trịnh thanh-văn:
|
Năm 1999 trong số 115 người dự tranh giải Kiriyama Pacific Rim Book Prize, một giải thưởng được lập với mục đích khuyến khích các nhà văn không phải là người Ấu-Mỹ, có một người được ban giám khảo, vốn ngay từ đầu có khuynh hướng thích những tác phẩm nào chú trọng đến khung cảnh và phong khí địa phương, đã chấm cho giải nhất vì là "người kể chuyện khéo léo, có tài của Đài-loan. Các tác phẩm của ông vừa đặc biệt về ý thức thời gian vừa phổ cập về đề tài." Người đó là nhà văn Đài-loan Trịnh Thanh-văn và tác phẩm được trao giải thưởng là tập truyện Ngựa Ba Chân, gồm 12 truyện ngắn, một tác phẩm tiêu biểu cho dòng Hương Thổ Văn Học Đài-loan(1).
Ở Đài-loan rất ít có nhà văn kiên nhẫn lặng lẽ sáng tác trong hơn 40 năm như Trịnh Thanh-văn. Tuy ông không tạo nên một chấn động lớn nào trên văn đàn Đài-loan, nhưng tên ông vẫn được nhiều người mến phục.
I. Tiểu Sử
Trịnh Thanh-văn sinh năm 1932 trong một gia đình nông dân ở làng Tân-trang thuộc huyện Đào-viên tại bắc bộ Đài-loan.
Tân-trang, mà ông gọi một cách đơn giản là "cựu thôn" trong rất nhiều tác phẩm, là một ngôi làng nhỏ ở phiá nam có một con sông tên là Đạm-thủy, từ lưu vực Đài-bắc chảy ra eo biển Đài-loan ở đỉnh cực bắc hòn đảo, mà ông gọi là "đại thủy" (sông lớn) trong nhiều tác phẩm. Đối với Trịnh Thanh-văn, con sông này đã in sâu trong lòng và chi phối một phần cuộc đời của ông từ nhỏ cho đến khi lên trung học. Ông đã có lần viết: "Con sông lớn này chẳng những chứa nước mà còn chứa cả lịch sử và thời gian nữa. Khi mắt ta ngang với mặt nước ta sẽ thấy nó bao la vô cùng. Từ cái viễn cảnh đó ta sẽ thấy mỗi gợn sóng tiêu biểu cho sự hằng cửu."
Năm lên 1 tuổi, ông được một ông cậu, chủ một cửa hàng bán bàn ghế ở Tân-trang, đã nhận làm con nuôi vì không có con trai.
Sau khi học xong bậc tiểu học ở trường làng, ông lên Đài-bắc theo học hai bậc trung và đại học. Tuy nhiên, trong khi còn đi học, về mùa đông cũng như những kỳ nghỉ hè ông lại về quê, nơi ông ra chào đời, để làm ruộng.
Thành tích đáng kể nhất của Trịnh Thanh-văn là mãi tới năm 13 tuổi ông mới học nói Quan thoại và viết Hoa văn.
Ông sinh trưởng trong một gia đình bản thổ nên chỉ nói tiếng Đài-loan, phương ngôn phiến (còn gọi là "thứ phương ngôn") miền nam của Mân phương ngôn (còn gọi là Mân ngữ, Phúc-lão thoại), một trong bảy phương ngôn chính của Trung-quốc(2), thường được gọi là Mân-nam thoại. Mặt khác, ông lớn lên trong những năm cuối cùng của thời Nhật thuộc (1895-1945), vì vậy, theo chính sách của nhà cầm quyền đô hộ Nhật-bản lúc bấy giờ, trong 6 năm tiểu học, cũng như mọi học sinh khác ở Đài-loan, ông chỉ được học có Nhật ngữ và các môn học cũng chỉ được giảng dạy bằng Nhật ngữ.
Tuy nhiên, năm ông tốt nghiệp tiểu học cũng là năm Nhật-bản đầu hàng các nước đồng minh trong trận Thế Chiến thứ II (tháng 8 năm 1945) và trao trả Đài-loan cho Trung-quốc. Từ đó, Hoa ngữ, hay nói cho đúng hơn Quan thoại, là chuyển ngữ chính trên toàn đảo, mà cái vốn Hoa ngữ của ông thì hầu như không có, mặc dù ông cũng bập bõm biết được một vài chữ. Vì vậy khi đột ngột phải chuyển từ Nhật ngữ sang Hoa ngữ, ông cảm thấy mình như là một người ngoại quốc lạc lõng nơi quê hương ông.
May là vì hãy còn nhỏ tuổi nên ông đã chóng bắt được thứ ngôn ngữ mới mẻ đối với ông là Hoa ngữ. Ông mua một quyển từ điển rất đắt tiền để học và từ đó các bài luận văn viết bằng Hoa ngữ của ông được các giáo sư khen. Cũng vì vậy ông thấy hứng thú trong việc viết văn. Còn cái vốn Nhật ngữ ông học được trong 6 năm tại ghế nhà trường đã giúp ông rất nhiều cho việc thu thập và phát triển kiến thức văn học sau này của ông.
Sau khi tốt nghiệp trung học năm 1951, Trịnh Thanh-văn kiếm được việc làm ở một ngân hàng công là Hoa-nam Ngân Hàng và 3 năm sau ông thi đậu nhập học Quốc Lập Đài-loan Đại Học. Ông học ngành quản trị kinh doanh. Tốt nghiệp đại học với văn bằng đại học sĩ (tức cử nhân) ông quay trở lại làm việc ở ngân hàng xưa cho đến khi về hưu năm 1998.
Trong hơn 40 năm làm việc ở ngân hàng ông chẳng bao giờ xin đổi ban hay lên cấp, lên chức, và công việc của ông không bao giờ quá bận rộn nên sau giờ làm việc ông có thể rảnh rang đọc sách và viết văn.
Trong khi còn học ở đại học ông thích đọc các tác phẩm văn học viết bằng Nhật ngữ và Anh ngữ. Ông thích các nhà văn Nga như Anton Chekhov, Leo Tolstoy, Boris Dostoyevsky, nhưng ở Đài-loan trong thập niên 1950 những tác phẩm của họ rất khó kiếm. Khi ông thấy bản dịch Anh ngữ quyển Anna Karenina của Leo Tolstoy ông liền mua về đọc từng chữ từng chữ một và phải dùng một vài cuốn từ điển để tra nghĩa. Ngoài ra, ông cũng học được đôi chút Pháp ngữ vì trong tác phẩm có một số từ Pháp ngữ được để nguyên không dịch. Phải mất một năm ông mới đọc xong truyện.
II. Đại Cương Về Các Tác Phẩm
Trịnh Thanh-văn bắt đầu viết văn khi còn ở đại học và tác phẩm của ông dầu tiên được đăng trong phần văn học của một tờ nhật báo lớn ở Đài-loan năm 1958. Từ đó ông viết được hơn 200 truyện ngắn, 2 truyện vừa, một số bài tản văn và vài truyện nhi đồng. Các truyện ngắn của ông sau được in lại thành bộ Trịnh Thanh-văn Đoản Thiên Tiểu Thuyết Toàn Tập và các bài tản văn được in thành tập Đài-loan Văn Học Đích Cơ Điểm.
Một số tác phẩm của ông đã được dịch ra ngoại ngữ và xuất bản ở các nước Anh, Mỹ, Nhật-bản và Nam-tư.
Các tác phẩm của Trịnh Thanh-văn phần lớn trình bày một cách sống động với khá nhiều chi tiết mọi khía cạnh của Đài-loan xưa cũng như nay. Ông tìm thấy nguồn cảm hứng và kho tàng tư liệu hầu như vô tận của ông nơi tình trạng hết sức tế nhị của quê nhà, Đài-loan, trong một thời đại có quá nhiều biến đổi từ chính trị đến xã hội, kinh tế, kỹ thuật, công nghiệp, nơi rất nhiều hạng người bất lực trước những hoàn cảnh khó khăn, trắc trở, không cách vượt qua.
Trong hơn 200 truyện ngắn ông vẫn giữ được phẩm chất cao. Mỗi truyện có một nhân vật chính qua đó, với những nét bút nhẹ nhàng pha lẫn đây đó một chút màu sắc là những chi tiết cụ thể nhưng rất chính xác và ngôn từ thật đơn giản, ông vẽ lên một bức họa với một thời gian, một không gian và một hoàn cảnh đặc biệt của Đài-loan xưa hoặc nay.
Các nhân vật trong các truyện của Trịnh Thanh-văn là những con người tỉnh lẻ hay thôn trấn bình thường, có dính dáng đến hay nằm ở trong một vụ xung đột nào đó, như xung đột giữa đàn ông và đàn bà, giữa cha mẹ và con cái, giữa thành thị và thôn quê, giữa hai lối sống cổ truyền và hiện đại, giữa văn hóa nông nghiệp và văn hóa thành thị.
Ông tạo nên những anh hùng, những phản anh hùng hay phi anh hùng giữa những hình ảnh của một thị trấn cổ mà không có một cảm giác, một ý thức hoài cổ nặng nề nào, mặc dù ông đã chứng kiến nơi ông sinh trưởng đã chuyển mình từ một thị trấn thành một ngoại ô đông đúc của thành phố Đài-bắc.
Trịnh Thanh-văn đã có lần nói: "Xã hội không thể nào không phát triển. Đôi lúc tôi cũng cảm thấy như mất mát một cái gì, nhưng cái cảm giác ấy không quấy rầy tôi nhiều."
Các nhân vật trong các tác phẩm của Trịnh Thanh-văn không có những y êu thương giận ghét, tham vọng thất vọng, ăn năn hối hận, ngay cả những cuộc tình éo le, những đam mê, sầu hận, hung bạo. Tuy rằng nhiều nhân vật sống một cuộc đời đầy phong ba bão táp, lên bổng xuống trầm, đầy day dứt, nhưng Trịnh Thanh-văn chỉ kể ra bằng một vài hàng tóm tắt thôi, chứ không kéo dài liên miên. Đó là một điều hiếm thấy trong các nhà văn hiện tại ở Đài-loan. Tuy nhiên, cũng vì thế mà có một vài nhà phê bình cho rằng Trịnh Thanh-văn là tiếng nói đơn độc trong giới tiểu thuyết Đài-loan.
Ông không phóng đại "tình trạng nạn nhân" của các nhân vật ông tạo dựng, như không ít tác giả Hương Thổ Văn Học khác đã làm. Giản Nghĩa-minh, tiến sĩ văn học Trung-quốc ở Quốc Lập Thanh-hoa Đại Học, đã đưa ra nhận xét rằng: "Đối với Trịnh Thanh-văn không có cái gì gọi là ngày xa xưa tốt đẹp cả. Ông không ngần ngại bộc lộ những vấn đề của quá khứ hay những khuyết điểm của những nhân vật già cả."
III. Tác Phẩm Được Trao Giải Thưởng: Truyện Ngựa Ba Chân
Tác phẩm được chọn trao giải thưởng Kiriyama là tập truyện ngắn Ngựa Ba Chân, một tác phẩm tiêu biểu cho tư tưởng và bút pháp của Trịnh Thanh-văn.
Truyện Ngựa Ba Chân, cũng là nhan đề của tập truyện, được đặt vào thời gian Đài-loan mới quang phục sau 50 năm bị Nhật-bản đô hộ. Đó là chuyện một ông già có hai điều bất hạnh nhất trong đời là có một lớp da lang ben trắng trên mặt chạy đến mũi, và đã làm việc cho cảnh sát thực dân Nhật-bản và nhiều lần phản bội đồng bào, mà động cơ chính là vì thời thơ ấu ông đã bị chế diễu vì lớp da lang ben trắng. Để chuộc lại lỗi đã làm việc cho cảnh sát thực dân Nhật-bản, một việc mà người Đài-loan gọi là "tam cước" (ba chân), là sống nửa đời còn lại của mình khắc những con ngựa ba chân có nét mặt u uất. Tuy nhiên, dường như ngay cả việc khắc ngựa này cũng không giúp được gì cho ông. Truyện còn nói lên những giai đoạn đau thương trong cuộc sống con người dưới áp lực của các đổi thay chính trị.
Truyện Vị Thân Sĩ Cuối Cùng là câu chuyện một ông già vốn vẫn lấy làm kiêu hãnh sống một cuộc đời nho nhã, uy nghiêm, cao quí của mình, phải đi dự đám tang một người bạn già. Ông mặc bộ quần áo trắng phai bạc, lỗi thời trang.
"Bộ quần áo mà ông đặt may ở tiệm từ lâu nay đã hơi rộng. Có lẽ vì là ủi nhiều mà vải đã dãn ra chăng? Không, người ông đã teo lại. Ông vẫn nghe nói rằng khi về già con người thường sẽ teo lại, giống như vải bị co. Nhưng giờ đây, người ông đã co lại chứ không phải là vải. Hơn nữa, người ta càng già bao nhiêu thì người càng co nhanh bấy nhiêu, tựa hồ như là sớm muộn gì đó con người sẽ biến mất hoàn toàn."
Lúc ông già nghĩ đến cái chết của người bạn, ông ước mong được chết sớm hơn để cho đám tang ông có thể được cử hành ở công sảnh, như vậy mới xứng đáng với địa vị của ông. Chẳng may công sảnh của cựu trấn đã biến thành một rạp hát rồi.
Cuối cùng, khi vai chính trong truyện gần chết, ông ta giác ngộ và lòng bình thản, chứ không còn cảm thấy sự khinh miệt nữa.
"Ông lại nằm xuống giường và nhắm mắt. Sau khi vào buồng tắm, ông thấy dễ chịu hơn nhiều. Một lần nữa ông thấy mình mặc bộ đồ trắng, nằm sõng sượt trên giường. ánh mặt trời chiếu qua cửa sổ. Thật là thanh thản biết chừng nào."
Truyện còn nói lên tình trạng suy tàn nhanh chóng của thị trấn nơi Trịnh Thanh-văn sinh sống biến thành ngoại ô đầy nghẹt người của thành phố Đài-bắc.
Truyện Thiên Lôi Sẽ Bắt Ngươi tả một cách dí dỏm, nhẹ nhàng, một bà già lúc nào cũng bị những kỷ niệm thời chiến tranh và đói rét ám ảnh nên đã nhiều lần lăn xả vào cướp lấy những miếng cơm thừa canh cặn khách ăn bỏ lại trong tiệm ăn của con trai bà.
Mặt khác, truyện Đêm Thu nói về một bà mẹ chồng lúc nào cũng hy sinh bản thân cho chồng con và cô con dâu đanh đá luôn luôn thách thức uy quyền của bà mẹ chồng. Đây là hai nhân vật độc giả không thể ngờ là đã có trong một xã hội cực kỳ bảo thủ như Đài-loan vốn chịu ảnh hưởng sâu đậm của Nho giáo.
Trái với truyện Đêm Thu là truyện Tổ Khúc Bên Sông. Đó là câu chuyện mối tình câm của một anh lái đò trẻ tuổi mà dù là trời mưa hay nắng lúc nào cũng đứng canh chừng cửa cổng một ngôi nhà cũ kỹ, như bị thôi miên nhìn người con gái giặt quần áo hàng ngày một tay ôm thúng quần áo bẩn một tay cầm guốc gỗ đi xuống bờ "đại thủy". Anh chàng cứ nhìn cô nàng như vậy trong 5 năm trời nhưng chưa hề trao đổi một lời nào với cô nàng cả, mặc dù trong lòng anh chàng càng ngày sự say mê thèm muốn cô nàng càng lên cao như một tổ khúc 4 đoạn. Tất cả chỉ là một bản nhạc không lời. Trịnh Thanh-văn đã diễn tả cuộc tranh đấu nội tâm của anh chàng lái đò bằng việc mô tả những đợt sóng cuồn cuộn và nước chảy điên cuồng trên sông trong một trận bão.
Nếu như truyện Con Muỗi nói về cuộc sống bất hạnh của một người đàn ông ở rể tại nhà vợ thì truyện Mưa Xuân thuật lại sự đắc thắng của một con người mới đầu sống trong cô đơn nghèo túng. Đó là chuyện một người lớn lên trong một cô nhi viện đã nhận thức được rằng cuộc sống của con người không nhất thiết là phải giới hạn vào trong gia đình của mình, mà phải biết nới rộng ra bao trùm các gia đình khác. Vì thế ông đã quyết định nuôi một số cô nhi làm con nuôi. Lúc ông lặn lội qua mưa bão tới mộ vợ để báo tin mới nuôi một đứa con trai thì chung quanh ông cây cỏ bắt đầu đâm bông kết nụ do trận mưa mang lại một sức sống mới cho vạn vật. Trời đất tượng trưng cho sự hy vọng mà một cuộc tái sinh sẽ mang lại.
IV. Bút Pháp
Trong những tác phẩm của Trịnh Thanh-văn không có những hấp dẫn kích thích, giật gân, thường thấy trong nhiều tác giả đương thời.
Ngay trong bầu không khí gay cấn của truyện Mái Tóc, khi tả đến lúc chặt đầu một thiếu phụ vì tội đã ăn cắp một con gà, Trịnh Thanh-văn cũng đã biết tự kìm chế ngòi bút của mình. Câu chuyện đến hồi gay cấn nhất là chặt đầu thì tác giả lại kể là chỉ chặt những lọn tóc của nữ tội phạm thôi.
Một đặc điểm khác là trong các tác phẩm, Trịnh Thanh-văn rất chú trọng đến các chi tiết.
Ông đã có lần nói: "Một trong những quan tâm chính của tôi là trình bày các khía cạnh đặc biệt của một sự kiện. Đôi khi không còn cách nào khác để kể một câu chuyện hay. Nếu mà các chi tiết có thể thuyết phục độc giả được thì ngay cả các nhân vật, các tình tiết giả tưởng cũng có vẻ là thật."
Thí dụ trong truyện Mưa Xuân, ông đã tả một cảnh cây cối như sau:
"Vài cây có hương thơm đã bắt đầu ra nụ. Lá cây và những đầu ngọn cỏ lau năm ngoái từ từ héo chết, những lá cây mới đang dần chiếm chỗ, làm tăng thêm vài nét xanh tươi trên những ngọn cỏ gai đỏ tía. Phải, đúng là những ngọn cỏ gai mới, có phải không? Nhưng cỏ lau là một loại cây mọc cuối hạ đầu thu, thế nhưng tại sao nó lại gia nhập đám tụ hội mới mọc mùa xuân này?"
Ông hỏi: "Làm sao người ta biết được cỏ lau mọc thành cỏ gai vào mùa xuân?" và tự trả lời: "Người ta phải đi đến tận nơi xem chính mắt mới thấy."
Đôi khi những cảnh tả tỉ mỉ trong truyện bắt nguồn từ những kinh nghiệm thời thơ ấu ở làng của ông.
Thí dụ trong truyện Tân-lang Trấn, cảnh cắm mạ rút từ kinh nghiệm bản thân của ông. Giữa hai mùa lúa nông gia rất có ít thì giờ để dọn sạch những rạ lúa của mùa gặt trước còn sót lại nên người làm ruộng thường lấy chân dẫm lên rạ cho nó chìm xuống dưới bùn.
"Đây đó trên đống bùn mới cày đảo ngược còn sót lại những chùm rạ lúa nhô lên. Có những rạ nhô thẳng lên cao, có những rạ nghiêng nghiêng về phía này hay về phía kia, lại có những rạ chổng ngược dưới nước. Vì lúa mới cắt gần đây nên những rạ lúa hãy còn sắc nhọn... Đôi khi bùn dính đến nỗi cô cảm thấy như có những con đỉa quẫy quanh chân... Mỗi lần cô bước đi, bùn lách qua giữa những ngón chân làm cho các ngón tõe ra."
Đặc điểm nổi bật nhất trong các tác phẩm của Trịnh Thanh-văn là ngôn ngữ đơn giản.
Quách Tố-diêu, một nữ giáo sư trung học dạy môn văn học Trung-quốc, cho biết lý do tại sao bà cho các học sinh đọc truyện của Trịnh Thanh-văn:
"Theo ý tôi, Trịnh Thanh-văn là nhà văn duy nhất ở Đài-loan đã thoát ly khỏi lối viết truyền thống của Trung-quốc. Lần đầu tiên đọc một truyện của ông tôi cảm thấy như mình đang đọc một bản dịch từ Nhật ngữ vì các từ dùng trong truyện rất đơn giản và câu văn lại ngắn."
Trịnh Thanh-văn, một người rất hâm mộ lối viết đơn giản của Anton Chekhov, Ernest Hemingway, James Joyce, Sherwood Anderson, tránh dùng các thành ngữ 4 chữ thường thấy trong tác phẩm của các nhà văn Trung-quốc khác. Hơn nữa, ông tương đối ít dùng tính từ và trạng từ.
Ông lại thường viết những lời đối thoại mà chẳng cần giới thiệu điệu bộ hay giọng của người nói. Có khi toàn một truyện chỉ gồm những lời đối đáp thường nhật. Ông đã nói: "Đối với tôi, ngôn ngữ không phải chỉ dùng để chuyên chở ý nghĩ mà tự nó còn nói lên một điều gì. Chẳng cần phải dùng đến thành ngữ hay thuật ngữ mà người ta vẫn có thể diễn tả được điều gì một cách rất dễ dàng."
V. Kết Luận
Qua những mảnh đời của các nhân vật trong truyện, Trịnh Thanh-văn đã nói lên những thay đổi trong nửa thế kỷ qua của đồng quê Đài-loan, điển hình là ở Tân-trang, nơi ông sinh trưởng. Trịnh Thanh-văn kể chuyện xã hội Đài-loan bị thay đổi qua các tầng lớp nhân vật, câu chuyện người đi từ nghèo đến giàu, từ một xã hội bị đủ mọi thứ cấm kỵ về chính trị cũng như đạo đức trở thành một xã hội bỏ ngỏ và dân chủ với đủ mọi bi kịch cũng như hài kịch.
Điều người đọc có thể thấy rõ ràng là chủ đề của các tác phẩm của Trịnh Thanh-văn là lòng lân mẫn. Trong các tác phẩm nhà văn đề cao tình thương xót.
Trịnh Thanh-văn trước hết là một con người trầm tĩnh và ổn định. Chính vì vậy, qua một cuộc sống bình thản, ít biến cố, ông đã tự tạo cho mình thành một con người bàng quan, đứng bên ngoài khách quan nhìn những người, những vật, những việc trôi qua trước mắt.
Đối với ông, viết không thay đổi gì cả mà là dịp để ông tìm hiểu chính mình. Đó là, theo lời ông, "phép màu nhiệm của ngôn ngữ".
Các tác phẩm của Trịnh Thanh-văn không cám dỗ độc giả với những cảnh lòe loẹt muôn màu nghìn sắc, những hoa ngôn mỹ ngữ, cũng không nhằm nêu lên một vấn đề trọng đại để lôi cuốn sự chú ý của độc giả. Ông đã từng nói: "Mỗi người phải tự tìm lấy một con đường để đi trong đời. Là một nhà văn, tôi muốn tìm một nơi nghỉ ngơi cho linh hồn trong một nước không có một tôn giáo chính thống nhất định. Trong tiến trình tìm kiếm này tôi chợt khám phá ra được một vài chân lý tuy bề ngoài có vẻ đơn sơ mộc mạc nhưng lại có ý nghĩa hết sức cao thâm."
Sau cùng, những cuộc tranh đấu của các "tiểu nhân vật", của các con người bé nhỏ trong các tác phẩm của Trịnh Thanh-văn không có những cái lãng mạn, những cái màu nhiệm như trong tác phẩm của nhiều nhà văn khác, mà chỉ là những chi tiết thực tế của cuộc sống hàng ngày thực sự, với những tiếng cười sung sướng, những tiếng khóc đau buồn do biết bao nhiêu là biến chuyển đã mang lại hạnh phúc cũng như bất hạnh cho một Đài-loan hiện tại.
Tạ-quốc-Tuấn
Chú Thích
(1) Về dòng Hương Thổ Văn Học, xin xem hai bài của chúng tôi: (a) Hương Thổ Văn Học: Nền Văn Học Để Kháng Hướng Về Đồng Quê (Văn Học, số 182, th. 6/2001); (b) Hai Nhà Văn Tiêu Biểu Cho Tiểu Thuyết Hương Thổ (Văn Học, số 184, th. 8/2001).
(2) Sáu phương ngôn kia là: (a) Bắc phương phương ngôn (còn gọi là Quan thoại phương ngôn, Bắc-kinh thoại và ngày nay ở Hoa lục gọi là Phổ thông thoại, còn ở Đài-loan gọi là Quốc ngữ), (b) Ngô phương ngôn (hay Ngô ngữ, Giang-Chiết thoại), (c) Tương phương ngôn (hay Tương ngữ, thường gọi là Triều-nam thoại), (d) Cám phương ngôn (còn đọc là Cống phương ngôn, thường gọi là Giang-tây thoại), (e) Khách gia phương ngôn (còn gọi là Ma-giới thoại, Thổ Quảng-đông thoại, Tân-dân thoại, và người Việt-nam gọi là tiếng Hẹ), và (f) Việt phương ngôn (hay Việt ngữ, Quảng-đông thoại, Quảng-phủ thoại; chớ lầm với Việt ngữ của người Việt-nam).
■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■
Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách
Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập