bút pháp*hồ sĩ khuê |
Trẻ thơ, xem Thầy tôi viết trướng liễn, tôi vui mắt mà biết yêu chữ. Chữ nghĩa có chi đó thần kỳ, khiến tôi lớn lên đam mê sách vở thành ra vụng dở việc đời, vợ con đùa cợt không sai. Xin gợi lại chuyện bút pháp ngày xưa. Chắc không khỏi có chỗ lờ mờ.
Chữ là để viết ghi chú sự việc, làm sách làm văn. Bút pháp cũng chỉ là viết chữ. Nhưng là một lối viết chữ công phu, theo phương pháp và lề thói riêng, biểu hiện một phong cách sinh hoạt, không dùng làm văn, viết sách được. Họa hoằn, bút pháp có thể dùng viết một bài văn ngắn. Văn dài không viết nổi, vì phải dụng công nhiều.
Nói đến bút pháp là nói đến các bức hoành (viết ngang), bức trướng (viết dọc), và liễn (hai câu đối). Gọi chung là trướng liễn thương ai chịu lạnh lùng...(thơ Phan thanh Giản đọc chại: trướng liễu thương ai chịu lạnh lùng). Có khi cũng gọi là liễn đối. Trướng liễn viết lúc vui, viết lúc buồn, có khi viết cho mình, có khi viết cho người, công trình mỗi lúc mỗi khác. Thời học Hán, tường nhà nào cũng có treo trướng, treo hoành, treo liễn, như ngày nay treo tranh vẽ hay treo ảnh. Không phải nhà nho, cũng có người sính treo, mượn điều trang trí nhà cửa mua chút văn học làm vui.
Bút pháp là cung cách nhà nho dùng xử thế. Vui cũng dùng đến, buồn cũng dùng đến. Những biến cố bất thường, nhất là chuyện đau buồn, trướng hoành trang trọng, thường được dùng hơn cả. Gặp vận hội may mắn, có thể dùng trướng hoành, nhưng ít chữ thành cô đọng, không nói hết điều vui thích. Câu đối hợp cảnh hơn, nên thường dành riêng cho các dịp này, thù tạc vãng lai, trà dư tửu hậu, hoặc để phúng thích, trào lộng, cợt đùa giữa bạn bè. Liễn nhiều, trướng hoành hiếm, vì thế.
Chữ Hán dùng bút lông, viết mà như vẽ. Viết đến mức tinh vi, chữ viết thành tranh, là bút pháp. Nhà nho dùng bút pháp ký thác tâm sự vào chữ, như họa sĩ gởi chút linh hồn vào tranh. Viết chữ đẹp đã là nghệ thuật, chữ nước nào cũng thế. ở lớp nhất trong giờ viết tập, thầy Niên dạy tôi nghệ thuật viết đẹp, nắn nót một số chữ cái la tinh, hoặc tròn, hoặc dài, hay gothique. Nghệ thuật bút pháp thì khác, không chỉ đơn thuần viết chữ cho đẹp, mà còn là cách thế người viết tung hoành nét bút mà hành văn, lấy chữ nghĩa thăng hoa tâm sự của mình. Viết đẹp đã đành, nhưng chữ đẹp còn là thứ yếu. Nội dung gởi gắm bên trong chữ nghĩa mới đáng kể. Nội dung chữ nghĩa tầm thường, là loại bút pháp mua chợ Tết. Nội dung kiệt xúc, chữ nghĩa thành bất hủ. Bài "Lan đình tự" của Vương Hy Chi (307-365) muôn đời truyền tụng, mãi đến nay còn bày bán ở Ba lê, là do sự kết tinh này giữa bút pháp và văn chương. (Xin xem Simon Leys - L'humeur, l'Honneur, l'Horreur. Ed. R. Laffont 1991 - Và xem MiFu and the Classical Tradition of Chinese Calligraphy. L. Laderose - Princeton University Press 1979).
Người quân tử, lúc đau buồn, đau tử biệt, đau sinh lý, đau đời dâu biển, phải làm chủ hoàn cảnh. Không thố lộ, tự nhiên nhi nhiên, nỗi mình mình biết, không để cho vương vấn lòng người. Những lúc ấy, nhà nho thường tự vấn, suy nghĩ về sự việc xảy đến cho mình, tự mình nói chuyện với chính mình. Đau cái đau của mình, nhà nho vượt lên trên hoàn cảnh, mượn bút mực ký thác tâm sự vào chữ nghĩa, dùng lương tri mà giữ lòng thanh thản. Và đấy chính là lúc cần phóng bút viết một bức hoành, hay một bức trướng, chọn chữ nghĩa cô đọng, súc tích, không cẩu thả, để giấu kín tâm tình. Năm chữ có khi đã là thừa, thường chỉ vài ba cũng đủ. Muốn hiểu, phải am tường điển tích, biết đến nơi các ẩn dụ bên trong. Tôi mất mẹ, Thầy tôi dùng bút pháp để chịu tang. Tục huyền, Thầy tôi lại bút pháp khúc quanh của đời mình. Lúc vận hội hanh thông, vui con mọn mới sinh, con gái vu qui, con trai thi đỗ, nhà nho dùng câu đối mừng điều hạnh ngộ. Nhưng phúc không được hưởng tận, dù chỉ là bằng chữ nghĩa. Nói đến chuyện may mắn một đời, người quân tử vui cái vui của mình, nhưng giữ mực khiêm cung, nhấn lên phúc phận trời cho, chứ không mang tài cán ra khoe mẻ hơn người. Và vui thích dù đến cực kỳ, vẫn giữ độ chừng mực, liễn đối không dài dòng quá vài ba mươi chữ. Nhưng khi phúng thích, có thể không cần giữ gìn quá đáng. Trà dư tửu hậu, bản chất trào lộng cho phép nhà nho phóng túng, nhất là nếu viết cho người.
Vui buồn có trọng đại, mới viết trướng viết hoành, nên chữ nghĩa rất cân nhắc. Hoàn cảnh đổi, trướng hoành phải thay cho đúng nhịp đời. Bức trước nhường chỗ trên tường cho bức đến sau, đánh dấu một khúc quanh mới trong gia đạo. Nếu là chuyện sầu thảm, phải dẫn điều an ủi theo lẽ cùng thông, quan niệm ở đời sướng hay khổ, đã đến cực độ tất quay chiều mà thay đổi, không nên trách Trời già độc địa...' Đã mang lấy nghiệp vào thân, cũng đừng trách lẫn trời gần, trời xa' (Kiều), nhà nho chịu ảnh hưởng nhà Phật, xem chuyện đau khổ con người trải qua, là việc thưởng phạt thừa trừ theo luật quả báo. Cũng đau xót như người, nhưng nhà nho dùng bút pháp mà hy vọng, ai không tường, ngỡ là cam phận. Hoành trướng đã treo, bao giờ cũng treo gian nhà giữa, như một ký hiệu mệnh trời, giúp con người vượt qua hoàn cảnh, tự mình hoà hợp với chính mình, để cuộc sống từ đấy trở về nhịp cũ, an lành. Con cháu sinh sau, nhìn vào trướng, đọc lại chuyện thăng trầm của ông cha, có thể tìm đạo lý ẩn dụ mà học việc đời.
Sướng, khiêm cung giữ mình. Khổ, không tuyệt vọng. Còn về chuyện sống chết, thì phụ mẫu, phu phụ, hay một người thân nào khuất bóng khi đủ tuổi trời, người quân tử tri thiên mệnh, biết đấy là lẽ vạn vật sinh hóa tự nhiên, nên có đau xót vẫn không bi phẫn quá độ. Đấy là các bài học căn bản mà bút pháp nghiêm đường đã gieo vào thần trí còn non của tôi. Người quân tử sống theo đạo nhân. Trướng đối là phong cách thể hiện đạo làm người bằng chữ nghĩa, điều mà nhà nho lo giữ hằng ngày.
Tôi đến giờ vẫn không quên chuyện kết thân giữa Thầy tôi và một người hủi. Ông bạn già này của Thầy tôi mang bệnh nan y, nếu biết được, nhà nước bắt phải vào trại người cùi. Ông lẩn tránh mọi người, và bạn bè lẩn tránh ông. Chờ đêm đã sâu, ông thường đến nhà trò chuyện với Thầy tôi, người duy nhất quanh vùng còn chịu tiếp ông như trước, giữ cho ông một chút tình người ông đang mất dần. Rồi tự nhiên thành thói quen. Nhà dành sẵn cho ông một ghế dài, song song ghế Thầy tôi, ông đến nằm vào đấy. Lúc bàn chuyện đời hay chuyện sách vở, lúc yên lặng không ai nói một lời. Luôn luôn giữ ý, ông không nhận chi khác, ngay cả một chén trà. Sau vài giờ hàn huyên, câu chuyện đã vãng, ông bạn cùi đứng lên cáo từ, đi lẫn vào đêm tối. Trong nhà lo ngại truyền nhiễm, Thầy tôi biết mà không hề nói chi. Năm năm sau, ông bạn cùi mất, Thầy tôi cho đốt chiếc ghế ông bạn xấu số thường nằm, và cũng không nói chi. Thầy tôi nghĩ là không có chi đáng nói: bạn bè đều lẩn tránh, ông già cùi đang cần đến tình người, Thầy tôi không từ chối, đãi ông như trước kia đã giao thân, kín đáo giữ gìn một tí, đủ rồi.
Công phu hàm dưỡng
Nhà nho giữ đạo làm người. Vui hay buồn cũng cảm xúc như mọi người, nhưng khác người thường, ở chỗ, khi một biến cố xảy đến cho mình, biết hàm dưỡng giữ mình.
Phóng dật, vui đùa ? Có thể đến chỗ Nguyễn công Trứ vai mang một gánh giữa đồng, thuyền quyên ứ hự..., hay Cao bá Quát một thầy, một cô, một chó cái..., nhưng đấy là mặt phúng thích vẽ ngoài, mà nội tâm bao giờ cũng cẩn trọng.
Hạnh ngộ ? Tránh tự phụ kiêu căng.
Đau khổ ? Sống đời dâu biển như mọi người, nhưng dần dà tách mình ra ngoài hệ lụy nhất thời.
Trong cảnh một biến cố lớn nào bất ngờ xảy đến cho mình, nhà nho thường dùng chữ nghĩa chôn chặt tâm sự vào bút pháp. Trước hết là lọc lại hiểu biết và kinh nghiệm bản thân, đối chiếu sự việc xảy ra với sách vở đã xem, vận dụng vốn liếng ý thức và đạo lý, rồi nghiệm nghĩ, giữ sao cho thái độ mỗi lúc hợp với đạo người, tâm lý không bi phẫn, dù biến cố có thế nào. Qua nhiều đêm hàm dưỡng như thế, khi lòng đã lắng đọng thanh thản, thái độ đã lấy lại quân bình, chữ nghĩa tự nhiên nhi nhiên mà đến. Có khi phải kiêng khem nhiều chuyện, nhất là chuyện phòng khuê, giữ không bận bịu này khác, để tâm trí an tĩnh mà suy tư.
Công phu hàm dưỡng này biểu hiện một nghệ thuật sống mà bút pháp diễn dịch thành chữ nghĩa, người quân tử giữ lòng mình không để lụy đến ai. Chữ viết nên, phải đẹp đã đành, nhưng ý tứ và tư tưởng bên trong phải thực hàm súc.
Thầy tôi hạ nho, thận trọng không phô trương bút pháp trướng hoành, danh dự này dành cho các bậc đại khoa. Lúc cần, chỉ dùng liễn. Nhưng mỗi khi viết câu đối như một lần hành lễ. Phải sẵn sàng đủ cả. Đất đã quét sạch bụi, giấy hay vải căng thực ngay thẳng trải lên trên. Mầu đỏ, mầu trắng, tùy chuyện vui hay buồn. Mực Tàu mài nhuyễn đúng độ. Viết lông nhiều cỡ lớn nhỏ. Một lò trầm khói nhẹ thoang thoảng mùi hương. Thầy tôi khăn đóng, áo dài, thái độ nghiêm túc hay thong dong, tùy lúc đáng vui hay đáng buồn.
Trên mặt giấy, mỗi chữ sẽ viết, Thầy tôi đặt sẵn một đồng tiền đánh dấu trung tâm. Gỡ đồng nào ra là viết lên chữ nấy. Ngồi lên chân, dạng gối hai bên bìa giấy, người tì lên cánh tay trái đặt sát đất, tay phải thong thả mân mê các ngón cho nhuần trước khi cầm lấy bút. Ngâm đầu bút vào mực, lăn qua lăn lại vài bận cho lông bút quyện mực dính chặt vào nhau, đặt đầu bút lên mép nghiêng ấn nhẹ cho nhả mực, rồi lại ngâm bút vào mực, ấn bút lên mép nghiêng lần khác. Cứ thế mà làm không hấp tấp, lúc thấy bút mực đã thuần thục mới dừng tay. Trên câu liễn còn tinh khôi chưa viết, đưa mắt cho tôi gỡ từng đồng tiền khỏi mặt giấy, Thầy tôi nhìn vào chỗ trống, hoa bút múa một điệu múa thần kỳ. Và trước mắt tôi, trẻ thơ thích thú, nghệ thuật hiện lên: một chữ đẹp, viết theo bút pháp chính truyền.
Tay Thầy tôi múa nhẹ nhàng, nhưng chắc nịch. Chữ trước, chữ sau, theo một số cử động liên tục giống nhau. Nhịp viết không vội vàng nhưng không do dự. Chữ viết ra đều đặn, nhất quán. Nét chữ láng, đường mực trơn, không chắp vá. Hệt như tôi phải đọc thuộc lòng trôi chảy, không vấp váp, các bài ngụ ngôn La Fontaine với thầy Niên lớp nhất. So sánh như thế có phần gượng ép, nhưng quả các ngón tay Thầy tôi thuộc nằm lòng nghệ thuật bút pháp nhà nho. Và không phải ai cũng thuộc được nằm lòng như thế.
Các cử động Thầy tôi, vừa chi li vừa nhẹ nhàng, gieo vào mắt trẻ thơ nhiều khoái cảm. Người không am tường có thể nghĩ nhà nho hình thức lôi thôi, viết thì cứ viết đẹp là đủ, cần chi phải dụng công đến thế. Nhưng nhà nho không quen làm dáng. Nghệ thuật khác, nghi thức khác. Mà bút pháp là nghệ thuật, nghệ thuật sống, không phải là nghi thức. Nghi thức không thay đổi, quen làm ai làm cũng giống ai, và ai làm cũng được. Nhưng đã dùng bút pháp, nhà nho không phải viết, mà sống một đoạn đời nào đó của mình.
Lề thói bút pháp phải giữ hai điều :
- Viết một chữ, bút chỉ lấy mực một bận.
- Chữ viết xong mới nhấc bút, để viết sang chữ kế.
Đã hạ bút, bút không tiếp thêm mực, không cất lên khỏi mặt giấy, khi chữ viết chưa xong. Chữ, nét nhiều nét ít không đều, nét gầy nét đậm khác nhau, không phải chữ nào cũng cần một độ mực bằng nhau. Bút lấy đủ mực để không hụt mực giữa chừng. Viết, có nét trước nét sau, không lẫn lộn được. Đưa bút nhịp nhàng theo trật tự các nét chữ, không sai, không vấp. Quả đúng là hình thức, nhưng nép theo hình thức, bút pháp lại là công phu nội tâm, nhằm hàm dưỡng hai đức lớn trong đạo làm người: kiệm ước và trung thực.
Chữ đẹp, cần bút hút đủ mực dùng. Đừng hút mực thừa, chữ sẽ nhòe thành hỏng.
Đời đẹp đủ sống (tri túc) là vừa. Giầu sang, thừa của tất hỏng.
Đã hạ bút, đừng nhấc bút nửa chừng, bỏ dở chữ đang viết, rồi viết tiếp.
Sống, không xao lãng cảnh đời đang sống, giữ cho mình trung thực với mình.
Bất dâm, bất di, bất khuất, bao giờ cũng như bao giờ. Lòng không đổi thay theo cảnh.
Lề thói như trên, không buộc ai phải theo.
Viết như viết thường ngày, có người viết cũng đẹp chán, không cần đến bút pháp gói ghém thêm chi vào chữ nghĩa.
Cũng hệt như thơ. Không ai buộc phải làm thơ.
Thợ thơ cũng chán câu trầm câu bổng, chẳng cứ phải tải hồn thơ.
Nhưng bút tháp vẫn nhiều nhà có danh, thơ vẫn có nhiều thi sĩ.
Và Trung quốc giàu những danh sư bút pháp, còn lưu tiếng đến nay. Vương Hi Chi và Lan đình phú nêu trên đây là một.
Tuổi còn thơ, tôi ngắm mặt ngoài chữ đẹp mà chưa nhuần bên trong tâm lý còn sâu. Nhưng cũng nhận ra Hán tự có chi đó thiêng liêng trong cách Thầy tôi dùng bút pháp. Tôi trân trọng chữ nghĩa thành thói quen, học theo người lớn hễ thấy chữ Hán rơi là nhặt lên. Nhặt chữ Hán, thực ra không phải là dị đoan hay tôn giáo. Chỉ là cung cách hàm dưỡng tiếp theo bút pháp, trọng hình tượng của chữ đó thôi.
Với bút pháp, Hán tự vượt lên trên chữ viết.
Trang trí lên tường, chữ Hán viết đại tự thành tranh, mang linh hồn vào mọi cảnh nhà, kể cả những nhà hàn vi nhất.
Một hiện tượng dân gian bất ngờ và phổ biến: các gia đình nghèo, kém thua người, bao giờ cũng dành tiền mua ở chợ Tết, mang về treo lên tường nhà đủ ba chữ Phúc Lộc Thọ, trên giấy đỏ lốm đốm vàng sao.
Nhà nước duy vật đẩy tôi ra nước ngoài tị nạn. Tôi mang theo hai bức trướng, mỗi bức hai đại tự, của một ông bạn viết tặng. Ông bạn là nhà sư, người đã từng làm Hoa kỳ rúng động một thời vào các năm 60 (ngôn từ báo chí Tây phương), biết tôi sùng Khổng, dùng chữ nghĩa tiễn tôi. Bàn tay nhà Phật thoăn thoắt múa theo điệu nhà nho, đưa tôi trở về đoạn đời trẻ thơ, thích thú dưới gối Thầy tôi 50 năm trước. Trên đường ly hương, bút pháp nhà sư nhắc tôi cách thế nhà nho sống an nhiên bình thản.
Nhưng đã lâu rồi, tôi không còn giữ thói quen nhặt chữ Hán rơi.
Một hiện tượng xã hội
Hàm dưỡng đạo lý là việc người quân tử chuyên tâm, theo nhiều cách thế, mà bút pháp là một. Bút pháp không phải việc làm thường xuyên, vì nhà nho ít có dịp viết trướng liễn cho mình. Nhưng lại thường viết cho người. Bút pháp loại này chủ trí thức hơn đạo lý, thuộc phạm vi giao tế và sinh hoạt hằng ngày, không phải công trình hàm dưỡng nội tâm mà là một hiện tượng xã hội rất phổ biến.
Không phải ai cũng viết được liễn đối. Nhưng nhiều người cần có liễn đối treo nhà, mỗi lúc gặp hoàn cảnh vui hay buồn, muốn ghi nhớ: khóc vợ chết, con chết, mừng vợ mới sinh, con thi đỗ, con nên vợ chồng. Để lưu một kỷ niệm về sau, nên thuở chưa có máy ảnh, cần đến chữ nghĩa. Có nhà nho nào gần đấy mà xin chữ càng hay, nếu không, cậy một người viết mướn, viết cho vài hàng khóc vợ, mừng con.
Người viết mướn, chợ Tết năm nào cũng có mặt. Còn ngày thường, quanh quẩn thế nào cũng có người, để mời đến nhà viết giúp. Mỗi cảnh vui buồn, văn chương đã sẵn. Chọn một câu hợp tình hợp cảnh, ông ta phóng bút khóc hộ vợ cho người vừa chết vợ, hay mừng hộ con cho người mới sinh con. Bút pháp có thể họ không kém ai, nhưng đây là nghệ sống, người viết không chú ý đến thuật văn, miễn nhà chủ thù lao phải chăng, đình đám thế nào cũng được văn vẻ, nhưng chỉ bằng những sáo ngữ quen dùng.
Nếu một nhà nho nhận lời viết hộ, không có chuyện thù lao. Ai mang tiền mua được bút pháp nhà ông Yên đổ ? Mà ai có việc, lại không thèm chữ ông Yên đổ ? Còn Yên đổ, ai đến "xin chữ" ông cũng cho, bất luận sang hèn. 'Chữ Thánh hiền ', có người đến cửa 'ăn mày' , nhà nho không có quyền từ khước. Người viết mướn, sống nhờ chữ nghĩa, không phải lo đến văn, vì đã sẵn xuân du phương thảo địa. . . . hạc giá vân du. . . v. v. Còn nhà nho thì sống với chữ nghĩa, ngay cả khi viết hộ người. Gia chủ chỉ phải theo nghi thức mang ít nhiều vật phẩm đến lễ. Như cha mang quà tết thầy dạy con mình, là được. Giao tế thông thường đấy thôi, không sợ từ chối. Nếu là bạn bè cậy nhau, thì lại là dịp các cụ tùy cảnh ngộ mà phóng bút, phúng thích, đùa cợt lẫn nhau.
Nhà nho, đã mang chữ cho ai, phải là một sáng tác, không thể cho ai sáo ngữ, như người viết thuê. Ngoại trừ kẻ xin chữ quyền uy, cho hắn chữ không thú vị chi, nhưng từ chối hắn không tiện. Trong tình huống ấy, muốn không lộ liễu, nhà nho sử dụng sáo ngữ, người sành biết đấy là cách thoái thát. Nhưng có lúc sáo ngữ bất ngờ thành văn chương cẩm tú. Như câu chuyện còn truyền tụng sau đây.
Tiền quân Nguyễn văn Thành, từ Gia định mang quân nhà Nguyễn bắc tiến, đạp đổ nhà Tây sơn, chấm dứt nội chiến, thống nhất giang sơn, được Gia long phong làm Bắc thành Tổng trấn. Ông tướng đại thắng cho lập đàn truy điệu "bộ đội", tự mình soạn bài văn tế chiến sĩ trận vong chợt nhớ thuở tấm cừu treo trước gió. . . ngày nay còn làm đề tài văn học giáo khoa. Nhưng ông Thành khiêm tốn, nhường sĩ phu Bắc hà danh dự soạn cho mình đôi câu liễn dán vào hai cột cổng đền.
Danh dự này khiến làng nho Thăng long bối rối. Gần hai trăm năm sau, trí thức Sài gòn tất đã bối rối như trên, nếu Văn tiến Dũng cũng học đòi khiêm tốn như Tiền quân Thành, mà dành cho trí thức Sài gòn danh dự tán dương bộ đội miền Bắc, sau khi mang quân cộng sản Nam tiến, đuổi tướng tá Cộng hòa chạy như có cờ, rồi thôn tính thành Phiên an.
Bị "bộ đội" miền Nam chiếm lĩnh, người Thăng long lưu luyến cựu trào có gan tày liếp cũng dám đâu từ chối. Lại không biết vượt biên, vượt biển như dân Bến nghé Đồng nai hai trăm năm sau!
Mà chìu lòng ông Tổng trấn, thì chữ nghĩa thế nào đây cho phải ? Chẳng lẽ tự mình sáng tác ai-điếu "kẻ thù". Tất phải dùng sáo ngữ tránh né. Nhưng dễ gì đào ra hai câu đối chẳng đặng đừng này, để kín đáo gởi gắm bên trong chữ nghĩa vay mượn lòng khinh miệt quân Nam cho bõ ghét. Khó lòng qua mắt, bỡn cợt ông Tiền quân! Làm đại tướng mà ông lại thâm nho, trận thắng lớn kia, bài văn tế nọ, còn hôi hổi nóng. Không biết xử trí thế nào, nên các cụ chần chờ. Một anh khóa trẻ thấy các bậc tiền bối lóng cóng, bèn đề nghị hai câu :
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Cổ lai chinh chiên kỷ nhân hồi.
Câu đối khắc lên cột, ông Thành khoái mà các nhà đại khoa Bắc hà cũng khoái.
Nhưng khoái mỗi bên một cách.
Các cụ khoái, vì câu chuyện khó xử mà lại được êm xuôi. Làng khoa bảng Thăng long làm một việc tối kỵ giữa nhà nho, là rửa tay vay mượn chữ người, không muốn thốt tự chân tình, dùng sáo ngữ cung chiêm. Sự khinh nhờn này không lẽ che được mắt ông Tiền quân ? Thâm nho như ông sao không nhận ra nhỉ ? Vậy mà ông Thành vui vẻ thực tình suốt buổi lễ, đọc câu đối cười vang khoái trá, không cần giải thích theo thường lệ.
Vế trước, rút từ bài Hoàng hạc lâu của Thôi Hiệu.
Vế sau, rút từ bài Lương châu từ của Vương Xương Linh.
Hai bài thơ Đường này cổ kim truyền tụng. Nhưng tách khỏi toàn bài mỗi bài một câu làm hai vế đối, thì câu nào cũng chỉ còn trơ ý hiện, theo nghĩa đen, mất hẳn cái hay toàn bộ thi cảnh dồn trọn vào câu thơ.
Bùi khánh Đản dịch câu đối như sau.
Vế trên: "Bóng chiều đã ngả đâu làng cũ".
Thiếu cảnh lầu Hoàng hạc, thiếu cảm quan chim vàng bay mất, thiếu khung trời xưa mây trắng, thiếu cỏ thơm, thiếu sông tạnh, thiếu cây bày, câu thơ rời thi cảnh để làm một vế câu đối, nên chỉ còn nói được nỗi lữ khách nhớ nhà, bình thường và tầm thường theo ý hiện, ai cũng có lần cảm xúc như thế, đâu chờ Thôi Hiệu nói lên.
Vế dưới: "Xưa nay chinh chiến mấy ai về" .
Không có mỹ tửu, không có dạ quang, không dục ẩm, không túy ngọa, không sa trường, không có mã thượng, chỉ còn trơ lời than thở như xin đừng ai cười kẻ háo chiến vong thân, không được trở về. Rõ là lời dè bỉm lính chết trận vô duyên.
Người không từng biết hai bài thơ bất hủ nói trên, chỉ hiểu ý hiện hai vế đối, chẳng thấy có chi đặc sắc. Nhưng đã là thơ Thôi Hiệu, thơ Vương Xương Linh, thì ai còn bắt bẻ được. Đạo văn để tránh cảnh khó xử đến như thế là tuyệt. Các cụ khoái trí vì lẽ ấy; ông Thành thâm nho, lại khoái vì lẽ khác. Sĩ phu Bắc hà đạo văn đấy Tiền quân biết rõ, nhưng không chê văn đạo, vì đạo tài tình quá ? Làng nho Thăng long không ngớt khen thầy khóa mẫn tiệp, tránh cho cả làng một tình huống khó xử. Không ngờ là đã hớ nặng. Lúc hội ý, nho sĩ Bắc thành chỉ còn biết kêu trời: văn đạo lại thành văn trác tuyệt! Tách ngoài hai bài thơ gốc, ý câu nào cũng tầm thường. Ghép hai câu lại, vế này làm khung cho vế kia, hai vế đối nhau bỗng thoát sáo vượt hẳn gốc thơ mượn, tạo một thi cảnh khác biến thành hai tiếng bi hoài của sĩ phu Thăng long khóc tử vong Gia định.
Còn chi lâm ly hơn, cho thương vong Giản phố ! Còn chi bẽ mặt cho nhân sĩ Thăng long bằng!
Giữa hai nhà nho xin nhau chữ, thì là việc giao tế trong làng, bút pháp cho người, xem như cho mình. Nếu là bạn cố tri, càng thêm cẩn trọng. Thế nào cũng cho mang đến nhà bạn hai hàng chữ mới, do mình sáng tác. Gia chủ chọn chỗ tối thượng lên tường.
Chữ nghĩa chúc tụng: thêm trọng thể cuộc vui.
Chữ nghĩa phúng điếu: tăng nét u hoài tang lễ.
Nếu là chữ của một đại nho, tiếng đồn gần xa, làm danh dự gia chủ.
Ngày nguyên đán, nhà nào cũng cần bút pháp để có vài ba chữ dán lên tường ăn Tết cho ra vẻ. Phải thay các bức Phúc Lộc Thọ Tết trước, Tết này úa chữ, úa màu. Đỏ đã nhạt, vàng đã phai, sợ năm mới mất hên. Các ngày cận Tết là những ngày mùa của người viết câu đối mướn. Mà cũng là những ngày duy nhất dân quê thấy cần chữ nghĩa.
Người viết thuê phần đông không ở trong làng nho, bán chữ không sợ làng chê. Nhà nho xem chữ nghĩa viết thuê hạ cấp không làm, nhưng không bình phẩm. Bút pháp thành nghề viết mướn, đã mang lại cho nước ta một nét đặc thù hiếm thấy: chợ Tết.
Từ thành thị đến thôn quê, Tết đến, chợ nào cũng nhộn nhịp hơn thường. Nhưng ngoài cảnh mua bán chen chúc giá đắt giá hời, không có chi thanh lịch hơn khi dân quê vây quanh xin chữ "ông Đồ". Người không biết chữ, đến mua chữ ông mỗi bận xuân về, tự nhiên thành ra văn vẻ. Ông đồ già, quen gọi ông như thế bất luận ông có dạy học hay không, áo xanh ngày lễ bạc mầu, khăn lượt chít đầu sờn nếp, ngồi khom lưng trên tờ giấy đỏ rảy phẩm vàng óng ánh, mọi người chăm chú nhìn mấy ngón tay gầy múa bút viết nên từng chữ mực đen nhánh. Mầu sắc và chữ nghĩa đánh vào tâm tưởng mọi người, dù có biết chữ hay không. Cảnh tượng đẹp mắt này, mươi lăm ngày trước Nguyên đán, lôi cuốn người đi chợ Tết như đi hội, để mua sắm mừng xuân, và có dịp làm quen với chữ nghĩa. Nhưng dần dà theo đà học mới, thành thị thôn quê đổi khác, cảnh ông đồ già viết thuê chợ Tết đi vào quên lãng, còn trơ lại chỉ mấy vần bi hoài dưới đây của Vũ đình Liên.
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượngmúa rồng bay
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu ?
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu. . .
Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay.
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài giời mưa bụi bay.
Năm nay đào lại nở,
Không thấy ông đồ xưa.
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ ?
Chợ Tết là dịp người viết thuê kiếm được khá tiền, đỡ cảnh túng quẩn quanh năm. Chữ nghĩa và pháo nến, dân quê phải sắm đủ. Ắn một cái Tết tưng bừng trong cảnh xuân sang, con người muốn thay mùa theo vạn vật. Người nước ta ham học hành, thích sách vở, có lẽ cảnh mua chữ chợ Tết phần nào đã là nguyên nhân tâm lý chiều sâu.
Không gian đạo lý
Bút pháp mang tính đạo lý và xã hội. Không hẳn là thầy đồ, người viết thuê tất cũng đã có học hành, thuần thục giá trị tinh thần sân Trình cửa Khổng, có là viết thuê cũng không dùng chữ nghĩa ngoài vòng lễ giáo. Nếu lại là nhà nho cầm bút, dù có cho ai sáo ngữ, vẫn muốn răn đời. Mà răn đời là chuyện đạo lý.
Nhà nước bao giờ cũng dựa trên đạo lý trị dân. Nếu tỉnh nào có ai góa chồng đang tuổi thanh xuân, ở vậy nuôi con không đổi tiết, tỉnh thần phải trình tấu về triều. Nhà vua ân tứ bốn chữ: ' Tiết hạnh khả phong', tưởng thưởng người quả phụ đức hạnh, năm mươi năm còn dư lệ khóc chồng. Đấy là một bức hoành nền vàng chữ đỏ. Bút pháp triều đình không đẹp cũng là sang, phải thượng lên gian chính giữa nhà, và hạ những gì đã treo sẵn trước, dù một bức đại tự của một bậc đại nho. Của vua ban làm danh dự cho nhiều thế hệ hậu sinh.
Dưới mọi hình thức, bút pháp biểu hiện tinh thần nho học, ảnh hưởng trên ếp sống chung cả nước. Hơn hai nghìn năm qua, Khổng giáo vẫn còn phổ cập sâu rộng ở thôn quê, nơi ngày xưa nhà nho thường sống và mở trường dạy học. Đạo thánh thầy dạy trẻ con, dân quê tôn trọng thầy đồ, theo con em mà vâng phục những lời thầy giáo huấn. Phụ huynh chịu chung ảnh hưởng, đến cả người không biết chữ, cũng thấm nhuần lễ nghĩa. Những đêm trăng sáng họp ở đình làng đập thóc, trai gái được dịp hẹn hò qua lời ca giọng hát đối đáp nhau, có muốn trao đổi ân tình cũng giữ trong vòng lễ giáo, phải đạo làm người. Họa hoằn mới xảy chuyện trên bộc trong dâu lãng mạn.
Từ phương Tây đến du nhập vào Đại việt đã năm trăm năm, sách vở nhiều, giáo sĩ học thức cao, đạo Chúa vẫn chưa bén đất nông thôn đến như thế. Bài giảng trên núi không ra ngoài các giáo đường nguy nga, để thần học Do thái Ky tô có hy vọng thay chỗ cho lễ giáo nước ta. Đạo làm người mà Thầy tôi sống đã nhẹ nhàng ngấm đậm vào tâm hồn tôi, không phải qua một lời giảng nhật tụng nào.
Thế mà ở trường Thiên hựu, ngồi chung với bạn học người Pháp và người Nam Thiên Chúa, tôi đã phải học đạo Ky tô thật kỹ.
Để xưng tụng ông Ngô đình Diệm, tay chân ông thường xem ông là thần tượng, trước sau vẫn đề cao ở ông tinh thần đạo Khổng. Không biết đấy là điều đạo Ky tô tối kỵ.
Một hình thức giao tế xã hội
Cố nhiên bút pháp đã ứng dụng rộng rãi trong phạm vi giao tế xã hội. Nếu miếng trầu là đầu câu chuyện các bà, thì bút pháp là then chốt giao tình, giữa bạn hữu các ông với nhau. Làng nho thường nghèo túng, chỉ có chữ nghĩa để làm quà nhau. Bạn bè gặp điều tang tóc, nhà nho không chia buồn suông. Bạn bè ăn mừng hạnh ngộ, nhà nho không chia vui bằng quà cáp. Đây là những dịp mượn bút pháp mà phơi bày tình bạn: hoặc tiếc thương người quá vãng, hoặc tán dương tư cách bạn hiền. Vài hàng liễn đối bày tỏ tình cảm chân thành tự mình thảo, tự mình viết. Tối kỵ là sáo ngữ. Vắt óc mà thảo mà viết, chứ không phải chuyện làm lấy có. Để cho bạn biết lòng mình quí bạn. Không vật phẩm nào làm quà sang hơn chữ nghĩa. Một món quà như thế, nếu là chữ của một đại nho, tiếng truyền ra, bạn bè tranh nhau đến dự lễ để thưởng thức, khiến đình đám thành linh đình, hay tang tóc thêm bi thiết.
Nếu là giữa các bậc đại nho, không phải chỉ là vấn đề giao tế chia buồn chia vui với nhau, mà còn là chuyện văn chương rất thú vị trong làng. Đình đám xong, còn là dịp vượt quá vòng giao tế mà nói chuyện chữ nghĩa, thưởng thức trướng liễn treo đầy tường gia chủ. Ai chọn câu nào, xướng lên câu ấy cho cử tọa cùng nghe, rồi nêu lên giá trị chữ nghĩa được dùng, vạch các điển tích ẩn bên trong. Hậu sinh học chưa đến nơi, nhân đấy mà học. Chẳng khác một bài giảng văn cao học thời nay. Có chi vấp váp, có ngay thầy chỉ dẫn. Thường thường không bàn đến lối văn cử tử, vì không phải lúc luyện thi. Trong phạm vi giao tế, cử tọa có thể phóng túng tìm đến các nghĩa lý "Ngoại thư". Đây là dịp hạng sinh đồ thưởng thức cái học quảng bác của các bậc thầy, biết thêm về tư tưởng bách gia, những tư tưởng mà Tam trường không dung nạp. Tập diễn giải các hình ảnh mà vài ba chữ bút pháp trên liễn đối vẽ nên, tìm ý nghĩa ẩn trong mỗi câu mỗi chữ. Trò không kham, đã có thầy sẵn đó, chỉ dẫn tận tình. Vì cũng là dịp các cụ tranh nhau hơn kém. Tuy là phần khổ học, nhưng thầy khóa nào cũng ham học, không từ nan. Vì có nhiều thú vị, khi ý nghĩa các ẩn dụ được dịp phơi bày thấu đáo, mình không ngờ được, nếu cái học còn non.
Hán tự bản chất cô đọng. Năm ba chữ trình bày đủ ý. Mà ý nhiều, nên chữ nghĩa thường ẩn dụ. ẩn dụ là nghệ thuật Hán văn. Phải tinh thông chữ nghĩa, thuộc lòng điển tích, có biết ngoại thư, rành trò chơi chữ, mới đủ trang bị để phơi bày những gì được ẩn dụ bên trong vài ba chữ cô đọng. Các môn đồ vui mà chịu khó để rộng thêm kiến thức. Nhưng là dịp các cụ vượt ra ngoài vòng cử tử, đưa văn chương ra khỏi đạo Tam trường, tìm đến các trường phái nghịch với nền học Khổng chính truyền.
Cao ly, Nhật và ta, thường gọi là đồng văn với người Tàu. Nên người không tinh, dễ tưởng ta và Tàu văn hóa giống nhau. Chế độ thi cử mấy trăm năm qua dùng Hán tự và lấy Khổng học làm chính thống, đã tạo một vẻ ngoài dễ khiến hiểu lầm như thế. Hồ Quí Ly và Nguyễn Huệ đã hai bận, cách nhau hơn ba trăm năm, mang cái học Nôm thay cho học Hán, nhưng không bền, thành ra đâu lại hoàn đấy.
Nhưng mặt thực đời sống xã hội hai dân tộc khác hẳn nhau. So sánh phụ nữ Trung hoa và phụ nữ Việt nam chẳng hạn, cả hai đều vắng mặt ngoài xã hội, nhưng địa vị họ khác hẳn nhau trong gia đình. Người đàn bà Tàu, đối với chồng con, không có cái quyền uy mềm mại của người đàn bà Việt.
Sinh hoạt xã hội nước ta đã có qui củ từ lâu, trước khi bị người Tàu đô hộ. Trung hoa cho ta mượn chữ, mượn trường, khai triển nền học chung giữa hai dân tộc. Nhân đấy ông cha ta mở mang văn học, phát triển văn hóa theo Tàu phần nào, nhưng học thuật vẫn giữ bản sắc văn hiến uyên nguyên vốn đã khác Trung quốc. Nhà nho nước ta bị trường ốc kiềm hãm theo cái học chính thống để thi cử, đã biết lợi dụng các ngày hội dân gian, các đình đám này khác, nằm ngoài các câu thúc cử tử, mà phô diễn bản sắc dân tộc, nêu rõ khác biệt giữa nước ta và nước Tàu. Cùng một học thuật, cùng một đạo lý, nhưng các mẫu số chung này du nhập vào nước ta, ứng dụng vào con người bản thổ, đã tạo nên một nền văn hiến khác. Người Việt, sống trong nề nếp gia đình có sẵn, sinh hoạt trong một xã hội có qui củ rồi, đã biết ứng dụng văn hóa Trung quốc mà tôi luyện cho mình một cá tính riêng, những giá trị tinh thần đặc biệt, để không thành người Hán.
Cái học chính thống bó buộc quá đáng tư duy, thành ra đình đám lễ lược là những cơ hội nhà nho thoát ra ngoài vòng học thuật phải đạo, đào bới những giá trị đích thực, những chân lý đặc biệt. Các cơ hội như thế, phần nào mở một không gian xuất sáo cho tư tưởng con người, khiến cho việc giao tế trong xã hội mang nhiều thú vị.
Bút pháp châm biếm thóa mạ
Người nước ta có tính hài hước. Hình thức hài hước nhẹ nhàng thường nhật, là việc bông đùa giữa dân gian bằng lời ăn tiếng nói. Nói qua nói lại cười chơi một lúc rồi thôi, không ai để ý đến nữa.
Nặng hơn một bậc, là hài hước bằng các câu hát, câu vè, câu sấm, do hiện tượng truyền miệng, nên câu chuyện không dễ một lúc mà dứt được, còn nhắc đi nhắc lại, có khi mãi đến con cháu về sau vẫn chưa quên. Trạng Quỳnh tiêu biểu cho hình thái này, trong dụng ý châm biếm hơn là đùa cợt.
Cả hai hình thức hài hước bằng miệng này đều nôm na, nên dễ hiểu ngay. Nhưng khi hài hước vượt bực trở thành thóa mạ, phải dùng đến chữ nghĩa, thì lại khác Đây là hình thức châm biếm nhắm vào hạng người quyền uy trong xã hội, có thể gặp phản ứng tai hại, nên phải bí hiểm tột độ. Phải nhờ đến chữ nghĩa, dùng ẩn dụ để có thể vừa cay, vừa kín, nên phải là chữ Hán. ẩn dụ bằng Hán tự rất hợp, vì ít người hiểu thấu. Nhưng dùng hình thức ẩn dụ, phải là người hay chữ và chơi chữ thạo, rành thuật nói lái, như Trạng Quỳnh. Dùng chữ, thì thường lẫn lộn nghĩa Hán nghĩa Nôm. Và nghĩa mỗi chữ có thể lái qua lái lại tha hồ. Ai muốn hiểu thế nào tùy ý. Rành rành là những lời nịnh văn hoa, nhưng chủ ý thóa mạ, kẻ phàm phu không tài nào nhận ra ẩn đụ, nếu không có người chỉ dẫn. Phải thực mẫn tiệp mới khám phá ra điều thóa mạ được gói ghém bên trong những lời tán tụng quá đà.
Thời Quốc trưởng Bảo đại, vào các năm 50, một thủ tướng từ Sài gòn ra kinh lý Bắc phần, được đón tiếp trọng thể ở Thăng long, nơi làng nho còn đông. Bốn chữ đại tự, trên một cổng chào đồ sộ, đập vào mất mọi người: Đại Điểm Quan Thần (người đứng đầu trăm quan).
Ông thủ tướng này tinh thông Hán học, lại là người mẫn tiệp. Chữ nghĩa đơn sơ, nhưng lời ca tụng ông quá ngọt, ông khoái trí thưởng ngoạn không kịp suy nghĩ gì khác.
Lễ chào mừng chấm dứt, nghĩ lại một tích tắt, ông hiểu ra, thì đã trễ.
Phải thực hay chữ mới chơi chữ đến chỗ thần kỳ như trong câu chuyện trên. Nhưng các bậc đại nho không hạ mình mang chữ nghĩa để ẩn dụ mà thóa mạ người. Nhà nho bình thường, nói chung như Thầy tôi, hay chữ đến đâu cũng không cho cách chơi chữ nhục mạ này là hay.
Tôi nhắc đến câu chuyện để tỉ dụ, nhưng không nhắc tên người và không diễn giảng thêm, là trọng tinh thần ấy của cha.
Hồ Sĩ Khuê
(trích từ Hình Bóng Cũ, nguyên tác viết bằng tiếng Pháp,
tác giả tự chuyển sang tiếng Việt)
* Một vài học giả dùng hai chữ "thư pháp" để dịch chữ calligraphy, thay cho hai chữ "bút pháp" thường dùng để dịch chữ style.
Chú giải của Tòa soạn Văn Học
■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■
Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách
Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập