống làm bàn viết, gần một cái máy phát điện kêu ình ịch liên lỉ, mỗi tối ông viết từ nửa đêm đến bốn giờ sáng, viết xong cả cuốn Trong Khi Tôi Hấp Hối (As I lay dying) một mạch sáu tuần lễ không sửa chữa gì. Cuốn truyện viết phăng phăng ào ào như thế thành một tuyệt phẩm; ở Mỹ sách đã được hoan nghênh, bản dịch ra Pháp ngữ lại được các tác giả lừng danh lỗi lạc tán thưởng nhiệt liệt. Bài thơ miệt mài trong bao nhiêu năm của thi sĩ Giả Đảo không hẵn được đánh giá cao hơn. Vậy viết kỹ hay viết "dối" cũng không hẳn đã có ảnh hưởng quyết định đến văn chương tính.
Một tác phẩm là nghệ thuật hay phi nghệ thuật, tính cách của nó có ngay từ khi được quan niệm, chứ không phải trong thể thức thực hiện. Nếu ta quan niệm một tác phẩm nghệ thuật và thực hiện thành công thì tác phẩm có văn chương tính; mặt khác nếu sách được quan niệm trong đầu với chủ tâm thương mãi, nhằm thỏa mãn nhu cầu giải trí, nhu cầu tò mò táy máy, hay bất cứ thứ nhu cầu nhảm nhí nào khác của độc giả thì nó rất hiếm tính văn chương.
Tác phẩm nghệ thuật, trong quan niệm đã không nhằm mục đích thương mãi, cho nên khi ra đời có thể nó được đón tiếp rộng rãi, mà cũng có thể bị quần chúng bỏ rơi. Nhưng dù bán mạnh hay bán yếu, sách hay vẫn là sách hay, vẫn là một thành công. Cuốn Trong Khi Tôi Hấp Hối của William Faulkner bản Pháp văn bán mười năm không tới tám nghìn bản, bán ba mươi năm chưa tới mười hai nghìn bản. Mặc kệ, danh tiếng của nó cứ vang lừng.
11.
"Sự mất mát trong văn học lớn lao đến nỗi một nữ sĩ nổi tiếng như Hồ Xuân Hương mà chỉ không đầy hai thế kỷ sau đã mất gần hết dấu vết..."(15). Nhưng gần đây, Hoàng Xuân Hãn và Phạm Trọng Chánh(16) đã phát hiện những điều lý thú và mới nhất về Hồ Xuân Hương. Ông có ý kiến gì?
Đặt ra câu hỏi "Hồ Xuân Hương nàng là ai?" tức là đã xác nhận tính cách mơ hồ của tung tích Hồ Xuân Hương. Trong vòng đôi ba chục năm gần đây đã có những tìm tòi tích cực, có kết quả tốt. Cụ Hoàng Xuân Hãn phát giác được nhiều điều quan trọng về Hồ Xuân Hương. Ở Mỹ, ông Nguyễn Ngọc Bích mới đây có bộ sách hai cuốn rất công phu. Chúng ta hi vọng người nữ sĩ tài hoa độc đáo này sẽ dần dần hiện ra rõ nét thêm.
12.
Phần lớn tác phẩm của ông đều viết rằng con người thật nhỏ bé xoàng xỉnh thảm hại và bơ vơ. Như thế thì cuộc sống có ý nghĩa gì không hay "không chừng là cái chơi thôi"(17)
Hết thiên niên kỷ này đến thiên niên kỷ khác, bao nhiêu bậc cao minh của nhân loại đã suy ngẫm về ý nghĩa của cuộc sống và chưa tìm được câu giải đáp. Hình như chưa có ai nẩy ra cái ý trao cho chúng ta trách nhiệm giải đáp thắc mắc lớn lao ấy. Nói rằng đời sống là cái chơi của ông Trời, đó chẳng qua cũng là một cách nói chơi thôi.
Gần đây triết gia Jean Francois Revel và người con tu sĩ của ông đã thảo luận với nhau đến nơi đến chốn về vấn đề này. Đức Đạt Lai Lạt Ma theo dõi và phát biểu: "Điều thực sự quan trọng không phải là đời sống có ý nghĩa hay không, mà là chúng ta có tạo được ý nghĩa cho đời sống của mình hay không."
Vậy đời sống có hay không có ý nghĩa, mặc nó. Ta nói chơi thôi, rồi cũng nên bỏ qua. Hãy để thì giờ ra sức tạo một ý nghĩa, cho đời sống nó... mừng!
13.
Nhà văn Võ Phiến đã kể lại rất cảm động buổi gặp gỡ cuối cùng giữa ông và học giả Nguyễn Hiến Lê: "Khuôn mặt đẫm lệ của ông hôm ấy in sâu trong trí tôi như hình ảnh bi thương của giới cầm bút miền Nam lúc bấy giơ.?#34;(18) Đó là kỷ niệm buồn. Còn kỷ niệm nào vui nhất trong đời viết văn của ông?
Kỷ niệm vui nhất trong đời văn của tôi xảy ra ngót đã sáu mươi năm. Đó là dịp lần đầu tiên tôi thấy bài mình viết được đăng lên báo.
Mở bài báo ra, trông thấy trước mắt bài viết của mình xuất hiện dưới dạng chữ in, thật là bỡ ngỡ, lạ lùng, ngạc nhiên. Chuyện không tưởng tượng nỗi. Mình cảm thấy tự dưng biến thành một kẻ khác. Không đến nỗi như con các hóa long, nhưng có thể như là một con cá bỗng hóa ra con nhái. Tức là một sinh vật sống dưới nước đột biến thành một sinh vật thuộc loài lưỡng thê, nhảy lên đất.
Sau biến cố động trời ấy, mình viết mãi viết mãi vẫn không biến hóa thêm thành một loài gì khác. Nhái bén vẫn cứ nguyên là nhái bén. Không có gì vui thêm.
14.
Ông đã viết câu kết rằng "Lần trước, Vũ Anh Khanh (bài thơ Tha La Xóm Đạo) mang giấc mơ ra Bắc, mở mắt tỉnh giấc hối hận quay về, chết trên dòng sông Bến Hải. Lần này không còn đâu là đất trở về nữa, dù chỉ về để chết"(19). Sau hơn một phần tư thế kỷ trên đất khách nhà văn Võ Phiến có còn mong trở về nữa hay không?
Chuyện về nước, tôi không mong mỏi nữa.
Về nước vào lúc này để cam chịu khuất phục dưới chế độ độc tài, không vui gì. Để góp tay cải thiện hoàn cảnh, tôi không nghĩ mình có đủ khả năng, còn đủ sức lực góp tay hữu ích. Còn như về để chết, thì... tưởng không cần thiết. Ở đâu, chết cũng "tiện" cả !
■ ■ ■
(1) William Faulkner Nobel 1949.
(2) Tiểu Luận của Võ Phiến, tr 122
(3) Herman Melville (1819-1891)
(4) Stendhal (1783-1842)
(5) Văn Học Miền Nam, tr. 1077
(6) Cảm Nhận, tr. 184
(7) Tùy Bút, tr 289
(8) Giải Nobel 1962
(9) Nguyễn Hưng Quốc - Võ Phiến, tr 19, 43
(10) Bùi Vĩnh Phúc, Lý Luận và Phê Bình, tr 134
(11) Cảm Nhận, tr 27
(12) Văn Học Miền Nam - Tổng Quan, tr 84, 85
(13) Tháng 3/74, tr 244
(14) Tháng 11/74, tr 169
(15) Văn Học Miền Nam - Tổng Quan, tr 21
(16) Hồ Xuân Hương - Nàng là ai?
(17) Thế kỷ 21, số 75, tr 57
(18) Trả lời phỏng vấn của Đào Huy Đán tháng 3/88
(19) Văn Học Miền Nam - Tổng Quan, tr 322
Lê Quỳnh Mai
Bài phỏng vấn nhà văn Võ Phiến trên đây đã được phát thanh ngày 29 tháng Mười, 2000 trong chương trình Văn Học Nghệ Thuật Đài Tiếng Nói Việt Nam - TNVN FM 103.3 Montréal, Canada do Lê Quỳnh Mai, Phân khoa Truyền Thông Báo Chí - Université de Montréal - thực hiện.
■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■
Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách
Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập