v.s. naipaul
nobel văn chương 2001

thạch hãn


 

Khi Hàn lâm viện Thụy Điển loan báo quyết định trao giải Nobel Văn chương cho nhà văn Anh gốc Ần độ là Sir V. S. Naipaul vào ngày 11 tháng 10 vừa qua, giới thưởng ngoạn văn chương toàn cầu không lấy gì làm ngạc nhiên cho lắm. Lẽ ra vinh dự này đã đến tay ông từ lâu. Sức sáng tác phong phú lẫn tài năng kiệt xuất của ông đã được xác nhận bằng nhiều giải thưởng văn học hiếm quý trong nhiều năm qua. Vì thế, khi nhận được tin báo từ Hàn lâm viện, ông chỉ ngạc nhiên vì thấy tên mình vẫn còn nằm trong danh sách ứng viên, sau nhiều năm tưởng đã không còn.

 

Sir V(idiadhar) S(urajprasad) Naipaul chào đời ngày 17 tháng 8 năm 1932 tại Chaguanas một thị trấn nhỏ trên đảo quốc Trinidad ở cực nam chuỗi đảo Tây Ần (West Indies) trong vùng biển Caribbean, trong một gia đình tuy xuất thân từ dòng dõi Bà la môn Ần độ nhưng nghèo. Nội tổ của ông từ miền Bắc Ần đến Trinidad làm phu đồn điền trồng mía làm đường. Thân phụ Seepersad Naipaul, vốn có tham vọng làm một nhà văn, nhưng đành an phận làm một thông tín viên cho tờ báo địa phương là Trinidad Guardian.

 

V. S. Naipaul lớn lên trong nghèo khó, gia đình dời về sống ở Port of Spain, thủ phủ của Trinidad khi ông được 6 tuổi. ở đây ông theo học ở Queen's Royal College. Năm 18 tuổi, ông được học bổng của chính phủ Trinidad cấp để theo học tại University College, Oxford, ở Anh. Đây là thời điểm quan trọng, vì tuy nghèo khó nhưng V. S. Naipaul mang nhiều tham vọng vươn lên với đời, lại được cha hết lòng khuyến khích theo đuổi nghiệp văn. Trong một bức thư gởi cho con đang du học ở Anh, Seepersand viết: "Đừng lo sợ khi mình là nghệ nhân. D. H. Lawrence là một nghệ nhân chính hiệu, và trong lúc này, con nên suy nghĩ giống như Lawrence. Hãy nhớ điều ông ấy thường nói 'Nghệ thuật là cho tôi.' "Sau này, trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí At Random do Tarun J. Tejpal thực hiện, yêu cầu ông mô tả thanh niên 18 tuổi V. S. Naipaul lúc vừa mới đặt chân lên đất Anh. Ông trả lời:

 

Đúng, tham vọng, vâng, điều đó rất quan trọng. Tôi muốn trở thành một người nổi tiếng. Tôi còn muốn làm một nhà văn nổi tiếng nhờ tác phẩm của mình. Điều phi lý về cái tham vọng này ở vào thời điểm đó nằm ở chỗ chính tôi cũng chưa biết là mình sẽ viết cái gì. Thật là phi lý. Tham vọng làm nhà văn đến trước khi tôi có đề tài để viết. Hôm nọ nói chuyện với nhà làm phim Shyam Benegal ở Bombay, ông ấy bảo mới 6 tuổi đã biết mình lớn lên sẽ làm phim. Tôi thì không khôn sớm như thế, mãi đến năm 10 tuổi tôi mới có ước muốn làm nhà văn.

Tôi được cấp một học bổng. Tôi phải học hành châm chỉ lắm mới đạt được học bổng đó, vì nếu không có học bổng, hoàn cảnh cực kỳ nghèo khó của gia đình tôi như thế làm sao tôi có thể bỏ đảo mà đi được. Vào thời đó, không mấy người có cơ hội đi ra khởi nơi sinh quán. Người ta buộc phải chôn chân vào nơi họ sinh ra. Học bổng của chính phủ thuộc địa cung cấp giúp cho những thanh niên học giỏi có nghề nghiệp vững vàng. Tôi muốn nói đó là một học bổng rất hậu hĩ. Về sau này có đến ba hay bốn học bổng như thế, dành cho nam sinh. Nếu anh học giỏi, đứng đầu một môn học nào đó, họ sẽ cấp học bổng cho, rồi còn bảo đảm sẽ cấp cho đến khi nào anh thành nghề anh chọn. Nghĩa là tôi có thể học thành kỹ sư, bác sĩ. Tôi có thể học bất cứ ngành nghề gì tôi muốn. Có mấy cậu giỏi toán, lại muốn làm bác sĩ nên phải học lại Hóa học ngay từ đầu mà họ cũng chấp nhận.

Riêng tôi chỉ muốn học Anh văn tại Oxford. Không phải là vì Anh văn, cũng không phải là vì Oxford. Nhưng chỉ vì nơi đó ở xa Trinidad, và chỉ vì trong ba bốn năm học xa, tôi nghĩ đến việc tôi muốn tìm hiểu nhiều hơn về chính mình, tôi sẽ tìm ra được chất liệu. Rồi một cách kỳ diệu nào đó, tôi sẽ trở thành một nhà văn. Thay vì chọn học trình bảy tám năm để theo đuổi một nghề nào khác mà vẫn được chính phủ bao cấp, tôi lại chọn học môn Anh văn tầm thường này. Nói như thế anh cũng hiểu, bằng cấp về ngành này chỉ là tờ giấy lộn. Chẳng có giá trị gì. Nhưng tôi đã đến Anh quốc trong tâm trạng đó, tham vọng thì nhiều mà ngu ngốc thì cũng không ít. Nhưng còn có thêm một điều nữa vô cùng quan trọng: Tôi bị những cái tủn mủn của một đời sống thuộc địa đè nén. Tôi lại còn bị những gì liên hệ đến gốc gác gia tộc Ần độ đè nén nữa. Những xung khắc gay gắt trong gia đình. Những tranh chấp nặng tính luân lý, cá nhân được phán xét, kết án dựa trên nền tảng đạo lý. Đó không phải là một xã hội bao dungỒcả cái thế giới thuộc địa lẫn cái thế giới Ần giáo tôi lớn lên đều như thế, và tôi muốn lìa xa những nơi đó. Tôi đã nhìn ra được rằng ở thế giới rộng lớn hơn bên ngoài hai nơi chốn đó, người ta quan tâm hay phê phán người khác như-họ-là, chứ không vì yếu tố gì khác.

 

Năm 1953, ông tốt nghiệp Cử nhân, rồi kể từ đó sống hẳn ở Anh quốc. Chỉ trừ mấy năm giữa thập niên 1950 làm thông tín viên cho đài BBC (1954- 56), sau đó làm bỉnh bút về tiểu thuyết cho tờ New Statesman (1957-61), ông sống hẳn về nghề viết văn. Thời gian theo học ở Oxford không phải là hoàn toàn êm ả. Ông băn khoăn trăn trở về gốc gác, thân thế cũng như chỗ đứng của mình trong thế giới Tây phương, ám ảnh bởi những ưu tư về thân phận đã có lúc đẩy ông đến vực thẳm của tuyệt vọng, đến nỗi toan tự vẫn, nhưng rất may là hơi đốt (gaz) đã không còn đủ để giết ông. Cũng trong thời gian theo học ở Oxford, ông gặp rồi thành hôn với Patricia Hale năm 1955. Cuộc hôn nhân kéo dài được gần bốn mươi năm thì Patricia qua đời vào năm 1996, sau một cơn bạo bệnh. Năm sau ông lại tục huyền với một nữ ký giả người Pakistan là Nadira Alvi.

 

Sự nghiệp văn chương của ông bắt đầu với tác phẩm The Mystic Masseur xuất bản năm 1957, viết về đời sống ở đảo quốc Trinidad. Hai năm sau, ông lại xuất bản Miguel Street, như một lời từ biệt vùng đất ông đã sinh ra và lớn lên. Tác phẩm gồm nhiều mảnh phác họa đầy màu sắc về đời sống đảo quốc, do một cậu bé đóng vai người kể chuyện, rất gần giống với cuộc đời thiếu niên của tác giả: kiếm sống bằng cách bán hàng rong, sau đó được xuất ngoại du học. Ông viết: "Tôi từ biệt tất cả mọi người, rồi bước nhanh về phía chiếc máy bay, không ngoảnh mặt nhìn lại, chỉ nhìn vào chiếc bóng của tôi đổ dài trước mặt, một thằng lùn đang nhẩy múa trên sân bay." Đây cũng là quyết tâm của tác giả dứt bỏ nơi chốn ông đã sinh ra và lớn lên để tìm một chỗ đứng cho mình dưới ánh mặt trời và trong một thế giới bao la hơn.

 

Năm 1961, ông xuất bản A House for Mr Biswas, (Một căn nhà cho Ông Biswas), cho đến nay vẫn được xem là tuyệt tác. Câu chuyện về Ông Biswas dựa trên thân thế và cuộc đời của người cha, được V. S. Naipaul thuật lại với đầy đủ những nét bi hài. Ông Biswas, cũng giống như thân phụ của tác giả, tuy thuộc dòng dõi quý tộc Bà la môn ở Ần độ, nhưng gia đình lại lưu lạc tha phương cầu thực trên một đảo quốc ờ trong vùng Tây Ần (West Indies), sinh ra và lớn lên trong nghèo khó, suốt đời chỉ mong có được một căn nhà riêng cho mình. Thân phận của một người bị bật gốc khỏi quê hương của mình được tác giả tô vẽ đậm nét, qua quá trình tìm lại căn cước với những ước vọng tuy tầm thường nhưng vô cùng khẩn thiết của ông Biswas, mang tham vọng làm nhà văn nhưng đành phải bằng lòng với nghề làm báo, chống chọi với những khó khăn của một cuộc sống vất vả nghèo nàn. So sánh Ông Biswas với thân phụ của mình, V. S. Naipaul cho biết: "Bố tôi là một người sâu sắc hơn về mọi phương diện. Nỗi thương khó của ông cũng sâu đậm hơn những gì người kia có thể diễn tả. Nhân vật dựa trên bố tôi, nhưng không hẳn là người thực." Về sau này, Naipaul trở lại với cuộc đời của bố trong một tác phầm khác với nhiều chi tiết hơn qua liên hệ cha con trong Between Father and Son (1999), gồm những thư từ giữa hai người vào đầu thập kỷ 1950.

 

Naipaul là một người đi nhiều, và viết nhiều du ký. Năm 1961, ông được chính phủ Trinidad cấp một ngân khoản để du lịch nhiều nơi trong vùng biển Caribbean và Nam Mỹ. Những năm tiếp theo trong hai thập kỷ 1960 và 1970, ông thăm viếng Ần độ, Nam Mỹ, Phi Châu, Iran, Pakistan, Mã Lai á và Hoa Kỳ. Kết quả của những chuyến du hành là nhiều tác phẩm ghi lại những nhận xét của ông về nơi ông đã đến, như India, A Wounded Civilisation (Ần Độ, Một Nền Văn Minh Bị Thương Tật) xuất bản năm 1977, ?A Bend in the River (Khúc Quanh của Dòng Sông) xuất bản năm 1979, viết về những suy đồi của Phi châu, với những nét vẽ rất giống với cảnh trí và đời sống ở Zaire hoặc Uganda. Người kể chuyện là Salim, một người theo Hồi giáo, xuất thân từ một gia đình thương buôn người Ần độ lập nghiệp hàng trăm năm ở Phi châu. Anh mở một tiệm buôn trong một thị trấn ngay nơi khúc quanh của một dòng sông, làm ăn rất phát đạt, nhưng lại chẳng có tương lai ở trong một xứ do một Ông Lớn (Big Man) cai trị suốt đời. Naipaul không mấy thiện cảm với các quốc gia thuộc thế giới thứ ba, và thường nói rõ những điều mình chê trách về họ trong các tác phẩm thuộc loại du ký này. Derek Walcott, nhà thơ được giải Nobel năm 1992, có lần đã nói "nếu những lời châm chích của Naipaul nhắm vào người da đen đó mà lại chỉa vào người Do Thái, chắc sẽ không có mấy ai dám khen tính bộc trực đó nữa đâu."

 

Những tác phầm khác của ông về thể loại này cũng làm nhiều người không ưa vì những chỉ trích và cái nhìn tiêu cực của ông đối với Hồi giáo. Hai tác phẩm quan trọng viết về Hồi giáo, tuy cách nhau đến gần hai chục năm, vẩn phản ảnh cái nhìn ít thiện cảm của ông về Hồi giáo và các quốc gia theo Hồi giáo ở Trung Đông, Phi Châu và những nơi khác trên thế giới. Cuốn Among the Believers: An Islamic Journey, xuất bản năm 1981, bị những người theo Hồi giáo lên án là đã có cái nhìn thiển cận, hẹp hòi về đức tin của họ, Cuốn Beyond Belief: Islamic Excursions Among the Converted Peoples, xuất bản năm 1998, tường thuật một cách tỉ mỉ những chuyến tham quan các quốc gia theo Hồi giáo ngoài khối Ả rập như Nam Dương, Ba tư, Pakistan và Mã lai á. Qua đó, Naipaul cố gắng tìm hiểu cặn kẽ về khuynh hướng Hồi giáo trọng căn (Fundamentalist Islam) vốn khắt khe, quá khích và vô cùng giáo điều khiến cho thế giới Tây phương xa lánh. Tại các nơi ông đi qua, từ Ba tư cho đến Nam Đương, đâu đâu ông cũng nhìn thấy những bẽ bàng, nhiều khi phẫn uất, của những người đã lỡ tin để rồi thấy mình bị các giáo sĩ (mullah) lợi dụng cách này hay cách khác cho những mục tiêu nhiều khi không dính dáng gì đến đức tin. Ông còn ghi lại những nỗ lực của những cá nhân ông có dịp tiếp xúc, cố gắng tìm kiếm một tương lai tốt đẹp hơn cho Hồi giáo. Giới trí thức Hồi giáo phản ứng mạnh mẽ về hai cuốn sách này của Naipaul. Điển hình là những công kích kịch liệt của Edward Said, giáo sư văn chương tại Đại Học Columbia, New York, trong một bài viết đăng trên ấn bản điện tử của tuần báo Al-Ahram của Ai Cập, số 389, tuần lễ từ 6 đến 12 tháng 8 năm 1998, dưới nhan đề "Một thảm họa trí thức" (An Intellectual Catastrophe). Edward Said phản bác lý luận của Naipaul khi nhà văn cho rằng Hồi giáo Islam chỉ dành cho người Ả rập, và những ai không phải người À rập (người Ba tư, Nam Dương, Pakistan, Mã lai á, Phi luật tân, chẳng hạn) mà theo Hồi giáo đều chỉ là những kẻ cải đạo, và đã chối bỏ nguồn gốc, tách lìa khỏi quá khứ của mình, sẽ phải chịu những hậu quả dành cho những kẻ đã không còn luyến tiếc gì nguồn gốc của mình. Edward Said viết:

 

Vậy thì tại sao ông ấy [Naipaul] lại trở về vùng đất đó hai mươi năm sau để viết một cuốn sách vừa dài dòng vùa nhàm chán như thế? Tôi chỉ có thể đưa ra một câu trả lời duy nhất: ông ấy nghĩ lần này mình có một cái nhìn mới và quan trọng về Hồi giáo. Cái nhìn mới đó là: Nếu bạn không phải là người Ả rập - đạo Islam chỉ dành riêng cho người Ả rập-thì bạn chỉ là một kẻ cải đạo. Những người Mã lai, Pakistan, Ba Tư hay Nam Dương theo dạo Islam đều phải chịu số phận của những kẻ không có đạo chính hiệu. Đối với những người đó, Hồi giáo là đạo theo, tôn giáo đã tách lìa họ khỏi truyền thống, khiến họ bơ vơ, chẳng ở bên này mà cũng chẳng thuộc bên kia. Điều Naipaul tìm cách ghi lại trong cuốn sách mới của ông chính là số phận những kẻ cải đạo, những kẻ đã đánh mất hẳn quá khứ của mình mà lại không được thêm gì khi theo đạo mới, có chăng chỉ thêm bối rối, thêm khổ đau, thêm nỗi bất lực đến khôi hài, tất cả đều là hậu quả của việc cải đạo theo Hồi giáo. Lối lý luận khôi hài này có thể dùng rộng ra để bảo là ai không phải là người có sinh quán ở La Mã thì cũng chỉ là kẻ cải đạo theo đạo Chúa, những người Ý, Tây Ban Nha, Mỹ Latinh hay Phi luật tân có theo đạo Chúa thì cũng chỉ là kẻ cải đạo và vì thế bị tách lìa khỏi quá khứ của họ. Và cũng theo Naipaul, những người theo Anh giáo không phải là người Anh gốc cũng chỉ là những kẻ cải đạo, giống như người Mã lai á, người Ba tư theo Hồi giáo, sẽ phải chịu một đời bắt chước kẻ khác và bất khả vì họ là những kẻ cải đạo." Said kết luận "Những ám ảnh của ông về Hồi giáo đã khiến ông ngừng tư duy, để thay vào đó một cuộc tự sát tinh thần bị cưỡng ép tái diễn nhiều lần theo một công thức. Đây là điều tôi muốn gọi là thảm họa trí thức.

 

Nhiều nhà phê bình và điểm sách đồng ý với quan điểm của Said, nhưng họ vẫn không quên xác nhận tài năng Naipaul như là một nhà văn lớn sáng tác bằng tiếng Anh. Ngoài cái nhìn thiên lệch của ông về Hồi giáo, ông còn nặng lời phê phán các quốc gia Á Phi, những vùng đất mà ông gọi là những nơi tăm tối (dark places). Những cuốn du ký của ông mô tả tỉ mỉ chi tiết những nơi ông đã ghé qua, từ sinh hoạt thường ngày của dân bản xứ cho đến những suy nghĩ của ông về văn hóa (hay thiếu văn hóa) của những dân tộc nhược tiểu vừa thoát khỏi ách thống trí của chế độ thực dân vào hậu bán thế kỷ trước, hay đang còn chập chững những bước vấp ngã sau những cuộc cách mạng giải phóng đẫm máu. Có thể nói những du ký chiếm phần lớn sự nghiệp sáng tác của ông. Nhiều nhà phê bình thuộc các quốc gia đệ tam đặt vấn đề: Nếu Naipaul đã thấy được nhiều sai trái nơi các quốc gia đó, sao ông ta không dấy động một phong trào hay một cuộc cách mạng để sửa sai, mà cứ kịch liệt chỉ trích phê phán? Nhưng chính Naipaul cũng đã nhiều lần khẳng định: việc cải tạo xã hội không bao giờ là trách nhiệm của một nhà văn. Không ít nhà phê bình đưa ra những cái nhìn thiện cảm hơn thế về hai cuốn sách này. Michael Ignatieff trong một bài điểm sách viết cho New York Time số ra ngày 7 tháng 6 năm 1998, xác nhận Beyond Belief không phải là một cuốn sách chống Hồi giáo (anti-Islamic), mà nó lại còn cho thấy "tác giả có nhận thức sâu sắc về cách thế những tín đồ chân chính giải quyết những bất hòa giữa giấc mơ có một đời sống đạo vị và một hiện thực rất phàm tục." Cuốn sách không phải là một biện luận phê phán, nó là tập hợp của nhiều chuyện kể, được tác giả thuật lại với nhiều chi tiết, nhiều cảnh trí đối chọi nhau trong bối cảnh văn hóa và truyền thống nhiều khi bị đức tin tôn giáo che lấp. Điều ông công kích trong các tác phầm này nhắm vào những khuynh hướng cực đoan, quá khích của những người theo khuynh hướng trọng căn (fundamentalist), biến đức tin tôn giáo thành một thứ vũ khí để họ giải quyết việc đời.

 

Năm 1987, Naipaul xuất bản The Enigma of Arrival (Nỗi khổ khi đến), được xem như một cuốn tự truyện, viết về khoảng thời gian ông sống ở Anh, gần Stonehenge. Ông khai thác đề tài tha hóa, lưu vong và sự tác hại của chủ nghĩa đế quốc đối với các quốc gia thuộc thế giới thứ ba. Vì thế, nhiều nhà phê bình so sánh ông với Joseph Conrad, một nhà văn Anh gốc Ba Lan, cả hai cũng khai thác chủ đề chủ nghĩa thực dân và đế quốc ở các quốc gia á Phi.

 

Tác phẩm mới nhất, xuất bản ở Hoa Kỳ vào tháng 10 năm nay, ngay sau khi có tin ông được giải Nobel là cuốn Half a Life (Nửa đời). Nhân vật chính là Willie Someset Chandran sinh ở Ần độ. Willie dến Luân đôn, sống cuộc đời lang bạt, xuất bản một cuốn sách, lấy Ana, một người đàn bà lai Phi Châu làm vợ, rồi theo nàng về sinh sống tại cơ ngơi gia đình vợ ở Phi châu. Willie đang gặp những khó khăn với gia tộc, phạm một điều cấm kỵ khi lấy Ana làm vợ vì anh vốn xuất thân giai cấp Bà la môn. Anh là kẻ đã phản kháng chống lại truyền thống gia tộc,, chống lại ý nguyện của cha. Nhưng ở quê vợ, anh cũng chỉ là một kẻ đứng ngoài, trong lúc chủ nghĩa thực dân đang lần hồi tan rã. Sau 18 năm chung sống, Willie quyết định bỏ vợ để tìm căn cước đích thực của mình. Anh chỉ sống được nửa đời, một cuộc đời như bóng mơ. Tác giả để ngỏ kết cuộc mà không cho người đọc biết chuyện gì sẽ xảy ra cho Willie.

 

Với một số lượng tác phẩm đồ sộ và tài năng vượt bực được xác nhận bằng nhiều giải thưởng văn chương cao quý trước khi được giải Nobel, V. S. Naipaul sống hẳn bằng nghề viết văn, thanh đạm và khiêm tốn. Ông sống ở miền quê Wilshire cô tịch để được yên tĩnh suy nghĩ và viết văn. Ông có một trí nhớ dai, những gì xảy ra trong đời ông đều có thể nhớ vanh vách. Ông ham đọc sách, lại có thể trích dẫn nhiều câu, đoạn từ những cuốn sách ông đã đọc mấy năm trước. Tính tình nghiêm nghị, ông không phải là người dễ trò chuyện. Ngay cả Paul Theroux, một nhà văn Mỹ trước đây đã từng quý trọng ông như một bậc thầy, có một liên hệ thân mật trong nhiều năm với ông, gần đây cũng đã chấm dứt tình bạn kéo dài 30 năm vì cho ông là một kẻ trịch thượng. Paul Theroux còn dành nguyên một tác phẩm, cuốn Sir Vidia's Shadows, đề thuật lại thật nhiều chi tiết về tình bạn giữa hai người, qua nhiều nơi trên thế giới, kéo dài trong ba thập niên khởi đầu từ một buổi gặp gỡ tình cờ ở Uganda vào năm 1966, để rồi cuối cùng Paul Theroux tìm được tự do khi ông "vượt ra khỏi chiếc bóng của Vidia."

 

Hàn lâm viện Thụy Điển công bố quyết định trao giải Nobel Văn chương cho Naipaul ngày 11 tháng 10, 2001, nghĩa là đúng một tháng sau ngày nước Mỹ bị khủng bố. Cả thế giới chưa kịp hoàn hồn khi chứng kiến cảnh hai tòa nhà cao nhất thế giới dùng làm Trung Tâm Thương mại thế giới ở Nữu Ước, và Bộ Quốc Phòng ở Washington D.C, bị không tặc cướp máy bay dân sự rồi lao vào khiến phát nổ, cháy rồi làm sụp, chôn vùi hàng ngàn người đang làm việc ở bên trong cũng như đang bận rộn cứu chữa nạn nhân. Vì thế, dư luận lại thêm bàn tán về quyết định có tính chính trị của Hàn lâm viện Thụy Điển khi đã chọn một tác giả có cái nhìn không mấy thiện cảm về Hồi giáo cũng như các quốc gia ở Trung Đông. Những người cho rằng hàn lâm viện càng ngày càng quan tâm đến thời sự khi họ quyết định người được giải. Họ trưng bằng cớ: Nhà thơ Seamus Heany được giải đúng lúc nỗ lực tìm kiếm hòa bình cho Ái nhĩ lan bước vào khúc quanh quan trọng nhất, nhà văn Nam phi Nadine Gordimer nhận danh dự ngay khi Nam Phi chấm dứt nạn kỳ thị chủng tộc (apartheid); và mới năm ngoái đây nhà văn Pháp gốc Trung Hoa Cao Hành Kiện, một nhân vật bị nhà cầm quyền Bắc Kinh liệt vào hạng persona non grata được hàn lâm viện vinh danh. Tuy thế, hầu như không ai phản bác hoặc đặt vấn đề về giá trị và sự nghiệp văn chương của V. S. Naipaul. Trong vòng bốn mươi năm, ông sáng tác hơn 20 cuốn sách, gồm truyện ngắn, truyện dài, và du ký. Ông cũng đã được trao các giải thường văn học tiếng tăm khác như Booker Prize cho cuốn In a Free State năm 1971, và là người đầu tiên nhận giải David Cohen British Literature năm 1993. Nữ hoàng Anh còn phong tước Hiệp sĩ (Knight) cho ông năm 1989, và từ đó tên ông có thêm tước hiệu Sir ở đằng trước. Giải Nobel văn chương năm nay trị giá một triệu Mỹ kim, sẽ được trao vào thượng tuần tháng 12 như thường lệ.

 

Thạch Hãn

 

Tác phẩm đã xuất bản, sắp theo thứ tự năm xuất bản

* The Mystic Masseur, 1957

* The Suffrage of Elvira, 1958;

* Miguel Street, 1960;

* A House for Mr Biswas, 1961

* The Middle Passage: Impressions of Five Societies - British, French and Dulch in the West Indies and Soulh America,1963

* Mr Stone and the Knight's Companion, 1963

* An Area of Darkness, 1964

* The Mimic Men, 1967

* A Flag on the Island, 1967

* The Loss of El Dorado: A History, 1970

* In a Free State, 1971

* The Overcrowded Barracoott and Other Articles, 1972

* Guerrillas, 1975

* India: A Wounded Civilization, 1977

* The Perfect Tenants and The Mourners, 1977

* A Bend in the River, 1979

* The Return of Eva Peron, 1980

* A Congo Diary, 1980

* Among the Believers: An Islamic Journey, 1981

* Finding the Centre, 1984

* The Enigma of Arrival, 1987

* A Turn in the South, 1989;

* India: A Million Mutinies Now, 1990

* A Way in the World, 1994

* Beyond Belief: Islamic Excursions Among the Converted Peoples, 1998

* Half a Life, 2001

 

■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■

Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách

Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập