Nhắc đến Nguyễn Khuyến, chúng ta thường nghĩ đến một nhà thơ của làng quê ao chuôm chiêm trũng, một ngòi bút tự trào, một tấm lòng chân thành thắm thiết đối với thê tử bằng hữu, một tác gia vừa nôm vừa hán và cả nôm cả hán v.v.. Nhưng dường như chưa có ai để ý đúng mức đến chi tiết nhà nho làng Yên đổ rất chăm chỉ đếm tuổi đời. Niên kỷ là một thông tin thi ca mà người hàn sĩ, anh khoá Thắng, ông giải nguyên, vị Tam nguyên, rồi viên quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu thường ưa thích nhắc đến, và nhắc đến rất chính xác, theo một nhịp độ ngắn và một tần số cao, y như một công chức tự khai lý lịch hành chánh.
Mới hai mươi chín tuổi - tuổi ta! - đã có thơ ghi lại niên tuế :
Nghĩ tôi, tôi gớm cái mình tôi,
Tuổi đã ba mươi kém một thôi.
(Vị đệ tự trào) (1)
Từ tuổi trung niên trở đi, thi sĩ đều đặn cắm mốc thời gian. Và thời điểm chuyển biến là năm năm mươi tuổi, năm cáo quan về nghỉ hưu non. Chúng ta đều biết chẳng phải chỉ vì nhân đáo trung niên vạn sự hưu, nên nhà nho treo ấn trở lại vườn Bùi khi gánh nặng thời gian lịch học trên đôi vai gầy vừa tròn nửa thế kỷ :
Ngũ thập hưu ông, bán mẫu đường,(2)
Bắc song cao ngoạ bán thanh lương.
(Túy hậu)
(Ông lão về hưu năm mươi tuổi với cái ao nửa mẫu,
Nằm khểnh bên song phía bắc, được chút ít mát mẻ)
(Sau khi say)
Ngô niên ngũ thập triếp huyền cư,
Quốc ngũ nguyên canh, tuế ngũ trừ.
(Tự thuật)
(Ta mới năm mươi tuổi đã cáo quan về nghỉ,
Nước đã năm lần thay niên hiệu, năm đã năm lần tết)
(Tự thuật)
Ngũ thập suy niên bạch phát tân,
Bất kham ưu bệnh, thả ưu bần.
(Bài muộn)
(Tuổi năm mươi đã già yếu, tóc bắt đầu điểm bạc,
Chỉ lo ốm lo nghèo, khó lòng chịu nổi).
(Giải buồn)
Ngũ tuần bạch phát tiễn hưu quan,
Thất xích hoàng tâm dục mãi quan.
(Tuế đinh hợi, hữu nhân...)
(Năm mươi tuổi tóc bạc, mừng về nghỉ việc,
Muốn mua cỗ áo quan gỗ hoàng tâm bảy thước)
(Năm đinh hợi, có người...)
Ông chẳng hay ông tuổi đã già,
Năm mươi ông cũng lão đây mà!
(Lên lão)
Tuần tự sau đó là những dòng thơ vẽ bức tranh thang tuổi tác.
- Quá năm mươi tuổi:
Bách niên khuất chỉ kim du bán,
Thập sự luân tâm cửu bất như.
(Kiến lại)
(Bấm đốt tay cuộc đời trăm năm nay đã quá nửa,
Trong mười việc nghĩ lại có chín không vừa ý)
(Thấy nha lại đến)
- Năm năm mươi mốt tuổi:
Năm mươi mốt tuổi tôi hay,
Xem chừng tóc bạc, răng lay, mắt loà.
(Mừng cụ Đặng Tự Ý bảy mươi tuổi)
- Năm năm mươi ba tuổi :
Đồi nhiên mao phát tiệm sam sam,
Bất giác niên đăng ngũ thập tam.
(Xuân nhật thị chư nhi)
Tuổi thêm, thêm được tóc râu phờ,
Nay đã năm mươi có lẻ ba.
(Ngày xuân dặn các con)
- Năm năm mươi bốn tuổi:
Khả liên ngũ thập tứ niên ông,
Diện cấu, tu ban, nhỡn hựu hồng.
(Tự thán)
(Đáng thương ông già năm mươi tư tuổi,
Mặt sạm, râu đốm, mắt lại đỏ)
(Tự than)
- Năm năm mươi lăm tuổi :
Ngô niên ngũ thập ngũ niên linh,
Xú thái ban ban lão tận hình.
(Lão thái)
(Tuổi ta đã năm mươi lẻ năm,
Tất cả mọi cái xấu đều lộ hết)
(Về già)
Ngô niên, thê niên ngũ thập ngũ,
Ngô tử mãi mộc tương vi quan.
(Tuế chế)
(Tuổi ta, tuổi vợ ta đều năm mươi lăm,
Con ta mua gỗ định làm áo quan)
(Sắm gỗ thọ)
Tính tuổi xuân thu trăm lẻ chục,
Nửa phần về bác, nửa phần tôi.
(Mừng anh vợ)
- Năm năm mươi sáu tuổi :
Ngô niên ngũ thập lục chi niên,
Hàn vũ vi phi nhị nguyệt thiên.
(Xuân hứng)
(Tuổi ta là tuổi năm mươi sáu,
Mưa lạnh lất phất, trời đang tháng hai).
(Hứng xuân)
- Năm sáu mươi tuổi :
Trời hẹn ngày, cho ba vạn sáu,
Ta chung tuổi, mới một trăm hai.
(Gửi bác Châu Cầu)
- Ngoài sáu mươi tuổi :
Nhàn thời ngô tự khán kim ngô,
Lục thập dư niên nhất trượng phu.
(Bệnh trung)
(Lúc rỗi tự nhìn cái thân ta,
Một đấng trượng phu ngoài sáu mươi tuổi)
(Trong lúc ốm)
Ngô niên lục thập dư,
Hốt sinh lưỡng chỉ trảo.
(Chỉ trảo)
(Tuổi ta đã sáu mươi có lẻ,
Bỗng nảy sinh hai móng tay)
(Móng tay)
- Năm sáu mươi bảy tuổi :
Công niên thiểu dư tuế,
Dư bệnh hựu công tiên.
(Vãn đồng niên Vân đình Tiến sĩ Dương Thượng thư)
Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác,
Tôi lại đau trước bác mấy ngày.(3)
(Khóc Dương Khuê)
- Năm bảy mươi bốn tuổi, bài thơ tính tuổi cuối cùng, trước khi mất một năm:
Năm nay tớ đã bảy mươi tư,
Rằng lão rằng quan tớ cũng ừ.
(Đại lão)
Nhà thơ làng Vị hạ còn chân tình nhớ rõ tuổi tác bạn bè thân thuộc:
- tuổi ông hương sinh họ Nguyễn :
Ngũ thập kỳ nho anh vị hài,
Ngũ gian mao ốc hỉ sơ tài.
(Hạ nhật thư hương sinh Nguyễn thị trang)
(Ông là nhà nho năm mươi tuổi mà con còn ẵm ngửa,
Mừng cho ông mới dựng được năm gian nhà tranh)
(Ngày hè đề nhà hương sinh họ Nguyễn)
- tuổi ông bạn học Lê Sĩ Nhân ở Chi long :
Tiên ngã sinh lai thập thất tuế,
Thử hồi năng đắc thái bình tao.
(Tặng song khế Chi long sĩ nhân Lê đài)
(Bác sinh trước tôi mười bảy năm,
Lúc đó có gặp cảnh thái bình chăng)
(Tặng bạn học là bác Lê ở Chi long)
Không những chỉ tính toán tuổi tác để gần như viết thành một cuốn niên phổ, trong suốt cuộc đời thiếu mười ngày đủ bảy mươi bốn năm - Nguyễn Khuyến mất ngày 05.02.1909 - quan Hoàng giáp đã nhiều lần làm thơ nhắc đến số năm vật lý, lịch học, chẳng hạn trong các thi phẩm chữ hán sau đây :
- nửa năm : Bắc phiên Dương niên ông hành thứ.
- một năm : Ký Khắc niệm Dương niên ông, Tặng hành nhân Nguyễn đài, Dữ Thị độc Trần đài ẩm thoại.
- hai năm : Thanh giang tự thị thử.
- bốn năm năm : Ký Duy tiên án sát sứ.
- sáu năm : Kiến lại.
- sáu bảy năm : Châu giang Bùi thượng thư kinh hồi, dục phỏng bất quả, thi dĩ ký.
- bảy năm : Vãn thiếp Phạm thị; Tiễn môn đệ Nghĩa định Sứ quân Lê Như Bạch, nhân ký kinh thành chư môn đệ (kỳ nhất); Tiễn môn đệ Nghĩa định Sứ quân Lê Như Bạch, nhân ký kinh thành chư môn đệ (kỳ nhị).
- mười năm : Thư ký Nam đốc Dương niên ông.
- mười hai năm : Ký trình Sử quán Bích khê Hoàng Sư Cát.
- hai mươi năm : Thoại tăng, Xuân hứng.
- ba mươi năm : Ký phỏng Dương thượng thư, Hoàn kiếm hồ.
- bốn mươi năm : Dữ hữu nhân Đồng, Tốn dạ thoại; Bùi viên biệt thự hỉ thành.
- sáu mươi năm : Dao xỉ.
Đương nhiên công việc liệt kê như thế này chỉ là một toan tính có chức năng dẫn liệu, nó không hề đầy đủ.
Nguyễn Khuyến cần mẫn viết niên giám vận văn để lại cho chúng ta, rõ nhất là thời gian từ năm mươi đến sáu mươi tuổi. Không chủ yếu nhằm vào việc miêu tả quá trình hình thành tính cách bản thân trong tương quan với hoàn cảnh, nhà thơ ghi lại mỗi năm hay mỗi vài ba năm những câu chuyện đời tư, dật sự, những trạng thái đạo đức, phong hoá. Nguyễn Khuyến chăm chỉ năm này qua năm khác ký thác cho ngàn sau những mảnh đời hiện thực, không hư cấu. Nhà nho làng Vị hạ truyền đạt những niên điểm sinh sống cá nhân hoặc bằng hữu, nhiều khi có cả can chi thời gian, có cả địa chỉ nhân vật hẳn hoi. Đọc những bài thơ chữ nôm chữ hán với câu thơ ghi thời gian thường là câu thứ nhất, chúng ta có cảm tưởng thi sĩ bước từ lĩnh vực thi ca sang loại hình văn học ký. Ngòi bút dựng lại những sự thật đời sống cá biệt một cách sinh động, chứ ít xây dựng các hình tượng mang tính khái quát. Tính khái quát đứng đằng sau những hàng chữ khối vuông: tác giả thể hiện nó và bắt người đọc thể hiện nó bằng suy tưởng. Cho nên các tiểu tiết của tác phẩm thi ca Tam nguyên Yên đổ mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư duy. Tính chính xác của chi tiết hiện thực - trong trường hợp chúng ta đang bàn là niên đại, niên kỷ - phản ảnh chân dung, cử chỉ, hành vi, ngôn ngữ, nội tâm nhà thơ. Những năm, niên, tuế, tuần v.v.. trong ngôn ngữ thi ca Nguyễn Khuyến mang bản chất sáng tạo khái quát, biểu hiện cảm xúc của chúng. Chúng "nói" nhiều hơn chính chúng. Các con số vốn dĩ vô hồn bỗng nhiên có khả năng thể hiện, giải thích, minh xác cấu tứ nghệ thuật của hồn thơ; chúng trở thành tiêu điểm, tụ điểm của tư tưởng, tâm tình tác giả trong thi phẩm. Năm, niên, tuế, tuần v.v..hoá thân thành chi tiết nghệ thuật trong thi ca Nguyễn Khuyến. Những tín hiệu thời gian trong các bài thơ gắn chặt với cá tính nghệ thuật của nhà thơ, cho dẫu đó là những câu thơ nói rõ tuổi đời tác giả (Vườn Bùi chốn cũ, Vịnh lụt, Mừng anh vợ v.v..) hoặc những câu thơ khắc hoạ hình tượng nhân vật trữ tình ở một chặng đường đời cụ thể của nhà thơ (Lên lão, Đại lão v.v..). Từ một góc độ nhất định và ở một chừng mực nhất định, Nguyễn Khuyến, qua loạt bài thơ ghi thời gian, là một người cảm nhận rõ ràng lịch sử.
Và con người Nguyễn Khuyến từ thuở bắt đầu biết làm thơ cho đến những năm cuối cổ lai hy là vậy. Chính xác, kỹ lưỡng, trí tuệ sáng, ký ức tốt.
Cho đến...
■
Nguyễn Khuyến mở đầu một bài thơ chữ Hán bằng câu :
Ngã niên trị bát bát.
Cũng có dị bản ghi là:
Ngã niên cập bát bát.
Đây là một câu thơ và một bài thơ gây thắc mắc, tạo bàn cãi nhiều. Thi phẩm là một bài ngũ ngôn khá dài, nội dung tóm tắt cuộc đời nhà thơ trước khi chuyển qua dặn dò con cháu nên tổ chức tang lễ của mình như thế nào. Cho nên có tài liệu văn học ghi đầu đề bài thơ là Di chúc, Bài di chúc hay Di chúc văn:
- Văn đàn bảo giám, Trần Trung Viên sao lục, tập II, Đại Nam in lại ở quốc ngoại, trang 79;
- Thơ văn Nguyễn Khuyến, Nhà Xuất bản Văn học, Hà nội, 1979, trang 167 (chữ quốc ngữ) và 444 (chữ hán phiên âm);
- Hợp tuyển thơ văn Việt nam 1858-1920, Huỳnh Lý chủ biên, Nhà Xuất bản Văn học, Hà nội, 1984, trang 412;
- Thơ Nôm, Bùi Văn Bảo, Nhà Xuất bản Quê hương, Toronto, Canada, trang 51.(4)
Riêng cuốn Nguyễn Khuyến - tác phẩm, Nguyễn Văn Huyền sưu tầm, biên dịch, giới thiệu, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà nội, 1984, ghi đầu đề là Trị mệnh và cho biết các văn bản chữ hán đều chép là Trị mệnh chứ không phải là Di chúc (trang 564).
Chi tiết này đáng để ý. Đầu đề một bài thơ, một cuốn sách thường có hai chức năng chính: thông tin và khiêu động. Chức năng thông tin đề cập chẳng hạn đến nội dung đạo đức hay triết học như La Nausée ; chức năng khiêu động nhằm cật vấn trí tuệ, kích thích tưởng tượng, chẳng hạn Les Fleurs du Mal. Chọn hai chữ trị mệnh làm đầu đề bài thơ, Nguyễn Khuyến đã dùng chữ rất đắt.
Về điển tích, nó dẫn chuyện từ Xuân Thu tam truyện, Tả truyện, Tuyên công thập ngũ niên, Tần nhân phạt Tấn. Mùa thu tháng bảy, Tần Hoàn công đánh Tấn. Tướng Tấn là Ngụy Khoả đánh tan quân Tần, bắt được Đỗ Hồi, người nổi tiếng khoẻ nhất nước Tần. Bố Ngụy Khoả là Ngụy Vũ Tử nguyên có người thiếp yêu không con. Ngày thường, Ngụy Vũ Tử dặn con khi mình chết hãy cho người thiếp về lấy chồng, đến khi bệnh nặng thì lại dặn phải chôn người thiếp cùng với mình. Lúc bố chết, Ngụy Khoả cho người thiếp về, lấy cớ là theo lời dặn lúc cha còn tỉnh (trị mệnh) chứ không theo lời cha lúc đã bán hôn mê (lọan mệnh). Nguyên văn chữ hán viết về lời Ngụy Khoả lập luận: "Tật bệnh tắc loạn, ngô tòng kỳ trị dã" (ốm nặng thì trí loạn, ta theo mệnh lúc còn sáng suốt). Khi lâm chiến với Đỗ Hồi, Ngụy Khoả cứ thấy thấp thoáng hình bóng một ông già liên tục kết cỏ vào chân ngựa Đỗ Hồi khiến Đỗ Hồi vướng ngã rồi bị bắt. Đêm Ngụy Khoả nằm mộng thấy ông già hiện về nói : "Tôi là cha người thiếp mà ông đã gả chồng cho. Vì ông theo mệnh lúc sáng suốt nên nay tôi báo đền." (nguyên văn chữ Hán: ).
Khi soạn bài minh cho mộ chí Phó Chính Nghị, Lục Du, nhà thơ nhà từ lớn đời Tống, viết : "Công vong dạng thì, (...) tuy nguyệt nhật mạc bất hữu trị mệnh." [Thời gian ốm đau,(...) ông qua ngày qua tháng vẫn không có lời trị mệnh]. Thẩm Kình đời Minh, trong Song châu ký, viết : "Khả liên cổ nhân tòng kỳ trị mệnh, bất tòng kỳ loạn mệnh." (Đáng thương người xưa theo lời trị mệnh, không theo lời loạn mệnh). Mathews' Chinese-English Dictionary, Harward University Press, Cambridge, Massachusetts, 1966, mục từ 1021, trang 141, giảng nghĩa trị mệnh (chữ trị bộ thủy, như trị bệnh, trị liệu thuộc thuật ngữ y học) là dying requests that may be carried out; còn Herbert A. Giles, tác giả A Chinese-English Dictionary, Volume II, Bernard Quaritch, London,W., 1912, ở mục từ 7962, trang 987, chữ mệnh, thì hiểu tòng trị mệnh là to carry out rightful behests given as dying injunctions, as opposed to loạn mệnh (chữ hán, TVT phiên âm sang quốc ngữ) behests which should not be carried out.
Nguyễn Khuyến vốn rất thích Lục Du. Trong bài Tiễn người quen, nhà thơ nhắc đến Kiếm Nam thi cảo của thi nhân từ gia họ Lục:
Bến Tầm dương đọc câu giang thượng,
Thơ Kiếm Nam còn thoảng làm chi.
Nguyên văn chữ Hán :
Tống khách trùng ngâm giang thượng cú,
Ưu thời nan bổ Kiếm Nam thiên.
Nhà nho của chúng ta còn có cả một bài thơ chữ hán nhan đề Độc Kiếm Nam thi tập. Câu chuyện Ngụy Khoả-Đỗ Hồi là một điển rất quen thuộc của thi ca hán-nôm. Theo truyền thống văn chương chữ nghĩa đó, Nguyễn Khuyến lấy hai chữ Trị mệnh đặt đề cho bài thơ dặn dò con cháu về hậu sự là chuyện thông lệ tự nhiên và hợp tình hợp cảnh. Đề bài Trị mệnh đã được bảo chứng, nhà nho đã "nạp bản" nó cho thư tịch văn học Việt nam.
Bây giờ xin đến điểm xuất phát, bây giờ xin bàn về hai chữ bát bát. Thông thường, bát bát nghĩa là tám mươi tám. Nghĩa thông dụng đó được dùng khi đánh số trang sách chẳng hạn. Nhưng nếu hiểu bát bát trong câu thơ Nguyễn Khuyến là tám mươi tám thì đây là một thủ pháp cách điệu bất chấp sự thật, và đó không thể là phong cách nhà nho làng Vị hạ. Nhà thơ của chúng ta suốt cả đời chi ly cẩn trọng tính tuổi, ghi tuổi, nhẩm tuổi, nhớ tuổi để rồi khi không nói sai cả tuổi bản thân lúc sáng tác một thi phẩm với chủ đích nhấn mạnh lời dặn của mình cho con cháu là lời phát biểu lúc sáng suốt, có suy nghĩ chín chắn, cần phải làm theo! Sáng suốt, chín chắn mà mở đầu bằng sai lầm, lẫn lộn! Và sai lầm về một vấn đề không thể sai là tuổi tác, lẫn lộn về một thông tin không thể lẫn là niên kỷ! Tuổi tác, niên kỷ của chính mình chứ không phải của tha nhân! Cho nên có nhiều phần chắc Nguyễn Khuyến chẳng hề ghi sai mà chỉ có thể người đời sau hiểu lời thơ không đúng. Vì vậy bài viết đã dẫn trên Tập san Y sĩ cho rằng "(...)tính như vậy, cụ chỉ thọ 76 tuổi (...)" và "vậy tuổi thọ cụ năm đó đã 88 rồi." Còn cuốn Hợp tuyển thơ văn Việt nam 1858-1920 dẫn thượng thì...bí quá nên đành chú thích huê dạng: "Nguyễn Khuyến mất năm 1909, thọ 75 tuổi; có lẽ xưa, các cụ thường tăng tuổi thọ."!!
Hai chữ bát bát dùng trong văn cảnh sinh học, y học không có nghĩa tám mươi tám mà có nghĩa sáu mươi tư. Tương tự như vậy, trong thư tịch sinh lý học, bệnh lý học Trung y, thất thất là bốn mươi chín, không phải bảy mươi bảy. Tập sách gối đầu giường của các cụ lương y, sách Hoàng Đế Nội kinh Tố vấn, viết, và viết ngay ở chương đầu tiên, chương Thượng cổ thiên chân luận, khi bàn về sinh lý sinh dục chính thường nam nữ (dịch thoát và dịch gọn) :
"Hoàng Đế hỏi: Người đến tuổi già thời không sinh con, vì tinh lực hết chăng? Hay là tại số trời? Kỳ Bá thưa: Con gái bảy tuổi thời thận khí đầy đủ, răng đổi tóc dài; hai bảy thì thiên quý sinh ra, nhâm mạch thông, thái xung mạch thịnh, kinh nguyệt đúng kỳ xuống nên mới có con. Đến năm ba bảy, thận khí điều hoà, chân nha mọc hết. Đến năm bốn bảy, gân xương đều bền rắn, tóc dài hết mực, thân thể khoẻ mạnh. Đến năm năm bảy, dương minh mạch suy, vẻ mặt bắt đầu khô khan, tóc bắt đầu rụng. Đến năm sáu bảy, mạch của ba kinh dương suy kém ở trên, vẻ mặt khô khan hẳn, tóc bạc. Đến năm bảy bảy, nhâm mạch hư, thái xung mạch kém, thiên quý hết, địa đạo không thông, cho nên thân thể hao mòn mà không có con. Con trai tám tuổi thì thận khí đầy đủ, tóc dài, răng đổi. Đến năm hai tám, thận khí thịnh, thiên quý đến, tinh khí đầy tràn, âm dương điều hoà nên mới có con. Đến năm ba tám, thận khí điều hoà, gân xương cứng mạnh, chân nha mọc hết. Đến năm bốn tám, gân xương đầy đủ, cơ nhục nở nang. Đến năm năm tám, thận khí suy dần, tóc rụng, răng se. Đến năm sáu tám, dương khí suy kiệt ở trên, vẻ mặt khô khan, râu tóc đốm trắng. Đến năm bảy tám, can khí suy, sự cử động của gân yếu, thiên quý giảm, tinh ít, thận tượng sút, toàn thân mỏi mệt. Đến năm tám tám, thiên quý hết, tinh thiếu, thận suy, hình thể tột bực, răng tóc đều rụng."
Trong đoạn kinh văn này, các số liệu hai bảy, ba bảy, bảy bảy v.v.. phải được hiểu là mười bốn, hai mươi mốt, bốn mươi chín chứ không phải hai mươi bảy, ba mươi bảy, bảy mươi bảy; hai tám, ba tám, tám tám v.v..là mười sáu, hai mươi tư, sáu mươi tư, chứ không phải hai mươi tám, ba mươi tám, tám mươi tám. Nguyên văn chữ hán các câu quan trọng, trực tiếp liên hệ đến bài viết này, như sau :
- "thất thất, nhâm mạch hư, thái xung mạch suy thiểu, thiên quý kiệt, địa đạo bất thông, cố hình hoại nhi vô tử dã."
- "bát bát, thiên quý kiệt, tinh thiểu, thận tượng suy, hình thể giai cực, tắc xỉ phát khứ."
Nhưng không phải chỉ y khoa, sinh lý mới hiểu theo cung cách vừa kể. Văn chương phong nhã cũng có cùng lề lối tính toán. Chẳng hạn bài tứ tuyệt được xem là do khẩu khí Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn lúc còn niên thiếu với hai câu đầu:
Tứ thất uẩn hung trung
Bát bát thám dịch tượng
(Bốn bảy chứa chất trong lòng
Tám tám xét tượng Kinh Dịch)
trong đó bát bát nhằm chỉ sáu mươi bốn trùng quái. Chẳng hạn trường hợp đôi câu đối tương truyền đã được trao đổi trong sứ trình Trạng nguyên Mạc Đỉnh Chi nơi triều đình phương bắc, ghi lại trong Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề :
Lạc thủy thần qui đơn ứng triệu, thiên số cửu, địa số cửu, cửu cửu bát thập nhất số, số số hỗn thành tam đại đạo, đạo hợp nguyên thủy thiên tôn nhất thành hữu cảm.
Kỳ sơn minh phượng lưỡng trình tường, hùng thanh lục, thư thanh lục, lục lục tam thập lục thanh, thanh thanh hưởng triệt cửu trùng thiên, thiên sinh Gia Tĩnh Hoàng đế vạn thọ vô cương.
Không cần chú giải nghĩa lý, chỉ cần lưu ý là vế ra có cửu cửu bát thập nhất nghĩa là chín chín = tám mươi mốt (chứ không phải chín mươi chín) và vế đối có lục lục tam thập lục nghĩa là sáu sáu = ba mươi sáu (chứ không phải sáu mươi sáu). Hiểu bát bát là sáu mươi tư cũng là lối hiểu của Herbert A. Giles (tlđd ), mục từ 8504, trang 1039 và Mathews (tlđd ) mục từ 4845, trang 670: trong cả hai tài liệu tham khảo, bát bát đều được chuyển sang Anh ngữ là sixty-four.
Do hiểu bát bát là tám mươi tám nên các tài liệu văn học đã dẫn (Văn đàn bảo giám, Thơ văn Nguyễn Khuyến, Hợp tuyển thơ văn Việt nam 1858-1920, Thơ Nôm) ghi bản dịch bài Trị mệnh sang quốc ngữ tương truyền là do chính Nguyễn Khuyến chấp bút với câu đầu:
Kém hai tuổi xuân đầy chín chục.
hoặc :
Còn hai xuân nữa đầy chín chục.
Nhà thơ làng Vị hạ vốn có nét đặc biệt là sáng tác những thi phẩm liên kết hai dạng hán và nôm, qua hình thức tự diễn nôm những bài thơ chữ hán của chính mình. Nhưng nếu thế thì cách hiểu nghĩa câu đầu bài thơ Trị mệnh trở thành một nghịch lý. Để giải đáp bài toán này, có ức thuyết cho rằng bài dịch nôm thật ra vốn không phải của nhà thơ mà do Phó bảng Trần Tán Bình, môn sinh Nguyễn Khuyến, dịch trong buổi lễ đưa ma quan Hoàng giáp (Thơ văn Nguyễn Khuyến, tlđd, trang 167, chú thích 1), và người dịch đã không hiểu đúng ý chủ nhân nguyên tác.
Chuyện hai chữ bát bát chưa chấm dứt. Nguyễn Văn Huyền, tác giả Nguyễn Khuyến - tác phẩm, chú thích rằng: "Theo Từ Hải, 'bát bát' còn được phát âm là 'ba ba' để gọi những người tuổi tác, theo cách gọi của các tộc người phía nam Trung Quốc. Tác giả dùng chữ này với nghĩa ấy và cũng để đối chữ với 'cửu cửu' ở câu dưới." Và Nguyễn Văn Huyền cho đăng một bản dịch mới sang quốc ngữ của Ngô Linh Ngọc với câu đầu :
Tuổi ta kể cũng đà đến cõi
mà không đăng bài "Di chúc" chữ nôm rất quen thuộc từ trước đến nay.
Trước hết, cần nói rằng từ điển Từ Hải có ấn bản ghi hai chữ bát bát như Nguyễn Văn Huyền cho biết, có ấn bản không ghi hai chữ đó. Và nếu có ghi bát bát thì từ điển yêu cầu tham chiếu mục từ ba ba (khán ba ba điều). Tuy nhiên là từ điển phổ thông nên Từ Hải thích nghĩa không đầy đủ. Các từ điển lớn, loại bách khoa, giải thích chi tiết hơn.
- Hán ngữ đại từ điển, La Trúc Phong chủ biên, quyển 2, Joint Publishing Co., Ltd., Hongkong, 1988, ghi cho từ bát bát ba nghĩa với nghĩa thứ nhất là tiếng gọi người già cả (lão giả chi xưng), nghĩa thứ hai là sáu mươi tư (bát bát đích thừa tích, tức lục thập tứ ), nghĩa thứ ba là để gọi hai vật khác nhau hoặc ngược nhau (vị nhị vật phân dị hoặc tương bội).
- Trung văn đại từ điển, đệ tứ quyển, Trung quốc văn hoá nghiên cứu sở, Trung hoa dân quốc ngũ thập nhị niên nhị nguyệt xuất bản, The Encyclopedic Dictionary of the Chinese Language, Vol.4, The Institute for Advanced Chinese Studies, Feb.1963, ghi cho bát bát năm nghĩa với ba nghĩa đầu tương tự như Hán ngữ đại từ điển, và hai nghĩa sau thì không liên quan đến nội hàm hai chữ bát bát của Nguyễn Khuyến. Từ điển này ghi nghĩa 1 của bát bát như sau: "Di ngữ vị lão thành giả dã hoặc xưng ba ba, bả bả. Kim nhân do dĩ chi xưng phụ dã. Thông nhã : bát bát, ba ba dã, kim Hồi giáo dĩ lão thành giả hô bát bát, kỳ thanh cận bả. Chính tự thông : bả di ngữ xưng lão giả vi bát bát hoặc ba ba, hậu nhân nhân gia phụ tác bả tự." Đại khái từ điển cho biết bát bát là chữ giống người di (mọi rợ!) dùng để gọi người già cả, cũng xưng là ba ba, bả bả, rồi từ đấy, dùng để gọi bố. Theo Thông nhã thì bát bát là ba ba; Hồi giáo gọi người già là bát bát, nghe như bả. Theo Chính tự thông thì các sắc tộc di gọi người già là bát bát hay ba ba, người đời sau nhân đó thêm chữ phụ vào để tạo thành chữ bả. Còn nghĩa thứ hai là nghĩa toán học quen thuộc : kỳ thừa tích vi lục thập tứ dã [(tám) nhân lên với (tám) thành sáu mươi tư].
Tuy nhiên lập luận của Nguyễn Văn Huyền không giàu tính thuyết phục vì bát bát để chỉ người già cả không phải là chữ nghĩa văn chương tao nhã. Mục văn tuyển trong cả hai bộ từ điển bách khoa đồ sộ đều không trích dẫn câu thơ câu văn chữ hán nào có hai chữ bát bát. Trong khi đó thì Hán ngữ đại từ điển trích tuyển thư tịch liên quan đến bát bát với nghĩa sáu mươi tư : "Hán thư, Luật lịch chí thượng : Thống bát quái, điều bát phương, lý bát chính, chính bát tiết, hài bát âm, vũ bát dật, giám bát phương, bị bát hoang, dĩ chung thiên địa chi công, cố bát bát lục thập tứ." Các khái niệm bát âm, bát dật, bát hoang, bát phương, bát quái, bát tiết là những khái niệm quen thuộc của nền văn hoá Hán tộc thuộc các lĩnh vực nhạc học, khiêu vũ, địa lý, dịch học, lịch học. Vả lại động từ trị (hay cập) trong câu thơ Nguyễn Khuyến mang hàm nghĩa vừa đúng, vừa vặn, đạt đến, đạt được. Cho nên túc từ của nó không thể có nội dung bất định, mơ hồ. Cho nên chỉ có thể hiểu Ngã niên trị bát bát (hay Ngã niên cập bát bát) là : Tuổi ta vừa chẵn bát bát, tức là vừa chẵn sáu mươi tư. Hiểu khác đi thì không ăn khớp với văn cảnh câu thơ trong toàn bài thơ và nhất là không phù hợp với phong cách sáng tác "ghi niên phổ" mà Nguyễn Khuyến theo suốt cả cuộc đời mình. Huống chi thơ Nguyễn Khuyến thường hay dùng lối song quan, một từ có hai nội hàm ngữ nghĩa, có nghĩa mặt chữ và nghĩa bóng ngầm. Bát bát đối với cửu cửu :
Ngã niên trị bát bát,
Ngã số phùng cửu cửu.
thì số từ, loại từ, vị trí và nhiệm vụ ngữ pháp đều hoàn chỉnh, cân bằng; ngoài ra về nội dung tức là về ý thì hai câu thơ - gọi là hai vế đối cũng được - được đặt với ý tương quan và song quan. Bát bát và cửu cửu, cả hai không được hiểu theo nghĩa dụng ngữ thường nhật mà theo nghĩa đặc thù sinh học (bát bát), dịch học (cửu cửu).
Vốn dĩ số Nguyễn Khuyến là số dương cửu, giống như số Dương Khuê :
Buổi dương cửu cùng nhau hoạn nạn,
Phận đẩu thăng chẳng dám than trời.
(Khóc Dương Khuê)
Tuổi thì sáu mươi tư, số thì hội dương cửu.
Nguyễn Khuyến được sáu mươi bốn tuổi vào năm 1899. Năm đó vinh vệ khí huyết chắc chưa đến nỗi suy kiệt bất túc. Hai bán cầu đại não còn đủ khả năng hưng phấn. Biết rằng và muốn rằng phải trị mệnh nên Nguyễn Khuyến đã làm bài thơ khá lâu trước khi từ trần: mười năm. Chỉ ba năm sau, năm 1902, nhà thơ sẽ bảo và mới bảo rằng mình sắp xuống huyệt :
Thẩn dư bệnh thả bần,
Hành niên cận khâu huyệt.
(Nhâm dần hạ nhật)
(Huống chi ta đã ốm lại nghèo,
Tuổi tác gần kề miệng lỗ)
(Ngày hè năm Nhâm dần)
Vốn là một tay cự phách trên trường văn chương cử tử, đã học chữ Hán đến bạc đầu, đã thi đỗ đến Tam nguyên, nhưng nhà nho hay chữ có vẻ không sính khoe chữ. Tuy nhiên nhờ tài dùng chữ chính xác, nhờ khéo tận dụng khả năng tạo hình và gợi cảm của từ ngữ nên thơ Nguyễn Khuyến dời bước được từ khuynh hướng ước lệ cố hữu của thi ca cổ để sang lĩnh vực tự sự tả cảnh hiện thực. Bài Trị mệnh dùng chữ kép bát bát như một số liệu sinh học, toán học. Cho nên có nhiều phần chắc nó chỉ có thể có nghĩa là sáu mươi tư. Và nếu hiểu như vậy thì có lẽ câu thơ dịch mở đầu lời dặn sáng suốt thay vì
Kém hai tuổi xuân đầy chín chục
nên là
Kém sáu tuổi xuân đầy bảy chục.
Trần văn Tích
22.01.02
1) Vị đệ tự trào nghĩa là tự giễu khi chưa đỗ. Năm sau nhà thơ sẽ đỗ giải nguyên trường Hà.
(2) Đường là cái ao hình vuông. Đây chắc là cái ao đã trở thành bất tử trong bài Thu điếu (Mùa thu câu cá).
(3) Nguyễn Khuyến sinh ngày 15.02.1835, Dương Khuê sinh năm 1839. Như vậy, kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác là bốn năm. Dương Khuê mất năm 1902, tính ra lúc này Nguyễn Khuyến được 1902 - 1835 = 67 tuổi.
(4) Ghi theo Tập san Y sĩ, Hội Y sĩ Việt nam tại Canada chủ trương, số 152, tháng 01.2002, trang 15.
■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■
Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách
Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập