chúng ta lơ là
với văn học á châu đã quá lâu

tạ quốc tuấn


 

Ban biên tập tạp chí Văn Học trong Thư Tòa Soạn số báo 183 tháng 7/2001 đã có nhận xét rằng các nhà văn học Việt-nam "chỉ quan tâm đến các biến chuyển trong sinh hoạt văn hóa Tây phương, nhất là những nước có ảnh hưởng chính trị đến VN như Pháp, Hoa-kỳ, Nga", đến độ "biết rõ một vụ ái tình lẻ của một nhà thơ Mỹ", nhưng lại "lơ là với những biến chuyển của các dân tộc sống gần kề" nên đã "mù tịt về tình trạng khốn khổ của những nhà văn Đài-loan khi phải bỏ viết lách bằng tiếng Nhật để học lại từ đầu tiếng Hoa." (tr. 2)

 

Nhận xét này rất đúng và chúng tôi muốn thêm một ý nữa là chúng ta đã lơ là chẳng những với cá nhân các nhà văn học mà còn toàn thể nền văn học của từng nước Á-châu nữa.

 

Thực vậy, xưa kia khi còn ở trong nước hay nay đang sinh sống ở ngoại quốc, thử hỏi có mấy nhà văn học hay nghiên cứu văn học người Việt-nam đã quan tâm đến văn học của các nước láng giềng, lân cận nhất và có liên hệ lâu đời nhất với Việt-nam là Ai-lao và Cao-miên. Ngay cả nước có cùng chung một nguồn văn hóa, một gốc văn tự cổ với chúng ta, và, theo nhiều người, còn có con cháu của một dòng họ đã từng cai trị Việt-nam là họ Lý vẻ vang lẫy lừng, là Triều-tiên (còn gọi là Cao-ly hay Hàn-quốc), thế mà chưa có mấy ai, nếu không thể nói là không có ai, nghiên cứu, viết về văn học nước này hay dịch các tác phẩm văn học của nước này sang Việt ngữ để mọi người có thể thưởng thức, học hỏi. Còn nói chi đến văn học của các nước á-châu khác như Thái-lan, Mã-lai-á, Tân-gia-ba, Phi-luật-tân, Nam-dương (Indonesia), Ba-tư, và xa hơn nữa là các nước Trung-đông, Cận-đông, v.v.

 

Chúng tôi cũng đồng ý là ít nhất có vài nhà văn học và nghiên cứu văn học người Việt-nam đã quan tâm đến văn học của Ấn-độ, Nhật-bản, và nhất là Trung-quốc.

 

Tuy nhiên, số người quan tâm đến văn học Ấn-độ lại rất ít, lác đác vài người, và những người này lại chỉ chú ý đến có một người và những tác phẩm của người đó là Rabindranath Tagore, hay, quá lắm là tác giả của tác phẩm Kama Sutra thôi. Họ không quan tâm, nếu không thể nói là không hề biết đến các nhà văn học khác đã đóng góp rất nhiều cho văn học Ấn-độ xưa cũng như nay.

 

Chẳng hạn có ai biết đến và tìm hiểu tại sao nhà văn Ấn-độ Prem Chand được kính trọng nhất ngay từ đầu thế kỷ thứ 20, tác giả của 300 truyện ngắn, 12 truyện dài, vài vở kịch, chuyện phim, và hàng chục luận văn. Ngòi bút ông mạnh đến nỗi chính phủ thuộc địa Anh khi còn cai trị Ần-độ đã coi ông là một đe dọa lớn lao và năm 1910 đã cho đốt hết các tác phẩm của ông.

 

Hay như C. Rajagopalachari, người được các nhà văn học đương thời ở nam bộ n-độ tôn là "niên trưởng văn học" (literary dean); như Khushwant Singh, tác giả được các nhà văn học và nghiên cứu văn học người Âu-Mỹ rất ưa chuộng và có nhiều tác phẩm được dịch sang ngoại ngữ hay được chọn in trong hầu hết các tuyển tập văn học quốc tế; như Khwaja Ahmad Abbas, tác giả của vài chục tác phẩm viết bằng tiếng Urdu, ngôn ngữ quan trọng thứ nhì ở Ần-độ hiện tại (sau tiếng Hindi) và phần lớn đã được dịch sang hơn một chục ngoại ngữ cũng như sang nhiều thổ ngữ Ấn-độ khác.

 

Còn về phía thi ca, thử hỏi có nhà văn học hay nghiên cứu văn học người Việt-nam nào để ý tới G.S. Sivarudrappa, nhà thơ viết bằng tiếng Kannada, một trong những thổ ngữ quan trọng của vùng Bombay, và đã dung hòa một cách khéo léo thi ngữ và các hình tượng mới với truyền thống thi ca cổ điển Ần-độ cùng là phát triển các âm vận và hình thức thi ca mới.

 

Hay có ai biết đến Aruda (tức Bhagavatula Sankara Sastri), một trong những thi sĩ danh tiếng viết bằng tiếng Telugu, ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Dravidian ở nam bộ Ấn-độ, người rao giảng một cách giải thích khác về thuyết nhân quả (karma). Ần-độ còn có Sahir Ludhianvi, thi sĩ của tình yêu nhân loại và tình yêu nam nữ và cũng là người hô hào xã hội n-độ nên có một thái độ tự do hơn và bình đẳng hơn trong quan hệ giữa con người và con người.

 

Đấy là chưa kể những người như nhà văn nữ, kịch tác gia và ký giả Dina Mehta, người đã hai lần trúng giải thưởng về kịch (năm 1968 và 1976) và các truyện ngắn của bà đã được đăng trong các tạp chí ở n-độ, Anh, Hoa-kỳ, Nam-Phi, Hương-cảng, Úc. Hoặc như Amrita Pritam, nhà văn và nhà thơ nữ đầu tiên được trao Giải Thưởng Sahitya Akademi (giải thưởng văn học cao nhất của n-độ) năm 1956 và đã bắt đầu sáng tác từ năm mới 11 tuổi. Hay là nhà văn nữ Bharati Mukherjee có tập truyện ngắn Darkness được New York Times Book Review coi là một trong những sách hay nhất trong năm, một số truyện ngắn khác của bà được in trong Best American Short Stories 1987, tác phẩm The Middleman được trao giải thưởng 1988 National Book Critics Circle về bộ môn tiểu thuyết và có nhiều tác phẩm được ghi vào trong danh sách các sách phải đọc ở cấp trung học và đại học Hoa-kỳ.

 

Ngay cho dù có những người quan tâm đến văn học Nhật-bản thì họ lại chỉ chạy quanh những thi sĩ hài cú như Basho, Buson, Issa, Moritake, Shiki, v.v, của thời xa xưa, mà chẳng chú ý đến những nhà thơ hài cú của thời hiện đại như Takahama Kyoshi, Takano Suju, Hashimoto Takako, Tsuda kiyoko, v.v., chứ đừng nói tới các thi sĩ hiện đại khác của các thể thơ khác như hiện đại thi (thơ tự do), đoản ca (tanka).

 

Chúng tôi nhìn nhận là đã có một số người dịch sang Việt ngữ một số tiểu thuyết của một số nhà văn hiện đại Nhật-bản và lác đác có người giới thiệu sơ qua một vài nhà văn đó, nhất là khi có người được giải thưởng Nobel về văn học.

 

Tuy nhiên con số những người này hãy còn quá ít. Chưa có ai tìm hiểu tại sao nhà văn Watanabe Jun'ichi có tác phẩm Shitsurakuen riêng ở Nhật-bản đã bán được ngót 3 triệu cuốn, đấy là chưa rõ bản dịch Anh ngữ (A Lost Paradise) và bản dịch Hoa ngữ (Thất Lạc Viên) bán được bao nhiêu cuốn. Hoặc như tại sao nhiều người Mỹ thích đọc truyện của Banana Yoshimoto, của Murakami Haruki (trong Văn Học số 185, th. 9/2001, trong mục Tin Văn, ông Thế-Quân đã giới thiệu sơ qua tác giả này, tr. 150-151), v.v.

 

Có lẽ văn học của một nước Á-châu được nhiều người Việt-nam, từ nhà văn học hay nghiên cứu văn học đến những người bình dân biết đến, quan tâm tới là văn học Trung-quốc.

 

Tuy nhiên, họ lại chỉ chú ý, nhắc lại, nghiên cứu, phiên dịch các tác giả, các tác phẩm, các tư trào, các kỹ thuật, nhiều nhất là của hai triều đại Đường (618-907) và Tống (960-1280), với những Lý-Bạch, Đỗ-Phủ, Vương-Duy, Hàn-Dũ, Bạch Cư-dị, Lý Thanh-chiếu, Tô Đông-pha, v.v., và lác đác một vài tác phẩm cổ hơn của các tác giả khuyết danh như Kinh Thi, Thượng Thư (hay Kinh Thư)... Hầu như không mấy ai viết về các nhà văn học thời Nguyên (1280-1368) như: Quan Hán-khanh, Lô-Chí, Mã Trí-viên; thời Minh (1368-1644) chẳng hạn Cao-Khải, Lâm-Hồng, Trầm-Châu, Từ-Vị; thời Thanh (1644-1911), thí dụ: Triệu-Dực, Hoàng Cảnh-nhân, Cố Thái-thanh, v.v., hoặc các nhàvăn học của những thời Tần (221-206 TCN), Hán (206 TCN - 221 SCN), v.v., cũng như các thể loại tản khúc, kịch, tiểu thuyết của các thời đại đó.

 

Còn về văn học hiện đại của Trung-quốc thì nhiều lắm chỉ biết đến những tên tuổi như Lỗ-Tấn, Ba-Kim, Mao-Thuẫn, Tào-Ngu, Quách Mạt-nhược, Đinh-Linh, và gần đây hơn nữa là Quỳnh-Dao (một vài người lại còn viết lầm là Quỳnh-Giao), Kim-Dung. Tệ đến nỗi có vị chuyên môn giới thiệu các sinh hoạt văn nghệ thế giới lại đã không biết đúng tên của một nữ văn sĩ Trung-quốc hiện đại rất nổi tiếng chẳng những là ở Hoa-lục và Đài-loan (bà là mẫu mực cho các văn sĩ trẻ Đài-loan học hỏi, noi theo) mà còn ở trong các cộng đồng Hoa-kiều hải ngoại lẫn trong giới các nhà văn học, nghiên cứu văn học người Âu-Mỹ là Trương ái-linh mà lại cứ nhắc đi nhắc lại mãi tên Trương ái-liên.

 

Như vậy họ làm sao biết đến Thu-Cẩn, nhà thơ, nhà văn, nhà báo, nhà giáo, kiêm lãnh tụ cách mạng (người phụ nữ đầu tiên được trao phó việc chỉ huy một chi bộ đảng cách mệnh) và đồng thời cũng là nhà văn học nữ đầu tiên trong lịch sử văn học Trung-quốc bị hành quyết khi lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống vương triều ngoại tộc Mãn-Thanh. Rồi hỏi có mấy ai biết đến Tiêu-Hồng, nhà văn nữ đa tài bạc mệnh, đã phải sống lang thang đây đó, đói rét, trong nhiều năm miền Hoa-bắc lạnh lẽo và chết trong bệnh tật, nghèo túng giữa Thế Chiến thứ II.

 

Còn nói chi đến biết được trong khi cha Phùng Hữu-lan nổi danh thế giới là nhà triết học hiện đại của Trung-quốc (tác phẩm của ông được trích dẫn, giảng dạy ở trường Đại học Văn khoa Sằi-gòn trước năm 1975) thì con gái Tông-Phách là nhà văn nữ tên tuổi từ thập niên 1980.

 

Hoặc có mấy nhà văn học hay nghiên cứu văn học người Việt-nam biết tới hai nhà thơ nữ sáng giá của Trung-quốc hiện đại, mẹ là Trịnh-Mẫn đã đứng vững trên thi đàn Trung-quốc từ thập niên 1940 mà không hề bị sóng gió của các chiến dịch, kể cả cuộc Vô Sản Giai Cấp Văn Hóa Đại Cách Mệnh, vùi dập, và con gái là Đồng-Uất, nhà thơ nữ ngây thơ siêu hiện thực, một sự ngây thơ đến có thể chuyển biến sang huyền bí.

 

Lại mấy ai biết đến là ở Đài-loan có thi xã Sáng Thế Ký với xã viên đa số là quân nhân và cựu quân nhân các cấp thuộc nhiều binh chủng, nhất là hải quân, và có người đã từng phục vụ ở Việt-nam (nhà thơ Lạc-Phu, sĩ quan hải quân, đã làm sĩ quan thông dịch viên và cố vấn trong Phái Bộ Viện Trợ và Cố Vấn Quân Sự Trung-hoa Dân Quốc ở Nam Việt-nam năm 1965-1967, và sau khi về Đài-loan đã cho xuất bản tập thơ Tây-cống Thi Sao).

 

Cũng ở Đài-loan còn có nhà văn nữ Lý-Ngang, tác giả của nhiều cuốn tiểu thuyết, đặc biệt là trung thiên tiểu thuyết Sát Phu đã trúng giải nhất Liên Hợp Báo Trung Thiên Tiểu Thuyết Tưởng năm 1983, đã được in lại tới ngót 20 lần từ năm 1983 , được quay thành phim và đã được dịch sang 4 thứ tiếng là Anh, Pháp, Đức và Nhật. Hơn nữa, hai chị của Lý-Ngang (tên thực là Thi Thục-đoan) là Thi Thục-thanh và Thi Thục-lưu cũng là nhà văn, nhất là Thi Thục-lưu đã xuất bản nhiều tác phẩm văn học có tiếng. Hơn nữa, cả Lý-Ngang lẫn Thi Thục-thanh đều đã du học ở Hoa-kỳ và cùng học ngành hí kịch (Lý-Ngang tốt nghiệp viện đại học Oregon và Thi Thục-thanh viện đại học thị lập Nữu-ước). Tuy nhiên, người ta biết đến Lý-Ngang nhiều, và đó cũng là đầu mối những vụ tranh luận, ở điểm bà viết rất táo bạo về vấn đề tính dục, tuy rằng còn rất nhẹ so với vấn đề này trong các tác phẩm văn học của các nước Âu-Mỹ.

 

Nói đến Lý-Ngang chúng tôi cũng không thể không nói đến việc hầu hết các nhà văn học và nghiên cứu văn học người Việt-nam đa số chỉ chú trọng đến các nam tác giả hơn nữ tác giả.

 

Xin kể một thí dụ. Cuốn Thơ Đường của cố giáo sư Trần-trọng-San chỉ điểm sơ qua 3 nữ thi sĩ là Tiết-Đào, Đỗ Thu-nương và Trần Ngọc-lan, và vài bài thơ của họ. Mặt khác, trong cuốn Thơ Tống giáo sư có bài về hai nữ thi sĩ Lý Thanh-chiếu và Chu Thục-chân thôi. Trái lại, riêng đối với thi sĩ và thi phẩm thời nhà Đường chúng tôi đã thu thập được các bài thơ của 64 nữ thi sĩ khác (có lẽ còn có nhiều người hơn nữa mà chúng tôi chưa kiếm được).

 

Về phần tiểu thuyết, ngoài phần lớn các tác phẩm của nhà văn nữ Quỳnh-Dao đã được dịch sang Việt ngữ và có một vài bài hoặc sách đã viết về tác giả, và một truyện cực ngắn của một nhà văn nữ Đài-loan khác là Viên Quỳnh-quỳnh đã được dịch và đăng trên báo Văn Học này (dịch giả để nguyên tên viết theo phương pháp phanh âm, hay pinyin, lối đọc Hoa ngữ là Yuan Qiongqiong) chúng tôi chưa biết có tác phẩm của nhà văn nữ hiện đại Trung-hoa nào khác, dù là ở Hoa-lục hay ở Đài-loan, Tân-gia-ba, hoặc ở các nước khác, đã được dịch sang Việt ngữ.

 

Đối với các nhà văn học nữ của các nước á-châu khác, kể cả Ần-độ và Nhật-bản, thì còn tệ hơn nữa. Chúng tôi không được biết có nhà văn, nhà thơ nữ nào được các nhà văn học hay nghiên cứu văn học người Việt-nam lưu tâm đến hay dịch các tác phẩm của họ.

 

Trên đây chúng tôi mới chỉ nói đến cá nhân các nhà văn học Á-châu và các tác phẩm của họ. Còn về các trào lưu văn học, các phái văn học, các kỹ thuật văn học, v.v., của các nước Á-châu, nhất là trong hiện đại, người ta cũng không quan tâm đến nốt.

 

Ngay cả văn học Trung-quốc mà có nhiều người quan tâm, nghiên cứu, cũng chỉ là đối với văn học cổ đại, hay quá lắm là văn học hồi tiền bán thế kỷ thứ 20 thôi. Còn văn học Trung-quốc từ hậu bán thế kỷ thứ 20 cũng như văn học Đài-loan từ thời Nhật thuộc (1895-1945) cho đến nay như thế nào ít người biết đến.

 

Không mấy người biết được phản ứng của giới văn học ở Hoa-lục qua các chiến dịch Bách Hoa Tề Phóng (Trăm Hoa Đua Nở), Đại Dược Tiến (Bước Nhảy Vọt), Vô Sản Giai Cấp Văn Hóa Đại Cách Mệnh (Cách Mệnh Văn Hóa), Phê Khổng Phê Lâm (Phê Bình Khổng Tử và Phê Bình Lâm-Bưu; còn gọi là Phê Lâm Phê Khổng, Phê Khổng Bình Lâm), cũng như là những biến cố đưa đến những phản kháng về chính trị như vụ Thiên-an Môn, thì làm sao họ biết được sự xuất hiện của dòng Thương Ngân Văn Học (Văn Học Vết Sẹo), của thi phái Mông Lung, của thi phái Hậu Mông Lung (còn gọi là Tân Trào), v.v. Mặt khác, ở Đài-loan trong thập niên 1930 xuất hiện dòng Hương Thổ Văn Học là dòng văn học hướng về đồng quê, dùng đồng quê làm bối cảnh cho công cuộc để kháng chính sách đô hộ dã man của người Nhật-bản trong thời Nhật thuộc. Rồi khi mới chấm dứt trận Kháng-Nhật Chiến Tranh (1937-1945) thì lại xuất hiện dòng Lãng Tử Văn Học, hay văn học tìm về nguồn của những con người sống xa tổ tịch hay xa nơi chôn rau cắt rốn. Dòng Lãng Tử Văn Học mở đường cho sự tái sinh của dòng Hương Thổ Văn Học nhằm chống lại những cái xấu, cái ác xã hội của sự đô thị hóa, kế hoạch hóa và kỹ nghệ hóa Đài-loan trong thập niên 1960-1980, cũng như để chống lại dòng văn học phản Cộng mang nhiều tính tuyên truyển hơn là tính văn học.

 

Còn về văn học Nhật-bản, chúng ta đâu có biết rằng các tác phẩm văn học hiện đại đã thôi không còn diễn tả một xã hội thâm nghiêm kín cổng cao tường, một xã hội trì trệ, đen tối, u buồn đầy chém giết, nhiều chết chóc mà đã quay sang diễn tả một xã hội mở cửa, tự do, một xã hội phát triển mạnh và nhanh như những chiếc xe lửa đầu đạn phóng vụt.

 

Những tác phảm văn học hiện đại Nhật-bản không còn được dán nhãn hiệu jun bungaku (thuần văn học) nữa mà đã được mệnh danh là fuikkushon (dịch âm từ Anh ngữ fiction, tiểu thuyết), với những thay đổi chẳng những về nội dung mà còn cả về kỹ thuật nữa. Trong những tác phẩm này cuộc sống không còn phải chỉ gồm có áo kimono, thảm tatami, món cá sushi, mà còn có cả nào là quần áo jeans, nào là thủy sàng (water beds), nào là hamburgers và bên cạnh những cuộc sống hôn nhân do cha mẹ thu xếp theo lễ giáo, theo phong tục, những đại gia đình tam đại, ngũ đại, còn có những cuộc sống chung của những cặp nam nữ không cần biết đến giá thú, nghi lễ, hoặc bên ngoài giá thú, ngoại tình, những tiểu gia đình chỉ gồm có vợ chồng con cái, những tác phẩm đầy rẫy những đề tài ám ảnh, dục vọng, đố kỵ, ghen tuông, thù hận, những tác phẩm nói lên những va chạm hay dung hòa giữa mới và cũ, giữa đông và tây.

 

Đó là những tác phẩm nói lên những con người phẫn khích với những bất công xã hội, những con người đã phơi bày cuộc sống buồn tẻ, chán ngắt của người làm việc trong thành phố chật chội, kiềm chế, những tác phẩm ca tụng tính cách quan trọng của cá nhân, những tác phẩm của những tác giả đề cao từ nhân bản lý tưởng đến hiện thực chủ nghĩa, những người đã biết phối hợp văn phong siêu thực chủ nghĩa hiện đại với những đề tài qui ước cổ điển, những con người dùng lịch sử tiểu thuyết như vũ khí xã hội để cố cải cách trật tự xã hội lỗi thời và giải phóng dân Nhật-bản khỏi ách thống trị của các tập tục phong kiến hay để làm phương tiện xác định những sự thực căn bản chung cho mọi người trong mọi thời.

 

Nói tóm lại, những dòng văn học Nhật-bản hay những thời kỳ văn học chứng tích của những giai đoạn lịch sử huy hoàng tráng lệ hay những đau thương tủi nhục, đen tối, như thời đại Chiêu-hòa (Showa) với 14 năm chiến tranh khói lửa bao trùm thế giới, bom đạn tàn phá Nhật-bản, nhất là hai quả bom nguyên tử rơi trên hai thành phố Hiroshima và Nagasaki, rồi lần đầu tiên trong lịch sử đã bị ngoại nhân chiếm đóng, đã được các nhà văn nhà thơ ghi lại qua những tác phẩm nói lên các kinh nghiệm cũng như cảm nghĩ của người dân Nhật-bản trong thời kỳ này, những tiến bộ quanh co khúc khuỷu, đầy gian truân để tiến lên trình bộ tiến bộ cao cấp hiện nay.

 

Cũng vậy, các nhà văn học Ấn-độ đã nói lên hay đề cập một cách cụ thể và xác thực về xã hội Ấn-độ, những người đã đưa ra những nhận xét hay phương thức giải quyết các vấn đề gay go, khúc mắc. Những tác phẩm, những ý tưởng của những nhà văn học đã tranh đấu chống lại mọi áp bức nhằm trói buộc họ, không cho họ được tự do phơi bày những tệ nạn của xã hội, những xấu xa của những người ăn trên ngồi trốc, chống lại những sự đàn áp người dân nghèo khó, chống lại những kẻ kỳ thị giai cấp đã tàn sát tiện dân (intouchables, untouchables, Harijan), những nhà văn học đã bị những kẻ cường hào ác bá hay chính trị gia đối xử một cách tàn nhẫn như là bị đánh què chân, lòi con mắt, bị lấy giày đập đầu chỉ vì đã phơi bày những sự bẩn thỉu của họ. Chúng ta cũng cần tìm hiểu các nhà văn học cố tẩy trừ những đồi phong bại tục đã ăn sâu vào tận xương tủy của các cơ cấu xã hội mà không ai dám cải tổ, xóa bỏ, như là vừa tắm rửa trong sông Hằng (Ganga), vúc nước sông lên uống theo nghi lễ tôn giáo cổ truyền lại vừa tiểu tiện hay đại tiện ngay tại đó, hay là tục thiêu sống cô dâu không mang đủ của hồi môn về nhà chồng, việc bắt cóc con nít đi làm ăn mày, việc mua bán đàn bà làm kỹ nữ, v.v.

 

Chúng ta cũng cần tìm hiểu nền văn học đa dạng của các quốc gia Trung-đông, Ả-rập, hiện đang phát triển nhanh chóng không thua gì nền văn học của các nước Tây phương. Nền văn học hiện đại Ả-rập tìm cách thoát ly dòng chủ lưu văn học truyền thống Ả-rập. Có đọc những tác phẩm của các nhà văn học Ả-rập chúng ta mới thấy được sức sáng tác mạnh mẽ của nền văn học hiện đại Ả-rập, với những tiêu chuẩn nghệ thuật cao nhất và thuần thục nhất không thua gì các nhà văn học Ấu-Mỹ. Hơn nữa nền văn học hiện đại Ả-rập còn cho chúng ta thấy được những biến đổi căn bản và sâu xa đã và đang xảy ra tại những nước trong vùng Trung-đông và nhất là vùng Vịnh Ả-rập. Đáng kể nhất là những nỗ lực của các nhà văn học nữ trong một khối xã hội trọng nam khinh nữ, còn nặng hơn xã hội Trung-quốc thời quân chủ phong kiến, muốn phá bỏ bức tường bảo thủ hủ lậu đã giam cầm họ hàng bao nhiêu thế kỷ. Có đọc những tác phẩm văn học Ả-rập chúng ta mới thấy được là mặc dù thế giới Ả-rập ngày nay chia ra thành nhiều quốc gia độc lập lớn nhỏ, nhưng văn học Ả-rập lại luôn luôn nhất quán, bao gồm một tập thể thống nhất với nhiều dị biệt địa phương.

 

Sự lơ là đối với văn học á-châu của các nhà văn học hay nghiên cứu văn học người Việt-nam khi còn ở trong nước trước năm 1975 có thể hiểu được và có thể chấp nhận được.

 

Vì chiến tranh kéo dài 30 năm, chúng ta thiếu nhiều phương tiện, kể cả phương tiện tài chính, để có thể tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu văn học á-châu. Điều đáng nói hơn nữa là ở cấp trung học và tại các trường đại học văn khoa hay khoa học nhânvăn, văn học Tây phương được chú trọng và giảng dạy nhiều hơn là văn học á-châu.Vì vậy, trong khi các tài liệu văn học hay về văn học Tây phương đầy rẫy thì văn học á-châu bị lơ là ngay tại các cơ sở chuyên đào tạo những nhà nghiên cứu văn học. Kết quả là chúng ta có rất ít tài liệu văn học hay về văn học á-châu phổ biến trong nước thì làm sao đào tạo ra được những người biết quan tâm đến văn học Á-châu.

 

Tuy nhiên, sự lơ là của các nhà văn học hay nghiên cứu văn học hiện đang sống ở ngoại quốc thực đáng tiếc.

 

Bên cạnh cuộc sống vật chất sung túc hơn, dư dả hơn, so với những người còn ở trong nước, họ lại có nhiều phương tiện hơn để tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu về văn học á-châu nếu họ muốn. Chung quanh họ ở không thiếu gì các tài liệu văn học và về văn học á-châu cùng là các dịch phẩm của nhiều tác phẩm văn học á-châu, nhất là những người sống ở Hoa-kỳ, Anh, Pháp, Đức, Hòa-lan, Bỉ, v.v., vì ở những nước này có những trung tâm, những cơ quan, những trường đại học, những hiệp hội chuyên nghiên cứu về văn học á-châu quan trọng trên thế giới. Thế mà cho tới nay có mấy người Việt-nam chịu bỏ chút thời giờ ra tìm hiểu văn học Á-châu?

 

Sự lơ là đối với văn học Á-châu đã kéo dài quá lâu rồi. Bây giờ chính là lúc các nhà văn học và nghiên cứu văn học người Việt-nam nên có một sự hy sinh (tiền, thời giờ, trí óc) để bù đắp sự thiếu thốn gây ra bởi sự lơ là kể trên, ngõ hầu có thể hướng dẫn những người khác kém may mắn hơn, kém phương tiện vật chất và nhất là tinh thần, đi vào vườn hoa trăm sắc nghìn hương của các dân tộc sống chung quanh hay trên cùng một đại lục, để tìm hiểu họ, học hỏi những kinh nghiệm của họ cũng như cách thức họ giải quyết những vấn đề cảm thông những đau khổ hay hạnh phúc của họ, chia sẻ với họ những hy vọng, những ước vọng, những kỳ vọng.

 

Tạ Quốc Tuấn

 

■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■

Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách

Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập