Nơi Trần Thị Ngh.
vận tốc làm cho người đọc giật mình: "Mặt mụ ta thấy ghét thật. Da căng bóng,
hai con mắt nhỏ, tóc chải xước ra sau túm lại thành cái búi củ hành chừa cái
trán trống trên đó một mụt ruồi bằng đầu đũa đậu lửng lơ giữa đôi chân mày đã
bị cạo trọc lóc để thay vào hai đường xăm vụng về. Đầu đít một mét tư, mụ ngồi
thun lại còn có mấy tấc sau lưng ông xe ba bánh, hai tay bấu hai bên yên.
Tưởng tượng từ đàng xa lao xe 100 phân khối tới mục tiêu, tôi có thể cày nát
mụ không kịp ngáp. Chắc chắn lúc đó mụ đang nhìn kẻ sát nhân trong cự li gần."
(trích Lạc Đạn, trang 148)
Đó là vận tốc của những ý tưởng độc ác xẩy ra trong lòng người.
Thường thường các nhà văn, do quan niệm nhân bản truyền thống, đặc biệt quan tâm đến những ý tưởng đẹp, thanh cao nơi con người. Ở Trần Thị Ngh. ngược lại, thường là những ý tưởng ác, những tính toán hèn hạ được ghi lại rất rõ ràng rành mạch.
Cái nhìn nhân bản cổ điển gắn liền với tinh thần luân lý đạo đức xã hội cổ điển, không mảy may chú ý đến con người như một thực thể độc lập và tự chủ tách rời khỏi hệ thống đạo đức xã hội. Cho nên nhà văn thường đề cao tinh thần đạo đức của con người phổ quát, và khi phải mô tả những ý tưởng xấu, người ta thường hay đắp lên một lớp sơn đạo lý, hoặc sự phán đoán của tác giả, hoặc qua cách gián tiếp nào đó, chỉ cho độc giả biết: đó là một điều ác, hoặc cố gắng biện bạch cho cái ác đó bằng một cội nguồn có tính cách tâm lý xã hội. Tóm lại, cái ác trong quan niệm nhân bản truyền thống phải được giải thích để độc giả hiểu đó là điều ác mà tìm một giải pháp hướng thiện.
Cái nhìn nhân bản hiện sinh, ngược lại, khảo sát con người trong tư thế độc lập, tự chủ và tương quan thiện ác cũng do chính bản ngã xác định qua phản ứng trước một tình thế nhất định, độc lập với hệ thống luân lý xã hội. Trong hệ thống tư tưởng hiện sinh này, con người tìm hiểu chính mình và nhận diện mình như một thực thể sống động, có thể độc ác mà cũng có thể thánh thiện. Ở Trần Thị Ngh. những nét ác, nét xấu trong các nhân vật được mô tả một cách chi ly. Bất chợt, nhân vật có một lúc nào đó thấy mình hơi bị "tốt" thì lập tức, cô ta hay bà ta phải xét lại xem cái tốt đó có thực không hay là ẩn sau cái tốt đó, có một hậu ý xấu xa nào. Nét đặc biệt của ngòi bút Trần Thị Ngh. là ở chỗ đó: tạo ra những nhân vật, xưng tôi, và cái "tôi" được Trần Thị Ngh. định nghĩa như sau: "Tôi thường tham dự mọi thứ với tư cách một người không phải là tôi. Cái tôi thực sự chỉ biết rình mò những vai trò do chính mình thủ diễn." (Lạc Đạn, trang 104). Câu văn này giúp người đọc hiểu rõ một vài chi tiết đặc biệt trong cách đặt biệt hiệu hoặc cách trình bày văn phẩm. Tỷ dụ: "Tại sao là Ngh. mà không phải Nguyệt Hồng. Tại sao bìa sau của cuốn truyện lại in tấm hình tác giả giơ hai tay lên che mặt?" Một sự nhị trùng nhân cách ít thấy trong văn chương; nhị hóa nhân cách không phải trong nghĩa tâm thần mà trong nghĩa sáng tác. Đó là một hình thức mổ xẻ hiện sinh con người trong tư thế rất đặc biệt: Tư thế Trần Thị Ngh. alias Trần Thị Nguyệt Hồng.
■
Tiểu thuyết hiện sinh xuất hiện ở miền Nam Việt Nam những năm 60, gần như cùng thời với sự phát triển ở Pháp. Ở thời điểm ấy, văn học Tây phương nhất là văn học Pháp, hội nhập vào xã hội miền Nam qua nhiều ngả: ngả đại học với những giáo sư triết học vừa du học Ấu châu (Pháp, Bỉ) về. Ngả văn chương với những nhà văn hầu như đại đa số vẫn còn chịu ảnh hưởng văn hóa Pháp. Những nguyệt san như Sáng Tạo, Văn, Vấn Đề, Bách Khoa v.v... có những cây bút từ Ấu châu gửi bài về như Trần Thiện Đạo, Cung Trầm Tưởng, Nguyên Sa, Nguyễn Văn Trung... Từ Pháp, thường trực gửi những thông tin văn hóa, những sách mới về nước như Tạ Trọng Hiệp. Họ là những người sống hẳn ở Pháp, hoặc đi du học, hoặc đi tu nghiệp một thời gian. Họ phản ánh những tiếng nói mới nhất trong văn học Pháp nói riêng và văn học Tây phương, nói chung, vào văn học miền Nam. Những cuốn sách mới ra lò ở Pháp được dịch và giới thiệu ngay. Giải Nobel cũng vậy. Có thể nói là ảnh hưởng văn học và triết học hiện sinh gần như trực tiếp và phát triển ở miền Nam cùng thời ở Pháp, tạo ra một phong trào khá rầm rộ, tạo ra một từng lớp trí thức trẻ dấn thân, có ý thức về tự do và bản ngã. Ảnh hưởng triết học hiện sinh cũng phần nào giải thích tính chất đa diện của xã hội miền Nam thời bấy giờ. Ai đánh nhau cứ đánh nhau. Ai phản chiến cứ phản chiến. Ai sa đọa cứ sa đọa. Ai đạo đức cứ đạo đức... Một xã hội có nhiều màu sắc đối chọi nhau, những từ ngữ "xuống đường", "nổi loạn", "buồn nôn"... trở thành một thứ nha phiến mới của tinh thần, được tiêu thụ trên nhiều cấp độ, trong trường học cũng như ngoài xã hội. Và trên bình diện văn chương, nhiều nhà văn dùng luồng tư tưởng mới này để sáng tạo. Họ đem vào văn chương một cách nhìn đời khác: mạnh bạo, trâng tráo, trắng trợn hơn và cũng sâu sắc, đau đớn hơn.
Cùng thời điểm ấy, một số nhà văn nữ xuất hiện như Túy Hồng, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ.... Ảnh hưởng văn chương hiện sinh đến với họ qua ngả gián tiếp. Dường như họ không trực tiếp tiếp cận triết học hiện sinh, nhưng cái chất "tự do" trong hành động, trong lối sống, trong sự nhận thức về mình, đã ngấm vào họ, vào vô thức của họ, khiến cách viết của họ khác với giọng văn lãng mạn tiền chiến: Một Túy Hồng "dửng dưng" nhìn vào đời tư của mình, vào đời tư của người thân để lạnh lùng phân tích một cách cay độc, không thương tiếc. Ở đấy, không có vấn đề nào là cấm kỵ. Không có vấn đề nào là không được bàn đến. Thật sự là thế hệ nhà văn nữ miền Nam những năm 60-70 đã tạo ra một chân dung khác của văn học, ho tiêu diệt chất lãng mạn tiền chiến trong cái nhìn ngổ ngáo, mỉa mai, trần trụi của con người hiện sinh, tự do phân chất bản thể của chính mình.
Nguyễn Thị Hoàng viết Vòng Tay Học Trò, phá những cấm kỵ của xã hội, về sự cách biệt tuổi tác giữa cô giáo và học trò, trong tình yêu. Thụy Vũ, Nhã Ca, với những cách khác nhau, đều đưa ra những cái nhìn mới về người phụ nữ: tự giải phóng mình khỏi những công thức và đạo lý xã hội. Quan niệm về cá nhân cũng đã rõ ràng hơn. Quan niệm về thân xác cũng minh bạch hơn. Họ chủ động trong đời sống, đời sống tình cảm cũng như đời sống thân xác.
Những ý thức sáng suốt về bản thân đưa đến thái độ: nhận xét về mình một cách mỉa mai và cay độc. Đó là sự tự trào, lật đổ chính mình. Lật đổ thần tượng tình yêu lý tưởng. Lật đổ những khóc lóc mùi mẫn về cuộc tình tan vỡ. Thể xác được đưa ra như một yếu tố tiên thiên (Nietzsche), đi trước tình cảm. Và sau sự trao đổi thể xác, người phụ nữa thường ráo hoảnh, dửng dưng, họ chôn sâu những tình cảm sướt mướt của mình trong sự bình tĩnh đáng ngại. Đó là cuộc cách mạng đích thực, giải phóng người phụ nữ khỏi cõi tù chung thân của đạo đức xã hội, của những giáo điều Khổng Mạnh về tứ đức tam tòng, nhưng đồng thời cũng đưa người phụ nữ vào đời sống xã hội một cách quyết liệt hơn. Họ không còn thủ phận trong gia đình mà phải xông xáo ngoài xã hội, nhận các trách nhiệm về hành vi, về cách ứng xử của mình. Những nhà văn nữ miền Nam, thập niên 60-70, vô tình hay hữu ý đã góp phần vào cuộc cách mạng của người phụ nữ, mà tại Pháp, Simone de Beauvoir là người đi tiên phong, cầm đầu ngọn đuốc tư tưởng khi bà viết tác phẩm Le deuxième sexe (Phái yếu), đặt vấn đề ý thức về bản thân như điều kiện tiên quyết của hiện sinh con người -người phụ nữ.
Nhưng phải nói ngay rằng những nhà văn như Túy Hồng, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Thụy Vũ,... phần lớn đều đã tiếp nhận hiện sinh một cách gián tiếp, nếu không muốn nói là "không cố ý". Họ vô tình mà hiện sinh, tạm gọi là vô thức hiện sinh. Ở cuối thập niên 70, một khuôn mặt trẻ xuất hiện: Trần Thị Ngh. Ngòi bút của Trần Thị Ngh., lần này đích thực có ý thức hiện sinh, nghĩa là có một phong cách hiện sinh trong chiều sâu, có những nhận xét sâu sắc về bản thể, về tự do, về hành động. Về tồn tại. Và tại sao tồn tại.
Trần Thị Ngh. dùng lối viết trung tính (écriture neutre) của thời đại mình đang sống. Tức là bút pháp lạnh lùng, không cho tình cảm nhuộm hồng, nhuộm xanh bầu trời, mà tác giả trải tình huống lõa thể trong tư thế nguyên khai để phơi bày sự thực.
■
Hơn hai mươi năm sau 1975, Trần Thị Ngh. lại xuất hiện với hai tác phẩm. Tập đầu nhan đề: Truyện Ngắn Trần Thị Ngh. do nhà xuất bản Văn Nghệ tại California ấn hành năm 1999 và tập thứ nhì mang tên Lạc Đạn Và Mười Truyện Ngắn, do nhà xuất bản Thời Mới tại Toronto, Canada, in năm 2000. Hai tập truyện chắt lọc khá tiêu biểu bản chất văn học của Trần Thị Ngh.
Sinh năm 1948. Năm 1968 tại Sài Gòn, vừa đúng hai mươi tuổi.
Trần Thị Ngh. bắt đầu viết văn năm hai mươi tuổi, năm mà tuổi trẻ toàn cầu tỉnh dậy với cách mạng mùa xuân 1968 (Mai 68). Truyện ngắn của chị đăng rải rác trên các tạp chí: Văn, Vấn Đề, Thời Tập, Thời Văn và được giới cầm bút chú ý ngay. Sau chọn thành một tập đem in, mang tên Những Ngày Rất Thong Thả, do nhà Trí Đăng tại Sài Gòn in năm 1975, nhưng chưa kịp phát hành thì gặp biến cố 30/4/1975.
Im lặng trong hơn hai mươi năm. Đến năm 1988, Trần Thị Ngh. xuất hiện lại trên văn đàn với những truyện ngắn mới. Ngòi bút sâu sắc và từng trải hơn. Đặt ra những vấn đề khó khăn hơn trong thân phận con người. Như vấn đề thân xác. Vấn đề tự tử. Vấn đề tội ác v.v...
Viết ít nhưng viết kỹ. Hành trình văn học của Trần Thị Ngh. trải dài qua những thăng trầm của thời đại. Xuất phát từ mạch sống của xã hội miền Nam những năm 60, một xã hội mở cửa cho những luồng tư tưởng đối chọi nhau, từ Mác Xít đến Hiện Sinh, và giới trẻ miền Nam, những năm 68, đã có những phản ứng bất ngờ đối với chiến tranh, đối với tình yêu và tội ác.
Sự đoạn tuyệt với cổ điển nơi Trần Thị Ngh. mở ra trên nhiều bình diện:
- Thứ nhất là sự nhận diện bản thân, đưa đến ý thức con người tự do và độc lập;
- Thứ hai, nhân diện tính chất nhạt nhẽo và chán chường của cuộc đời.
Những nhận diện này đưa đến việc đặt vấn đề: Đời đáng sống hay không đáng sống. Và tự tử là một chủ đề. Nhận diện tội ác là một chủ đề nữa trong tác phẩm Trần Thị Ngh. Những chủ đề này sẽ lần lượt được trình bày trong truyện dài Lạc Đạn và các truyện ngắn của Trần Thị Ngh.
Nếu đem cái tôi của Trần Thị Ngh. để đối chiếu với quá khứ lãng mạn tiền chiến mà ở đó cái tôi cá nhân đã được đề cao, thì người ta thấy rằng cái tôi tiền chiến vẫn là một cái tôi cổ điển bị ràng buộc bởi xã hội, bởi lễ giáo gia đình và bởi chính bản thân con người chưa trút được những ràng buộc của thành kiến nẩy sinh từ môi trường đạo đức xã hội.
Ở thời điểm mà triết thuyết hiện sinh có ảnh hưởng lớn trong đời sống tinh thần của tầng lớp trí thức, và đi sâu hơn vào đời sống xã hội, thì ý thức cá nhân đi xa hơn: Con người ý thức được sự tự do của mình, ý thức cá nhân này độc lập với thành kiến xã hội, độc lập với tất cả những sự áp đặt của các quyền uy hữu hình hay vô hình xung quanh. Ở đây là "sự tự do tự bản thân, do bản thân mà ra", chứ không phải là sự tự do bao cấp do cha mẹ hoặc xã hội hay chính quyền cho phép. Từ ý thức tự do này nẩy sinh mầm mống "hoang mang" và tuyệt vọng nơi con người.
Truyện dài Lạc Đạn và các truyện ngắn của Trần Thị Ngh. ít nhiều đưa ra những nhân vật có tính cách ý thức tự do như vậy. Nhân vật chính trong truyện dài Lạc Đạn -có thể hiểu như một Nguyệt Hồng âm bản- Dĩ nhiên là các hoàn cảnh sống có thể khác nhau, nhưng những suy nghĩ, những cách ứng xử trước hoàn cảnh của nhân vật chính phải là của một Nguyệt Hồng, một sinh viên hai mươi tuổi những năm 60-70, theo đợt sống mới, vừa đọc Bonjour Tristesse (Buồn Ơi Chào Mi) của Francoise Sagan. Nhưng cô sinh viên Nguyệt Hồng này đi xa hơn Francoise Sagan trong chiều sâu của ý thức. Nguyệt vượt khỏi đợt sóng mới hời hợt đương thời để có những suy nghĩa sâu sắc về bản thân. Nguyệt ý thức được vấn đề tự do phát xuất tự bản thân. Một Nguyệt rất phương Đông đối chọi với xã hội Việt Nam còn nhiều cổ lệ. Nguyệt trong Lạc Đạn tìm cách sống tự lập, độc lập. Và trách nhiệm với lối sống đó, Nguyệt ý thức được thân xác là mình chứ không phải của cha mẹ; thân xác là mình, mình muốn trao mình cho ai, vào lúc nào là do mình quyết định, chứ không phải do "cha mẹ đặt đâu con xin ngồi đấy" như trong giáo dục cổ điển. Nguyệt kể: "Tôi là một người có tâm sự, nhìn cuộc đời bi quan và với chút ít học thức hiểu biết nhờ sách vở tôi làm bộ khinh miệt đời sống, sống buông thả liều mạng, làm như tôi là một người đang bị nhiễm hóa bởi tất cả những cái đó rồi đột ngột tôi gặp tình yêu. Dự mầu nhiệm cải biến tôi thành ngọt ngào nhỏ nhẹ. Tôi làm như thể tôi không thể sống thiếu Dự. Thực ra tôi ý thức được hết những chuyện này." (Lạc Đạn, trang 38).
Nếu chúng ta chú ý đến câu văn trên đây thì thấy người viết -hay là Nguyệt-, nhân vật chính, rất tỉnh táo khi nhận diện những hành động của mình. Những chữ "làm như tôi", "tôi làm như", "tôi làm bộ" v. v... và cuối cùng là "Thực ra tôi ý thức được hết những chuyện này", tóm lại là gì? Là cái chuyện tình yêu mà Nguyệt kể ra ở đây, là một chuyện do chính nàng dựng lên, muốn cho cái anh chàng có tên Dự kia biết là nàng đang yêu anh ta. Nhưng thực sự Nguyệt yêu một người khác. Nguyệt yêu Trường, người anh rể họ. Trường dạy học, làm văn và làm báo. Nhưng Nguyệt lại chọn Dự, một lính thủy quân lục chiến mặc đồ rằn ri, một mẫu người hùng thời đại, cho cuộc gặp gỡ thân xác lần đầu. Và cuộc thử nghiệm này gần như vô cảm. Nguyệt viết: "Tôi nằm ngửa ngó ngược lên trần. Đêm ngoài tầm hiểu biết. Má ngủ chưa má. Má biết con đang ở đâu với ai không. Đêm ở xa má lo lắng. Không ai kéo chăn lên ngực con, má xót xa nghe con ho rúm ró vặn vẹo..." (Lạc Đạn, trang 43)
Như vậy thì ý thức "thân xác là mình" và "mình muốn trao mình cho ai là tùy mình" của Nguyệt, không hề chối bỏ tình mẫu tử. Mẹ cha là tác giả của thân xác, cũng như nhà văn là tác giả của tác phẩm. Nhưng khi tác phẩm đã ra đời rồi, nó trở thành một thực thể độc lập, nó có một đời khác không còn tùy thuộc vào tác giả nữa. Con người cũng là một tác phẩm nghệ thuật. Cha mẹ là tác giả. Nhưng khi đã vào đời, đã trưởng thành, nếu muốn thực sự trưởng thành, cá nhân con phải ý thức được rằng cuộc đời là cuộc đời của mình, thân xác là thân xác của mình. Nó không còn tùy thuộc vào sự quyết định của cha mẹ nữa. Mặc dù con phải cắt rốn. Con phải cai sữa, để trưởng thành. Điều này rất đớn đau.
Nguyệt trong Lạc Đạn là một cá nhân như thế, tự do và ý thức được sự tự do của mình. Nguyệt độc lập. Tự lập thân. Thử những cuộc tình khác nhau, kể cả sự đồng tính, với Thắm.
Người yêu thực là Trường, đứng ngoài, góp ý, đôi khi an ủi, đôi khi khích lệ. Đôi khi phân tích những hành động của Nguyệt. Tất cả xẩy ra một cách rất thẳng thắn và lạnh lùng.
Nguyệt thường cắt đứt những đoạn đời của mình bằng một số nhận thức sáng suốt, đại loại: "Tôi bỏ cư xá trước hết vì cảm thấy không thể tiếp tục đời sống hợp quần trong đó tôi xả thân bằng thiện chí giả dối. Chỉ là một cái vỏ mà thôi. Tôi tưởng tôi hạnh phúc với Thắm nhưng rõ ràng là mọi người đã đến với nhau với ít nhiều tư lợi." (Lạc Đạn, trang 68)
Nguyệt cũng nhận thức được những khó khăn trong nếp sống tự do và độc lập của mình: "Tôi phải đi lang bang kiếm tiệm ăn tiện đường đi về dù ở Huế đàn bà con gái ngồi quán một mình kể như được coi là phi thường" (trang 68). "Những ngày về chỗ ở mới (một mình) mới thấy mình hoàn toàn độc lập không cần phân bua chuyện chi với ai, không ai dòm ngó xét nét." (trang 69). Nguyệt nhận định về luân lý xã hội, tức luân lý cộng đồng: "Soeur Giám Đốc hể hả giảng những bài luân lý luyến ái sùi bọt mép." (trang 67)
Tuy nhiên sự tự do và độc lập đó phải trả giá: "Có những đêm tôi nằm im chịu trận, cố sua đuổi cơn sốt thịt da nhen nhúm, đùa đẩy hết những cảm giác có thể nhớ lại, đã được biết qua một lần ở đâu đó." (trang 69)
Nếu muốn nhìn về khía cạnh "nam nữ bình quyền", thì rõ ràng Nguyệt không đòi hỏi nữ quyền. Nàng thừa thông minh để hiểu: về quyền lực không thể đòi hỏi mà họ cho, mà Nguyệt xác định con người bình quyền bằng chính hành động. Xã hội Việt trong tiểu thuyết, từ trước đến nay người ta chỉ thấy những người đàn ông đi lang thang một mình, rồi đi ăn cơm tiệm một mình, về nhà trọ một mình. Bây giờ xuất hiện một nhân vật nữ làm những chuyện "phi thường" như vậy. Bây giờ tức là khoảng năm 68-70. Khi Trần Thị Ngh. viết Lạc Đạn.
Không phải chỉ có một mình nhân vật Nguyệt trong Lạc Đạn là có ý thức tự lập mà hầu như những nhân vật nữ khác đều ít nhiều có cá tính như thế. Chính bà mẹ của Nguyệt trong Lạc Đạn là một mẫu người "tự lập", "tự xác định" trong xã hội cổ. Cuộc đời bà truân chuyên, trải qua những thăng trầm đổi đời. Tây đô hộ rồi kháng chiến bùng nổ. Con bà đi theo cách mạng. Bà là mẹ chiến sĩ, nuôi bộ đội. Rồi gia đình bà bị liệt vào hạng cường hào, đấu tố...
Tất cả những xô đẩy này đã đưa ông Chính, chồng bà, đến chỗ nghiện ngập, gần như điên dại, nhưng bà Chính không hề bị quật ngã, bà vẫn đứng vững nuôi con, nuôi mười một đứa con đến khi không còn đứa nào cần đến bà nữa. Đó là một người đàn bà của thế hệ trước, thấm nhuần đạo lý thánh hiền nhưng tự mình thoát khỏi hoàn cảnh để đứng vững, để tự lập, làm cột trụ cho gia đình khi người chồng đã phải đầu hàng hoàn cảnh.
Tóm lại ý thức về bản thân không phải là sản phẩm của xã hội hiện đại hoặc triết lý hiện sinh. Nó tiềm ẩn trong con người ở những bà Trưng, bà Triệu, ở những bà vợ Tú Xương, "quanh năm buôn bán ở mom sông, nuôi đủ năm con với một chồng". Nhưng trong thời cổ điển, những ý thức về bản thân ấy chỉ được hiểu và trình bày, khai triển dưới con mắt vụ lợi của xã hội: hoặc là liều mình cứu nước như bà Trưng, bà Triệu, hoặc là xả thân nuôi gia đình như bà Tú Xương mà quên đi mặt thật của nó: đó là những người phụ nữ đã trực tiếp nhận thức được phần trách nhiệm của mình như một thực thể độc lập, không phụ thuộc vào một thứ quyền uy nào, lại càng không phải là những kẻ tòng phu, mà thật ra là họ được phu tòng trong cái nghĩa rất cụ thể ở các tác phẩm của Trần Thị Ngh.
Tính chất phái yếu (deuxième sexe) của phái nam được thể hiện trong những thực tại đôi khi rất khôi hài, ví dụ trong truyện ngắn Người Thuận Tay Trái, một công tử, con một, có dáng d?Artagnan hiện đại, được người vợ tả như sau: "Ngay đêm tân hôn chàng khóc. Sao vậy? Nhớ má. Tôi dỗ dành, ngủ đi, mai tôi đưa ông về nhà trọ thăm bà già." (Truyện Ngắn Trần Thị Ngh., trang 78). Hoặc trong Lạc Đạn, ông Chính, cha Nguyệt, là trường hợp tòng thê cổ điển: một thứ Tú Xương không văn tài. Rồi đến Trường, Dự, Tấn v.v... những người yêu hoặc người không yêu của Nguyệt đều là những kẻ "phụ tùng", hoặc là họ ngồi nhìn Nguyệt hành động để góp ý như Trường, hoặc họ chỉ là những thử nghiệm của Nguyệt như Dự và Tấn. Tóm lại, dưới cái nhìn của Trần Thị Ngh. xã hội dường như đảo ngược, tầng lớp được coi là độc quyền độc trị trong gia đình, tức là "phái nam phái mạnh" bị trở thành "deuxième sexe", phái yếu, với tất cả các hệ lụy của nó.
Từ sự lạnh lùng nhìn nhận "bản thân", xuất phát sự lạnh lùng nhìn cuộc sống, nhận thấy những nhạt nhẽo vô bổ trong cuộc sống hàng ngày: mọi cử động thể xác hay tinh thần của mình, của người, dường như chỉ là những vai trò đóng vội, diễn dở, sự chán đời xẩy ra triền miên, từ tuổi nhỏ. Một Trần Thị Ngh. trong âm bản. 11 tuổi uống thuốc ngủ lần đầu. 16 tuổi viết nhật ký, bắt đầu yêu và thù gia đình. 17 tuổi, uống thuốc ngủ và ngủ một mình trong phòng hai ngày không ai biết. Tóm lại nhiều lần tự hủy mà không chết. Đề tài tự tử, xoay đi xoay lại nhiều lần trong tác phẩm của Trần Thị Ngh.. như một phương cách xử lý đối với thân xác. Đó là một cái nhìn tuyệt vọng, vô cùng tuyệt vọng đối với nhân sinh.Nhưng do một đẩy đưa nào đó của hoàn cảnh, mọi chủ mưu tự hủy đều thất bại. Dường như hành động tự hủy thân xác không thể có trong điều kiện nhân sinh, ít ra là đối với Trần Thị Ngh. Song song với vấn đề tự hủy, tội ác cũng được nêu ra trong tác phẩm. Không phải dưới khía cạnh cáo trạng buộc tội mà trình bày một cách thản nhiên, những hành trình đưa đến tội ác.
Truyện ngắn Phòng Cho Thuê mô tả tội ác của một bà già không chịu nổi tính chất quân phiệt của người chồng, tìm cách giải quyết vấn đề. Truyện ngắn Khoanh Vùng là một tội ác khác, tội ác ẩn dụ của một người đàn bà tìm cách giết tiếng gà gáy, ẩn dụ những loại phóng thanh công cộng máy móc như tiếng gà gáy nửa đêm về sáng, bức bách người ta phải thức dậy để nghe trong giấc ngủ. Ở truyện ngắn Lexomil, kẻ giết người không chịu được "tiếng ồn rầm rĩ" suốt ngày đêm do một "mụ" hàng xóm có quyền uy gây ra.
Truyện của Trần Thị Ngh. đặt ra những vấn đề xã hội và con người, sự tự do của con người trong xã hội áp đặt hiện tại trong chiều hướng bi quan nhất.
Ở hai truyện ngắn mới nhất, Tuyệt Tác và Chín Biến Khúc Quanh Tuyệt Tác, đề tài được nhà văn khai triển hoàn toàn khác. Đó là một hình thức liêu trai mới: quan hệ giữa họa sĩ và tác phẩm, một quan hệ dục tính. Vừa Tú Duyên, vừa Dorian Grey. Một sự gặp gỡ Tú Duyên Giáng Kiều hiện đại. Với tính chất trung tính, văn phong gọn và sắc, nhà văn nói lên cái não trạng nhầy nhụa của người nghệ sĩ trong cơn hỏa mộng sáng tác.
Trần Thị Ngh. có thể là một trong những nhà văn giầu hướng sáng tạo nhất trong khoảng thời gian gần đây. Chị đưa ra những chủ đề rất khác nhau về những vấn đề trầm trọng của con người. Nhược điểm duy nhất là giọng của nhân vật còn quá gần gũi với mẫu người và với tiểu sử tác giả. Dù sao chăng nữa, người đọc tiếp nhận ở chị một hướng sáng tạo nhiều chiều mà hiện nay rất ít thấy hiện diện trong văn học Việt Nam.
Thụy Khuê
■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■
Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách
Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập