nghĩ về tết

ngự thuyết


 

 

Gởi Bùi Xuân Nhiếp

 

Một nhà văn, Sartre thì phải, có lần nói đại khái rằng đời người chẳng qua là tập hợp những kinh nghiệm về thời tiết. Lẽ dĩ nhiên đó chỉ là một cách nói trong một hoàn cảnh nào đó, nhưng nghe cũng thú vị. Vâng, trời mưa, trời nắng, trời tuyết, trời bão v.v... hẳn tác dụng mạnh mẽ lên cuộc sống của vạn vật trong đó có con người. Mà ngay cả khi, nói như Hồ Dzếnh, "Trời không nắng cũng không mưa" nhưng nếu có một chút gió cũng đủ làm cho lòng dạ nhà thơ bâng khuâng, "Chỉ hiu hiu gió cho vừa nhớ nhung." Vậy thì những biến thái của thời tiết tại quê nhà, những giọt mưa phùn mát dịu đầu xuân long lanh trên lá cỏ non, cơn nắng đổ lửa mùa hè đốt nám những chùm nhãn còi, ngọn gió heo may mùa thu se lạnh nhuộm vàng những chiếc lá bàng, và những cơn giá buốt của mùa đông xám trùm lên trên những cánh đồng trơ trụi, chắc chắn đã là những dấu ấn trong ký ức mà những người sống tha hương như chúng ta khó quên được. Và đậm nét nhất có lẽ là những ký ức về thời gian giao mùa giữa năm cũ và năm mới, khi vạn vật chuyển mình, khi lòng người xao động, khi những chuẩn bị, những chờ đón được đánh dấu, được gõ nhịp, bằng tiếng pháo nổ ròn, ánh pháo chớp loé, khói pháo mù mịt, mùi pháo thơm lừng và cả xác pháo nhuộm hồng khắp lối đi.

 

Xong việc lau, dọn, trang hoàng lại nhà cửa và bàn thờ tổ tiên, một tràng pháo ngắn. Chưng xong một cành mai cỗi, mấy chậu cúc vàng, một tràng pháo ngắn. Nấu xong mâm cỗ, "mâm cơm ba mươi cúng ông bà", một tràng pháo ngắn. Vớt nồi bánh chưng, bánh tét nấu từ đêm 29 tết, một tràng pháo ngắn... Hoặc chẳng làm gì cả, chỉ cảm thấy một thôi thúc tình cờ nào đó, cũng một tràng pháo ngắn. Và vào lúc giao thừa trời gây gây lạnh, lòng người nôn nao giã từ năm cũ và đón mừng năm mới, những tràng pháo dài, hết tràng này đến tràng khác, vang dội từ nhà của ta qua nhà láng giềng gần, láng giềng xa và ngược lại, hỏi han nhau, nghe ngóng nhau, đối đáp nhau, và theo gió vang đi xa hơn, theo gió từ xa tới, khi thì nghe chát chúa bên tai, khi thì róc rách như tiếng suối reo, khi thì râm rang như ve kêu trưa hè, khi thì ì ầm từng đợt như biển sóng. Vâng, không phải chỉ riêng nơi nhà mình đang sống mà thôi, cả láng giềng, cả thành phố, cả miền quê, cả nước, bồng bềnh trên biển pháo vào giờ khắc đó.

 

Tết gắn liền với pháo. Được về quê ngồi tụm năm tụm ba bên cạnh bếp lửa hồng canh nồi bánh tét nghe kể chuyện ăn trộm, chuyện ma, được nghỉ học, được tha hồ đi chơi, được ăn uống phè phởn, hồi còn trẻ thích ăn lắm, được mặc áo mới trong túi rỏn rẻng tiền lì xì, được đi rảo các sòng bạc thử thời vận, và khi lớn lên được đi nhảy đầm tất niên đi nữa, nghĩa là đã tấp tểnh du nhập vài nếp sống phương Tây, mà không có pháo để cùng chung vui thì hương vị Tết sẽ mất đi quá nhiều. Đáng tiếc thay, ở quê nhà hình như bây giờ người ta cấm đốt pháo, kể cả pháo Tết, và tại vùng Nam Ca li này pháo cũng bị cấm. Nhưng ở Bắc Ca li, vùng San Jose, nơi có đông đảo người Việt mình, đêm giao thừa nghe nói vẫn vang lừng tiếng pháo. Thế thì năm nay hãy đi lên San Jose "Ắn Tết".

 

Nhưng Tết cũng là dịp để gia đình đoàn tụ, lẽ nào tôi bỏ nơi này để đi ăn Tết phương xa. San Jose đâu phải là quê hương của tôi! Vậy nơi tôi đang sống tại miền Nam Ca li này đã là quê huơng của tôi chưa, tôi nhiều lần tự hỏi. Hay quê hương đích thực của tôi hiện ở cách đây rất xa, cách nhau ngàn vạn dặm, bên kia bờ đại dương? Đó là quê hương, là đất nước, là nơi còn mồ mả tổ tiên, nơi còn mấy người thân yêu già nua gần đất xa trời, nơi còn dăm ba người bạn buồn rầu, mệt mỏi, nơi khi hơn mười năm trước tôi bỏ đi lòng đau đớn sắp đánh mất cả một cuộc đời, nơi mà tôi nhớ quay quắt mỗi khi trời đất giao mùa... Và cũng là nơi tôi đã có lần trở về thăm, băn khoăn, bùi ngùi. Hơn thế nữa, tôi tìm thấy tôi xa lạ, lạc lõng.

 

Hay là Tết năm nay hãy cứ thử lên San Jose xem sao? Để thử ăn một cái Tết tha hương có tiếng pháo mà ngay cả nơi quê cũ cũng không có? "Tết tha hương", nghe có vẻ lãng mạn, và tôi mong có được vài giây phút lãng mạn.

 

Tôi bỗng nhớ đến Lỗ Tấn, một nhà văn lớn Trung Quốc đầu thế kỷ 20. Ông có tư tưởng mới, gay gắt bài xích nếp sống cũ, chủ trương cách mạng triệt để cho một nước Tàu mê muội, cổ hủ, khép kín mà ông ví là "một cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ." Nhưng ông cũng không thể quên được tiếng pháo Tết và cái cảm giác êm êm, buồn buồn trong một chuyến về quê cuối năm. Ông khởi đầu một truyện ngắn bằng những câu văn đầy cảm khái và những hình ảnh rất độc đáo, tạo được ngay cái không khí Tết đang hiện lên ở lưng trời qua tiếng ống lệnh và tiếng pháo: "Cuối năm âm lịch, bao giờ cũng có vẻ đúng là cuối năm, ở nơi thôn quận thì thôi khỏi phải nói, cả ở lưng trời cũng thấy hiển hiện cái cảnh tượng 'Tết đến sau lưng'. Giữa những đám mây chiều nặng và xám, chốc chốc lại loé ra một tia sáng, tiếp theo là những tiếng ống lệnh ỳ ầm tiễn chân ông Táo về Trời; những ống lệnh đốt ở nơi tiếp cận nổ dữ dội hơn, tiếng nổ váng tai còn chưa ngừng, mà trong không khí đã ầm ỹ, tản mác mùi thơm thuốc pháo. Tôi về tới quê nhà, Lỗ Trấn, đúng vào một đêm như thế. Gọi 'quê nhà' là gọi thế thôi, chứ thực ra tôi không còn cửa nhà gì ở đây, bởi vậy cho nên tôi phải đến ở tạm nhà ông Tư họ Lỗ."(1)

 

Nhà văn Nhất Linh cũng có một đoạn văn đầy xúc động về ngày cuối năm. Bằng những câu đối thoại ngắn, gọn, tưởng như hờ hững nhưng mang nặng ý nghĩa, bằng những chi tiết đơn sơ, nhỏ nhặt nhưng rất gợi cảm, bằng một cái nhìn vừa có tầm xa vừa thơ mộng, và bằng một lối văn trữ tình pha một chút lãng mạn, tác giả đã nói lên được tâm trạng bùi ngùi của kẻ tha hương lữ thứ một chiều cuối năm tưởng nhớ đến người yêu ở quê nhà. Đặc biệt là trong đoạn văn đó, tiếng pháo Tết đã giữ một vai trò chủ chốt:

 

"– Phúc, lại đây với chú.

 

Phúc ngoan ngoãn lại gần hỏi:

 

Năm nay chú ăn tết ở đây?

 

Dũng gật. Phúc lại hỏi:

 

Chú không về nhà ăn tết?

 

Dũng mỉm cười:

 

Chú không có nhà.

 

Thế mọi khi chú không có nhà chú ở đâu?

 

Dũng nhìn đăm đăm xuống nền gạch. Câu hỏi vô tình của đứa bé nhắc chàng nghĩ tới cái đời cô độc của mình, lênh đênh nay đây mai đó, tối ba mươi tết tạm dừng chân trong chốc lát để ngắm cảnh gia đình êm đềm của người ta, mà chẳng bao giờ chàng được hưởng.

 

Độ thấy Dũng ngồi yên lặng đăm đăm, hiểu ý, mắng con:

 

– Phúc, xuống ngay dưới nhà chơi. Mày chỉ được cái hay hỏi lẩn thẩn.

 

Rồi Độ đứng lên nói:

 

– Tôi say quá, khó lòng mà thức đến giao thừa được. Vậy tôi đi ngủ trước đây. Mợ nhớ đánh thức tôi dậy.

Dũng cũng đứng lên đi sang buồng riêng của mình, nhưng Dũng không ngủ ngay, chàng tắt đèn rồi mở cửa sổ ngồi nhìn xuống chân đồi.

 

Hết điếu thuốc lánày, Dũng lại châm điếu thuốc lá khác, hút luôn không ngừng, cho đến khi bốn phía nổ ran tiếng pháo tiễn năm cũ và đón mừng năm mới.

 

Bấy giờ Dũng mới ra đứng tựa cửa, chống hai tay vào cằm đưa mắt nhìn vơ vẩn.

 

Lờ mờ dưới ánh sao, dòng sông lẩn trong sương lạnh lẽo, mơ màng uốn khúc. Sau những chòm cây đen rải rác dưới chân đồi, đèn nến cúng giao thừa trong các nhà dân quê thấp thoáng ánh lửa vàng.

 

Dũng lắng tai cố nghe tiếng pháo ở những nơi xa xa rồi lại xa hơn đưa lại, và tưởng tượng theo mãi những tiếng pháo đó cứ một lúc một đi xa mãi cho đến tận phía chân trời, nơi Loan ở.

 

Một luồng khói pháo thơm đưa thoảng qua cửa sổ, đem lại cho Dũng những cảm tưởng dịu dàng êm ái như ngọn gió xuân nhẹ nhàng đem mùa xuân tới.

 

Dũng lẩm bẩm:

 

– Hay ta về thăm Loan?

 

Nói xong, Dũng lấy làm ngạc nhiên về ý định của chàng, ý định mà trước kia không bao giờ Dũng ngờ sẽ có ngày đến vấn vuơng trong tâm trí." (2)

 

Lỗ Tấn về quê nhà ăn Tết, nhưng lại nói "Gọi là quê nhà là gọi thế thôi, chứ thực ra tôi không còn cửa nhà gì ở đây...", như thế có nghĩa rằng nếu ông còn nhà cửa nơi đó, có lẽ cái Tết của ông sẽ ấm cúng hơn. Nhất Linh còn bất hạnh hơn, không về được quê nhà, "... tối ba mươi tết tạm dừng chân trong chốc lát để ngắm cảnh gia đình êm ấm của người ta... " Nhà thơ Thế Lữ trong bài thơ dài "Giây Phút Chạnh Lòng" cảm đề truyện Đoạn Tuyệt, có nhiều đoạn hay và viết rất sát với những tình huống trong cuốn Đoạn Tuyệt của Nhất Linh, và riêng đoạn thơ nhắc nhở đến lúc tạm dừng chân của nhân vật Dũng tại nhà người bạn tối ba mươi Tết, Thế Lữ còn muốn đi xa thêm một chút nữa. Thay vì Dũng ở nhà người bạn, nhà thơ cho nhân vật đó ở quán trọ đón giao thừa. Ắn Tết tha hương nơi gác trọ thì hẳn là cô đơn, lạnh lẽo và "lãng mạn" hơn!

 

"Hôm nay tạm nghỉ bước gian nan

Trong lúc gần xa pháo nổ ran

Giũ áo phong sương trên gác trọ

Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang.

...

"Cát bụi tung trời – Đường vất vả

Còn dài – Nhưng hãy tạm dừng chân.

Tưởng người trong chốn xa xăm ấy

Chẳng biết vui buồn đón gió xuân."

 

Những điều nêu trên chỉ muốn chứng tỏ rằng đối với người Việt Nam ta, cái Tết quả là thiêng liêng và là cơ hội quý giá nhất trong năm để ai ai ở phương xa cũng phải cố trở về đoàn tụ với ông bà, cha mẹ, anh em, bà con, chòm xóm. Con người càng bất hạnh nếu càng xa nhà trong dịp tết. Đi học xa, Tết phải về với gia đình đã đành. Ngay cả những người có cơ sở làm ăn tại thành phố, có nhà tại thành phố, cũng thường cố thu xếp cuối năm về quê ăn tết. Huống là cô thợ nhuộm đi tha phương cầu thực quanh năm suốt tháng.

 

"Có cô thợ nhuộm về ăn tết / Sương gió đường xa rám má hồng", hai câu thơ qủa đã đưa tâm hồn người đọc đi mông lung! Đó là hai câu thơ cuối trong bài bài thơ bốn câu ngắn ngủi "Không Đề" của Nguyễn Bính.

 

"Có chiếc thuyền nằm trên cát mịn

Có đàn trâu trắng lội ngang sông

Có cô thợ nhuộm về ăn tết

Sương gió đường xa rám má hồng."

 

Có người tỏ ý tiếc rằng tại sao tác giả không đổi tên bài thơ thành "Tết", hoặc "Có", và nếu tên bài thơ là "Có", thì phải đổi luôn câu cuối, dễ thôi, chẳng hạn: "Có mấy cành mai mới trổ bông" hoặc "Có mấy cành đào mới trổ bông" cho hợp với xứ Bắc, thay vì "Sương gió đường xa rám má hồng". Họ bàn bạc theo cái lối làm thơ thù tạc đối đáp trong lúc trà dư tửu hậu: Đề ra là "Có", mỗi câu phải bắt đầu bằng chữ "có". Tương tự như thế, người ta truyền tụng một giai thoại như thế này:

 

Ngày xưa khi ông trạng Mạc Đỉnh Chi đi sứ sang Tàu, gặp lúc nàng công chúa nhà Nguyên vừa mới từ trần, nhà vua ra đề cho các sứ thần chỉ vỏn vẹn chữ "Nhất", và Mạc Đỉnh Chi đã làm một bài điếu tang như sau:

 

"Thanh thiên nhất đóa vân - Hồng lô nhất điểm tuyết - Thượng uyển nhất chi hoa - Dao trì nhất phiến nguyệt - Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết!" (Trời xanh một đoá mây - Lò hồng một điểm tuyết - Vườn thượng uyển một cánh hoa - Hồ dao trì một mảnh trăng - Ôi! mây tán, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết!). Vua Tàu hết sức khen ngợi, sứ Triều Tiên bái phục, và ông Mạc Đỉnh Chi nhờ đó được phong thêm hai chức trạng nguyên, một của Tàu, một của Triều Tiên. Nếu theo truyền thuyết, Ông Trạng Mạc Đỉnh Chi trở thành "Tam Quốc Trạng Nguyên", thì có lẽ do tài ba quán thế của ông chứ không phải vì bài điếu văn thù tạc chẳng lấy gì hay ho mà còn có chỗ vô lý: Một cục tuyết nhỏ trong lò lửa hồng! Cho nên trong Không Đề, Nguyễn Bính muốn nói lên điều gì chứ đâu muốn làm bài thơ "Có", nhưng vì bí quá, nên phải để câu cuối phải lạc điệu!

 

"Có cô thợ nhuộm về ăn tết

Sương gió đường xa rám má hồng."

 

Tết đến, người làm nghề cá được nghỉ ngơi, cho thuyền nằm thong dong trên cát mịn chờ ra giêng ngày dài tháng rộng lại ra khơi, nhà nông thì ngưng tất cả công việc đồng áng, nhờ thế những con trâu cũng được thảnh thơi lội ngang sông tắm mát, và đất đai của cánh đồng đương nhiên cũng được yên thân, không bị ai cào, xới, cuốc lật, cày, bừa. Thì cô thợ nhuộm cũng về quê ăn tết chứ. Quê cô ở đâu? Có lẽ thuộc vùng châu thổ sông Hồng mà nguồn sống chính là nghề cá và nghề nông. Tết là nghỉ xả hơi, người và vật, nhưng chỉ riêng cô thợ nhuộm là lận đận hơn ai cả. Cô đi làm tại một hãng dệt ở thành phố Hà Nội hay Nam Định, phải không cô. Và vì cô còn trẻ quá, hay vì còn có bố mẹ già sống tại quê nghèo không nơi nương tựa nên cô phải gác lại chuyện chồng con đi làm ăn xa, Tết đến, dành giụm tiền bạc, mua một ít quà, một mình lặn lội tìm về quê, đi mất nhiều ngày, vượt qua bao nhiêu đỗi đường, đi qua bao nhiêu chuyến đò, đi bộ, đi thuyền, không dám đi ô tô sợ tốn kém, má hồng bị rám đi vì sương gió đường xa. Như con chim bay đi kiếm ăn quanh quẩn suốt ngày, tối đến tìm về tổ ấm, cô phải quanh năm suốt tháng đi làm ăn phương xa, cuối năm tìm về quê cũ nơi có bố mẹ già đang tựa cửa đứng chờ. Can đảm lên cô nhé, dù sao cô cũng có được chút đền bù rồi, cô sẽ được trang bị lại một số hành trang tình cảm đủ ấm áp để cô lại tiếp tục lên đường sau mấy ngày đoàn tụ.

 

Nhưng đối với những người không thể về quê hoặc vì một lý do gì đó không muốn về quê ăn Tết thì sao? Đó là hoàn cảnh của một số lớn người Việt tỵ nạn tại nhiều nơi trên thế giới, một thế giới đang chuyển mình thay đổi lớn lao. Vâng, thế giới ngày nay là một thế giới đầy biến động trong đó nhiều giá trị cũ đang sụp đổ, nhiều vấn đề cần được đặt lại, nhiều nếp sống cũ không thể duy trì. Nhất là sau ngày tang tóc 11 - 9 - 2001 tại Nữu Ước. Hơn nữa, trong cuộc sống hiện đại này, giữa một nền văn minh vật chất, tiêu thụ, đang lan tràn khắp thế giới, và với chủ trương toàn cầu hóa đang được các nước tiên tiến theo đuổi, con người gánh chịu thêm nhiều mất mát không thể nào tránh khởi. Cố nhiên cũng có thể có những thuận lợi mà những biến đổi đã và sẽ mang lại cho đời sống, và ngay cả biến cố vừa qua tại Nữu Ước cũng đã khiến cho trái tim vốn cứng rắn và lạnh lùng của thành phố trở nên dịu dàng và ấm áp lại. Chẳng hạn vừa mới hôm qua (14/12/2001) tôi được nghe một thống kê cho biết rằng sau ngày bị khủng bố, thành phố Nữu Ước đã đổi khác và được đánh giá là thành phố lịch sự nhất nước Mỹ, đứng ngang hàng với một thành phố thuộc tiểu bang South Carolina. Thí dụ khách lạ muốn hỏi điều gì, người địa phương vồn vã chỉ dẫn; dân Nữu Ước bỗng cảm thấy nhu cầu tình cảm mới, thương yêu nhau hơn, giúp đỡ nhau hơn; họ lại thích làm thơ hoặc đọc thơ cho nhau nghe nhiều hơn, v.v...

 

Như trên đã nói, nhiều nếp sống cũ không thể duy trì. Đó là lẽ đương nhiên, "hoa bướm ngày xưa" đã đến, đã đi, và đã không bao giờ trở lại. Tôi bỗng nhớ đến bài hát Auld Lang Syne. Đó là bài hát rất quen thuộc mà nước Anh và những nước chịu ảnh hưởng văn hoá Anglo-Saxon trong đó có nước Mỹ, cứ vào giao thừa Tây đúng nửa đêm 31 tháng 12, là cho trổi lên trên các đài phát thanh, đài truyền hình, trong các dạ vũ giao thừa. Auld Lang Syne là tiếng Tô Cách Lan cổ có nghĩa "Những ngày xưa êm đềm" (Old Long Since - The Good Old Days). Phải chăng bản nhạc đó muốn nhắc nhở rằng cứ mỗi năm trôi qua, ta lại phải giã từ không ít thì nhiều những gì ta trân qúy. Vậy ta có nên lội ngược dòng nước tìm lại "Những ngày xưa êm đềm"? Thì cứ thử tìm đi. Nhưng còn đâu tuyết năm xưa! (Mais où sont les neiges d'antan, câu văn học thuộc lòng hồi nhỏ).

 

Đành rằng thế, đành rằng đã mất mát nhiều lắm và còn mất thêm nữa, nhất là đối với người tỵ nạn như chúng ta, nhưng cũng phải cố giữ lại dăm ba thứ chứ. Giữ lại Tết và pháo nhé! Không về quê hương ăn tết được thì mang quê hương theo, mang Tết theo, mang pháo theo, được chừng nào hay chừng nấy, như ta đã từng làm từ mấy chục năm nay. Dường như người Việt ở hải ngoại đã khá thành công trong việc gìn giữ một số truyền thống tốt đẹp.

 

Tôi nghĩ rằng phải có một nụ cười cho bài báo Xuân nên tôi đánh bạo kể lại câu chuyện sau đây. Như trên đã nói, đi học xa nhà, Tết đến, ai cũng náo nức được về quê.

 

Hồi đó chúng tôi trọ học tại Đại Học Xá Minh Mạng, Chợ Lớn, ngay khi cơ sở này mới thành lập được một năm. Đại Học Xá ngoài tám dãy nhà dài dành cho sinh viên cư trú, còn có bệnh xá, thư viện, câu lạc bộ, phòng tập võ, và quán cơm. Trong dịp Tết, quán cơm đóng cửa ba ngày, ba mươi tết và mồng một, mồng hai. Lý do là vì hầu hết sinh viên đều về quê ăn Tết, kẻ đi về Lục Tỉnh, người đi ra Trung, trừ một số sinh viên Bắc di cư 1954. Nhưng ngay cả những sinh viên di cư này cũng rất hiếm người ở lại học xá trong những ngày tết; họ đến với bà con, bạn bè, ở nhiều phố tại Sài Gòn, đặc biệt là phố Lê Thánh Tôn là nơi có rất nhiều tiệm giày sang trọng do người Bắc làm chủ.

 

Năm ấy không hiểu vì lý do gì, N. và tôi không về quê ăn Tết. Thì cũng thấy buồn buồn đấy, nhưng, không nói ra, chúng tôi đều đồng ý ngầm rằng mình đã lớn rồi, ăn Tết ở đâu thì cũng vậy thôi, "nam nhi bốn phương là nhà". Biết chừng đâu ăn tết xa nhà cũng có cái thú của nó. Còn lại hai đứa đi chơi với nhau cũng vui chán. Ban ngày chúng tôi đèo nhau trên xe Vespa chạy quanh đây đó, xem chợ hoa Nguyễn Huệ, bát phố, hoặc ghé quán cà phê trên đường Tự Do ngồi suốt cả buổi uống từng hớp cà phê thật đậm, hút thuốc lá Bastos xanh hết điếu này đến điếu khác, ngắm người ta qua lại, ngắm những cặp chân đẹp, những chiếc mini jupes thật ngắn bó quanh những cặp đùi thật tròn. Hồi đó váy ngắn đã bắt đầu cạnh tranh ráo riết với những tà áo dài tha thướt. Muốn chiếm ưu thế, váy càng ngày càng co lại ngắn hơn. Chỉ có phái nam là thiệt thòi, muôn năm với chiếc quần dài và cái áo sơ mi. Mọi người đều có một dáng dấp lạ lạ, tôi ngẫm nghĩ và quan sát kỹ hơn, thì ra họ vội vã hơn mọi ngày chứ không "tà tà" như chúng tôi.

 

Buổi tối chúng tôi ai về phòng nấy, cái phòng vắng teo, sáu ngươì ở nay còn một. Cũng thấy có lác đác dăm ba sinh viên đi lớ ngớ ở những dãy nhà khác, mỗi dãy nhà có 14 phòng, mà mấy hôm trước đó luôn luôn ồn ào, tấp nập người ra kẻ vào. Phố xá cũng vắng dần.

 

Cái buồn Tết xa nhà bắt đầu hiện lên nét mặt mỗi đứa, tuy chúng tôi không thú nhận cho nhau biết. Những ngày gần Tết, chúng tôi không biết làm gì, hết vào xinê thường trực Lê Lợi đến Vĩnh Lợi, trong khi trước đó bạn tôi vẫn nói Tết nhất mà rúc vào rạp chiếu bóng là cả một điều phí phạm. Phải biết thưởng xuân chứ! Ban đêm càng gần cuối năm, pháo tết càng nổ ròn, như nhắn nhủ, như trách móc, như kêu gọi, như thúc giục. Chúng tôi thấy bồn chồn cả dạ. Bạn tôi bàn đêm giao thừa mà mình ở nhà nằm suông thì nản lắm, chi bằng đi "nhảy đầm" tại câu lạc bộ Huỳnh Hữu Bạc ngay trước cổng vào phi trường Tân Sơn Nhất do Không Quân tổ chức. Không Quân rất "lả lướt", nghĩa là tổ chức dạ vũ rất hấp dẫn mà giá vé vào cửa lại không "cắt họng". Hai cô bạn gái thì đã liên lạc được, họ bằng lòng. Tôi đồng ý ngay, chúng tôi mua bốn vé. Lại bàn thêm rằng tiền hai đứa dồn lại sau khi mua bốn vé còn quá ít, mà đi với người đẹp con nhà tử tế thì mình phải "điệu nghệ", nhảy xong phải đưa người ta đi ăn khuya, đó là chưa kể mỗi cô phải có một gói quà. Tết nhất mà. Nhưng tiền đâu? Không còn ai để mượn, chỉ có cách đi đánh xì phé để "chấy hóa", có nghĩa là kiếm thêm tiền. Chúng tôi vẫn tự cho mình đánh xì cao, nhưng thực tế có đúng như thế hay không là chuyện khác.

 

Kết quả, chúng tôi cháy túi.

 

Sáng hôm ba mươi Tết chúng tôi phải đến nhà hai cô gái trổ tài nói láo, vì chuyện "chẳng đặng đừng" nên không thể đi dự đêm khiêu vũ giao thừa. Bốn cái vé thì chúng tôi biếu mấy thằng bạn ăn tết xa nhà như chúng tôi. Trở về Đại Học Xá vắng teo đêm hôm đó, hai đứa đến ngủ chung với nhau, nằm dài bụng lép kẹp trên chiếc đi văng bằng gỗ không nệm cứng ngắt, nghêu ngao hát giết thì giờ để đợi giao thừa. Hết Đêm Đông, Ly Rượu Mừng đến Bến Xuân, Gái Xuân, rồi Tết Này Con Không Về, v.v... Chúng tôi hát dở ẹc, nhưng cũng lấp đi được một phần nào cái bầu không khí quá im lặng chưa từng thấy tại Đại Học Xá. Bài hát được hát đi hát lại nhiều lần là nhại bài Tình Nhớ của Trịnh Công Sơn mà chúng tôi không biết tên tác giả. Có lẽ cũng giống như ca dao, tục ngữ, những bài hát nhại không có tác giả, hoặc là một "công trình" tập thể tha hồ thêm bớt cho đến khi nó ổn định. Tôi muốn nói chúng tôi có thêm bớt đôi chút cho bài nhại hợp với hoàn cảnh chúng tôi hơn:

 

Mình ngỡ nó đôi J

Ai ngờ nó đôi xì

Mình ngỡ nó hai đôi

Ai ngờ nó ba cây

Ôi! số sao mạt rệp

Cố theo lại bị bịp

Nên tiền thua hết sạch

Khiến cuộc đời đìu hiu...

 

Bỗng pháo nổ dồn dập và kéo dài, hai đứa không ai bảo ai đều thôi hát, ngồi nhổm dậy nghe ngóng rồi cùng lẩm bẩm: Giao thừa! Chúng tôi mở cửa, đi ra ngoài, vắng teo, trời tối đen, lại kín đáo nhìn quanh, không biết hướng nào là quê nhà. Tiếng pháo càng lúc càng vang rền khắp nơi, rồi vang mãi trong giấc ngủ chập chờn của chúng tôi.

 

Hai ngày hôm sau, mồng một và mồng hai Tết, chúng tôi không có tiền để ghé quán hàng ăn uống, mà hình như tất cả các tiệm phở, hủ tíu, bún bò Huế, bún ốc, bún thang, bún chả, bánh khoai chiên, mì quảng, mì thánh, mì sợi, đều đóng cửa. Những tiệm vừa nhắc đến, vào tết năm đó, nghe sao lôi cuốn quá! Họa chăng còn vài nơi bán cháo trắng hột vịt muối suốt đêm tại chợ cá Trần Quốc Toản, hoặc tại Ngả Tư Quốc Tế, một đồng một chén cháo trắng, thêm một đồng nữa, được thêm gần một nửa hột vịt muối, thêm hai đồng, được thêm nguyên hột. Món ăn bình dân này dành cho phu đạp xích lô, những người hay đi chơi khuya, những cô gái ăn sương, vân vân... Dù cháo trắng đi nữa cũng phải "tiền trao cháo múc", mà chúng tôi không có tiền!

 

Những lúc bụng quá cồn cào, chúng tôi đành phải gọi là đến thăm vài ba người bạn có bố mẹ hoặc bà con ở Sài gòn. Trước kia chúng tôi không bao giờ tới thăm họ. Cũng may mắn cho chúng tôi, tuy may mắn không được bao nhiêu, vào ngày Tết khi có khách đến, chủ nhà luôn luôn đem vài món ăn ra mời như nem, chả, dùng với rượu; mứt, hạt dưa, dùng với trà. Ầy là ăn lấy hương lấy hoa, chứ đâu dám thiệt tình. Ắn uống xong mà cặp mắt cứ hau háu, dáng dấp thì cỏ vẻ muốn nấn ná ngồi thêm. Nhưng "Đi thì cũng dở, ở không xong", cuối cùng chúng tôi cũng phải miễn cưỡng đứng dậy ngập ngừng nói mấy lời chúc tụng đầu năm khách sáo, nhạt nhẽo, trước khi ra khỏi cửa. Trên đường về lại bàn thêm – chúng tôi có cái tật ưa bàn bạc và cãi cọ nhau lắm – vì tụi mình là khách "quý" nên họ không mời bánh tét, hay xôi, hay cơm nguội, cơm cháy gì cũng được, là những thứ mình đang rất thèm. Lẽ dĩ nhiên chúng tôi cũng quá thèm thuồng, quá mong ước phải chi năm nay mình đừng trở chứng để cùng anh em về hưởng cái Tết đầm ấm tại quê nhà.

 

Ngự Thuyết

 

(1) Lỗ Tấn Tuyển Tập - Lễ Chúc Phúc - Giản Chi dịch

(2) Đoạn Tuyệt - Nhất Linh

 

 

■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■

Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách

Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập