Tsang - Bamboo 2

những lầm lẫn, thiếu sót
trong "Thơ văn Lý Trần"

trần văn tích

 

 

Trong số các công trình giới thiệu thi ca cổ hiện nay, bộ Thơ văn Lý Trần (Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà nội; Tập I, 1977, 631 trang; Tập II, Quyển Thượng, 1989, 966 trang; Tập III, 1978, 822 trang) là một công trình có giá trị tuy rằng chưa đầy đủ. Bởi tổng tập còn thiếu Quyển Hạ Tập II. Nhóm biên soạn cho biết quyển này sẽ bao gồm những tác phẩm xuất hiện trong thời gian từ khi nhà Trần lên ngôi (1226) đến khoảng đầu đời Trần Dụ Tông (1341) nhưng không có tên tác giả, hoặc có tên tác giả thì cũng không soi sáng được gì nhiều cho sáng tác (ví dụ Việt điện u linh tập) v.v..

 

Dẫu biên soạn hết sức công phu nhưng rải rác Thơ văn Lý Trần vẫn có một số lầm lẫn hay thiếu sót, nhất là ở những bài dịch, những lời chú. Có thể là do các soạn giả bận rộn, nhưng nhất là do phương tiện tra cứu có hạn. Những lầm lẫn thiếu sót ấy tuy không quan trọng lắm nhưng cũng ít nhiều ảnh hưởng đến giá trị tham khảo của tác phẩm. Do đó, sức tác động của tư tưởng thơ văn người xưa cũng bị giảm sút chút đỉnh và ảnh hưởng về mặt nghệ thuật của nền văn học đối tượng cũng kém đi đôi phần. Công việc đính chính lại cho đúng sự thật, bổ túc thêm cho tròn nghĩa lý ở một đôi ba điểm được lựa chọn là nội dung bài viết này.

 

Về hình thức trình bày, khuyết điểm lớn là Tập I đã dùng lối chữ Hán giản thể đang thịnh hành ở Hoa lục để ghi lại các bài thơ, văn Lý Trần; một việc làm có thể nói không quá lời là phi lịch sử. Cũng may là Tập II và Tập III đã được in bằng kiểu chữ hán phồn thể quen thuộc với những Chu Văn An, Mạc Đỉnh Chi (Tập II do Thượng tọa Thích Đức Nghiệp viết chữ hán, Tập III không thấy để tên người viết chữ khối vuông).

 

Về thích nghĩa từ vựng, vì không có những bộ bách khoa từ điển chữ hán để tham khảo nên nhiều chỗ "chưa hiểu, hoặc hiểu không chắc chắn, đều có nêu rõ, để sau này tiếp tục tra cứu thêm." (Tập III, tr.9). Nhóm biên soạn đan cử "các tài liệu đã dùng làm căn cứ, như Từ hải, Bội văn vận phủ, Phật học đại từ điển v.v.." (Tập I, tr.194). Đành rằng có thêm vân vân nhưng dù sao cũng đủ thấy là tài liệu tham khảo ít ỏi về số liệu và nhất là khiêm nhượng về tầm vóc. Từ nguyên, Từ hải, Khang Hi là những từ điển phổ thông, chỉ tương đương với loại Petit Larousse Illustré của Pháp. Bội văn vận phủ do Trương Ngọc Thư đời Thanh vâng lãnh chiếu chỉ biên soạn, là loại thư 1 kiểu lớn dùng để tra cứu văn chương điển cố và cách dùng câu hay vần đẹp. Phật học đại từ điển có vẻ không phải là Hán-Anh Phật học đại từ điển, nguyên là cuốn A Dictionary of Chinese Buddhist Terms do Thành Văn Xuất bản xã hữu hạn công ty in lại ở Đài Bắc năm 1975. Không kể Bội văn vận phủ, Từ hải và Phật học đại từ điển được biên soạn và trình bày theo phương pháp xếp chữ và mô hình kiểu Tây phương. Nhưng đây vẫn không phải là loại từ điển bách khoa như Hán ngữ đại từ điển, Trung văn đại từ điển, chúng là những tài liệu tham khảo đồ sộ cả về tầm vóc (khổ giấy lớn) và độ dày (từ mười hai đến bốn mươi quyển)2. Các mục từ trong loại sách công cụ này được phân chia thành điều để sắp xếp (từ đơn nghĩa, từ đa nghĩa), để giải thích (nghĩa đại thể, nghĩa chính, nghĩa rộng, nghĩa ví dụ, nghĩa vay mượn), kèm theo dẫn liệu thi tuyển văn tuyển để minh hoạ; vì thế hình thức ấn loát sáng sủa, rõ ràng, nội dung mạch lạc, mang tính hợp lý nội tại chặt chẽ, mang tính thực dụng rộng rãi. Chính những loại từ điển lớn này mới có thể cung cấp tương đối đầy đủ dữ kiện thông tin bổ ích để chú thích thi ca cổ Hán văn.

 

Sau đây xin nêu ra vài trường hợp thiếu sót, sai lầm, xem như những ví dụ. Có ví dụ tôi đã từng đan cử trong những bài viết thuộc quá khứ, nay cũng xin chép lại, nếu cần thì bổ chính thêm, để thành bài viết hoàn chỉnh.

 

* Tập III, bài thơ Đại tạ ngự tứ mặc hoạ long (Thay người tạ ơn vua ban cho bức tranh rồng thủy mặc) của Nguyễn Ức có hai chữ ngũ tự và tam đạo. Phần Chú thích ghi như sau (trang 36) :

 

"Năm chữ (ngũ tự) : chưa rõ xuất xứ. Có người cho là phú, quí, thọ, khang, ninh. Nhưng ý đó không thích hợp với bài thơ này. Ba đường (tam đạo) : chưa rõ tác giả muốn nói gì. Cả câu này và câu trên nghĩa còn chưa rõ, chờ tra cứu thêm."

Nội dung bài thơ liên hệ cho biết có vị sư từ cung vua tới mang tặng tác giả một bức tranh vẽ rồng do Hoàng đế minh hoạ. Trên bức tranh đó:

 

Xuân hồi ngũ tự khê lưu quang,

n phân tam đạo châu ngưng hương.

 

Dịch thành văn xuôi :

 

Mùa xuân về trên năm chữ như những dòng khe chảy ánh sáng,

Dấu ấn chia làm ba đường như những hạt châu đọng mùi thơm.

 

Hán ngữ đại từ điển, quyển 1, trang 355 ghi cho ngũ tự ba nghĩa mà nghĩa thích hợp nhất với toàn cảnh bài thơ là nghĩa thứ ba: chỉ ngũ ngôn thi; như vậy, trong câu thơ Nguyễn Ức, ngũ tự có thể được hiểu là bài thơ năm chữ. Tam đạo, cũng theo cùng từ điển (quyển 1, trang 237), có năm nghĩa, mà đáng chú ý là nghĩa 1, chỉ ba cung cách con cái thờ phụng cha mẹ theo đạo hiếu : sinh tắc dưỡng, một tắc tang, tang tất tắc tế (cha mẹ còn sống thì nuôi, cha mẹ mất thì để tang, hết tang thì lo cúng tế); nghĩa 3 chỉ quốc thể, nhân sự, trực ngôn; nghĩa 5 là chính đạo, kỳ đạo, phục đạo. William Edward Soothill and Lewis Hodous, A Dictionary of Chinese Buddhist Terms, Kegan Paul, Trench, Trubner & Co. Ltd., London, 1937, ghi cho tam đạo ba nghĩa nhưng chỉ có nghĩa thứ nhất là thích hợp với văn cảnh bài thơ : tam đạo đồng nghĩa với tam luân : hoặc đạo, nghiệp đạo, khổ đạo (illusion, karma, suffering). Bức tranh Nguyễn Ức được ban tặng do một vị sư mang đến nên có lẽ nghĩa Phật học này thích hợp nhất, do đó, có thể hiểu tam đạo là một khái niệm thuộc lĩnh vực giáo lý Đức Thích Ca. Như thế, hai câu thơ có thể dịch là:

 

Mùa xuân trên bài thơ năm chữ như...

Dấu ấn giáo lý Đức Phật như...

 

Có nhiều phần chắc bài thơ năm chữ là bài thơ đề vịnh trên bức tranh rồng.

 

Nhà Trần là triều đại có những mối tình lớn. Trần Thái Tông vì Lý Chiêu Hoàng mà trốn lên núi Yên tử, suýt bỏ ngôi vua. Trần Khắc Chung mãi mãi không quên Huyền Trân công chúa dẫu người đẹp đã trở thành hoàng hậu Chiêm thành. Trần Quang Khải đặt vào tay vợ là công chúa Phụng Dương ốm nặng lời vĩnh quyết : Lai sinh chi nhật, nguyện vi phu phụ như sơ (Kiếp sau xin được làm vợ chồng như xưa).

 

Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Hán Anh cũng từng sống hai mối tình lớn, nhất là Nguyễn Phi Khanh. Thuở trẻ nhà nghèo, hai chàng thư sinh họ Nguyễn phải ngồi dạy học ở nhà quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, được quan Tư đồ ủy thác nhiệm vụ dạy dỗ cô con gái Trần thị Thái cho Nguyễn Phi Khanh và cô em Trần thị Thai cho Nguyễn Hán Anh. Cả hai thiếu nữ lá ngọc cành vàng đều cùng yêu say đắm hai vị gia sư. Ngô Sĩ Liên cho biết trong Toàn thư : "Ứng Long (tức Nguyễn Phi Khanh) nhân đùa bỡn lả lơi, làm thơ ca bằng quốc âm để trêu ghẹo Thái, rồi thông dâm. Hán Anh cũng làm thơ quốc âm bắt chước Ứng Long. Khi Thái có mang, Ứng Long bỏ trốn. Đến ngày Thái đẻ, (Trần) Nguyên Đán hỏi rằng : 'Ứng Long đâu rồi?'. Người nhà trả lời là Ứng Long sợ tội bỏ đi rồi. Nguyên Đán nói : 'Vận nước sắp hết rồi, biết đâu không phải là trời xui ra thế, vị tất không phải là phúc của nhà mình." Bèn gọi hai nho sinh về bảo rằng : "Người xưa đã có việc này, không thấy chuyện Văn Quân và Tương Như sao? Nếu được như Tương Như để tiếng đời sau thì ta cũng bằng lòng.' Hai nho sinh rất cám ơn, cố sức học, đều thi đỗ cả."

 

Cung cách xử sự khoan dung hoà ái đó của Trần Nguyên Đán đối với Nguyễn Phi Khanh khiến nhóm biên soạn Thơ văn Lý Trần, Tập III, khi chú thích câu thơ

 

Đa bệnh hoàn liên Mã Trưởng Khanh

(Bệnh nhiều lại càng thương cho Mã Trường Khanh)

 

trong bài Thu trung bệnh (Ốm vào mùa thu) của Nguyễn Phi Khanh (trang 418), đã cho rằng : "Mã Trường Khanh (...) tức Tư Mã Tương Như một nhà văn đời Hán. Khi cho phép Nguyễn Phi Khanh lấy con gái mình, Trần Nguyên Đán đã nêu Tương Như là một tấm gương lập công danh cho Phi Khanh(...)." Lối giải thích biện luận như thế không ổn. Vì tại sao Nguyễn Phi Khanh lại nhắc đến "một tấm gương lập công danh" vào lúc đang bị đau ốm?

 

Câu thơ của thân phụ Nguyễn Trãi bố cục hô ứng rất chặt chẽ, giữa đa bệnh và Mã Trường Khanh có mối liên hệ nhân-quả : vì bệnh nhiều nên càng thông cảm với Tư Mã Tương Như.

 

Trong lịch sử y học Trung hoa, có những người bệnh rất nổi tiếng mà Tư Mã Tương Như là một. Qua hồ sơ bệnh lý họ Tư Mã, y sử Trung hoa đã chứng tỏ biết đến bệnh đái đường từ trước Công nguyên, mà thuở bấy giờ đã và đến bây giờ vẫn gọi là tiêu khát. Cuốn sách gối đầu giường của các lương y phương đông, cuốn Hoàng Đế Nội kinh Tố vấn, trình bày ở thiên Kỳ bệnh luận: phàm chất béo khiến sinh chứng nội nhiệt, vị ngọt khiến sinh chứng trung mãn; đến khi khí đó tràn lên thì sẽ chuyển thành chứng tiêu khát. Yves Hervouet, dựa vào Sử ký Tư Mã Thiên và một số tài liệu khác, trong bài biên khảo Un poète de cour sous les Han : Sseu-Ma Siang-Jou (Presses Universitaires de France. Paris. 1964. p.55) kể rằng các dấu hiệu rối loạn dinh dưỡng và bài tiết xuất hiện lúc Tư Mã Tương Như mới ba mươi tuổi, và đến hai thập niên cuối đời thì nhân vật lịch sử tài hoa này thường viện chứng trạng tiêu khát để lánh xa chính trường.

 

Bài Hán cung từ của Lý Thương Ẫn đời Đường đan cử bệnh tiêu khát của Tương Như :

 

Thị thần tối hữu Tương Như khát,

Bất tứ kim hành lộ nhất bôi.

 

(Nhiều quan lại bị tiểu đường như Tương Như,

Không hề có một chén rượu được ban cho).

 

Mai Nghiêu Thần đời Tống trong bài thơ Ngụy văn dĩ tử bệnh khát tặng ý dĩ...cũng nhắc đến chàng Tư Mã với chứng bệnh trầm kha :

 

Ngụy vô Tương Như tài,

Ngẫu bệnh Tương Như khát.

 

(Ngụy vốn không có tài của Tương Như,

Chỉ ngẫu nhiên bị tiêu khát như Tương Như).

 

Trong bài thơ Tặng y sư Vương Lập Phương, Cao Khải đời Minh lại sử dụng cùng điển tích :

 

Thi nhân diệc hữu Tương Như khát,

Nguyện khất đan sa cựu tỉnh tuyền.

 

(Ví thử người thơ bị bệnh tiêu khát như Tương Như,

Thì xin nguyện tìm đan sa nơi nguồn giếng cũ).

 

Nguyễn Du trong bài thơ Y nguyên vận ký Thanh oai Ngô Tứ Nguyên cũng nói về chứng tiêu khát của họ Tư Mã :

 

Tiêu khát nhật tăng Tư Mã bệnh,

Mộng hồn dạ nhập Thiếu Lăng thi.

 

(Bệnh tiêu khát của Tư Mã Tương Như ngày càng nặng,

Ban đêm mộng hồn thường gửi vào thơ Thiếu Lăng).

 

Qua bài Ngọa bệnh thư hoài, Nguyễn Thông khi lâm bệnh mạn tính lại đề cập đến Tương Như, y như Nguyễn Phi Khanh :

 

Đỗ Phủ vô gia biệt,

Tương Như trường niên bệnh.

 

(Không nhà ly biệt như Đỗ Phủ,

Bệnh hoạn liền năm giống Tương Như).

 

Chứng tiêu khát, theo nhãn quan đông y, là do tích nhiệt ở trung tiêu, hư hoả vọng động, thận tinh hao tổn; âm hư và táo nhiệt lại làm tiêu hao tân dịch ở phế vị và âm tinh của thận; vì trọng điểm âm hư là ở thận, âm thương liên lụy đến dương, nên bệnh kéo dài và thường làm thận dương cũng bị hư. Đối với tây y, bệnh đái đường là một bệnh do thiểu năng nội tiết nên tồn tại suốt đời. Do đó, khi muốn mô tả tình trạng ốm đau liên miên là người xưa liên tưởng tới nó. Từ Nguyễn Phi Khanh qua Nguyễn Du đến Nguyễn Thông. Như vậy thân sinh Nguyễn Trãi đã nhắc đến Mã Trường Khanh trên giường bệnh chỉ vì đó là một trường hợp bệnh lý kinh niên lừng danh và quen thuộc của phương đông, chứ chẳng phải vì nhớ lời ông ngoại Nguyễn Trãi. Nhóm biên soạn Thơ văn Lý Trần có lẽ do thiếu kiến thức y học nên đã không nhận ra điều này, từ đó, rất có thể đã đoán sai ý tứ câu thơ.

 

Trong một số trường hợp khác, nhóm biên soạn tỏ ra dường như thiếu kiến thức dược liệu học, thực vật học. Thơ văn Lý Trần, Tập III, trang 18, dịch nghĩa và chú thích chữ toa : "chữ toa vốn chỉ một thứ cây có tên khoa học là Cyperus rotundus, rễ của nó gọi là "hương phụ tử " là một vị thuốc bắc. Ở đây tạm dịch chung là "cỏ" cho dễ hiểu." Thật ra vị thuốc bắc liên hệ không phải là rễ (Radix ) mà là thân rễ (Rhizoma) cây Cyperus rotundus L., cho nên khoa dược liệu học gọi nó là Rhizoma Cyperi. Nhưng thiếu sót đáng tiếc là nhóm biên soạn không biết rằng đây chính là cây cỏ cú, một loại cỏ dại mọc tràn lan khắp nước ta, một loại cỏ khó tiêu diệt đối với nhà nông, một vị thuốc thân quen đến nỗi giới dao cầu thuyền tán hằng truyền tụng là nam bất thiểu trần bì, nữ bất ly hương phụ nghĩa là chữa bệnh cho đàn ông không thể thiếu trần bì, chữa bệnh cho đàn bà không thể không dùng hương phụ. Và câu thơ dịch phải mang tính khẳng định hơn, không thể "tạm dịch chung là 'cỏ' " mà cần dịch dứt khoát là "cỏ cú". Từ hải chú thích toa thảo loại là Cyperaceae.

 

Nhân chuyển tên gọi một loài cây trong bài Nguyệt của vua Trần Nhân Tông (Tập II, quyển Thượng, trang 465), nhóm biên soạn lại đãng trí không để ý đến khung thời gian nghệ thuật của thi phẩm nên dịch không chính xác. Câu thứ tư : Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ được dịch thành văn xuôi là "Trên chùm hoa quế trăng vừa mọc". Nhưng nếu căn cứ vào câu thơ thứ hai Lộtrích thu đình dạ khí hư (Móc rơi nơi sân thu, khí đêm trống không) thì ý tứ giữa hai câu thơ dịch trở thành thiếu nhất quán. Mùa thu là mùa thu hoạch hạt quế để ươm trồng cây non, cho nên hoa quế không thể nở vào mùa thu mà nở vào giữa xuân hay cuối xuân. Chữ mộc tê trong Hán văn quả có được người vùng Giang nam dùng để chỉ cây quế. Nhưng mộc tê cũng còn là tên cây mộc Osmanthus fragrans Lour. đuợc trồng khắp Đông duơng, Trung hoa, châu Á nhiệt đới. Hoa cây mộc rất thơm, dùng để ướp trà, gọi là trà mộc, bên cạnh trà sen, trà lài, trà ngâu v.v..; nó cũng được dùng để ướp thuốc lá. Trà mộc, theo y học cổ truyền và theo bản thảo, có dược tính thanh phế, chỉ khái (giúp dễ thở, làm giảm ho). Cho nên câu thơ của vua Trần phải được dịch là "Trên chùm hoa mộc trăng vừa mọc."

 

Cũng cần đề cập tới một số chú thích điển cố về nho gia, điển cố về Phật học mà tôi cảm thấy có vẻ còn có vấn đề nên thảo luận hay bổ túc thêm.

 

Tập III, trang 387, bài Bồi Băng Hồ tướng công du xuân giang (Theo tướng công Băng Hồ đi chơi sông xuân), thơ Nguyễn Phi Khanh, phần chú thích ba chữ hiếu liêm thuyền ghi : "chưa tìm được xuất xứ". Xuất xứ của kết cấu từ vựng này là chuyện Trương Bằng ghi trong phần Văn học, sách Thế thuyết tân ngữ. Trương Bằng người quận Phổ ngô, đỗ hiếu liêm, tự xem và được xem là người kỳ tài, từ đấy thành điển tích dùng để đề cao bậc tài sĩ [vi bao mỹ tài sĩ chi điển (Hán ngữ đại từ điển, quyển 4, trang 201)]. Thơ Đỗ Phủ, bài Đắc Quảng châu Trương phán quan Thúc Khanh thư sử hoàn dĩ thi đại ý :

 

Vân thâm phiêu kỵ mạc,

Dạ cách hiếu liêm thuyền.

 

Khi dịch bài thơ này, Nhượng Tống cũng không hiểu điển tích hiếu liêm thuyền nên đã chuyển thành thơ lệch ý nguyên tác, do đó, bài thơ dịch Việt ngữ hoá thành khó hiểu :

 

Mây khuất dinh quan tướng,

Đêm tìm thuyền khách thơ.(3)

 

Dựa vào văn cảnh của toàn thể bài thơ, dựa vào ý nghĩa của bản thân câu thơ, phải dịch khác đi thì mới khỏi bị khiên cưỡng :

 

Mây che tướng phủ,

Đêm xa người tài.

 

Tập II, trang 154, bài Niêm tụng kệ nhắc đến nhân vật Mục Châu, được chú thích số 45 ghi là : "chưa rõ lai lịch". Mục Châu là một thiền sư Trung hoa. Bài Niêm tụng kệ đan cử một loạt thiền sư hán tộc: Mã Tổ, Qui Sơn, Phổ Nguyện, Lâm Tế, Triệu Châu v.v..Mục Châu sống vào thế kỷ thứ IX, có công án được ghi lại trong Truyền đăng lục, vốn trụ trì chùa Long Hưng, môn đệ của thiền sư Hoàng Bá. Mục Châu hỏi một thiền tăng từ đâu đến, thiền tăng chỉ quắc mắt, không đáp (trừng mục, vô ngữ ) (4).

 

Tập II, trang 160, chú thích hai chữ lục niệm trong bài Sơ nhật thì, các soạn giả đã dành khá nhiều giấy mực để trình bày cách giải thích một khái niệm Phật học có vẻ như do chính mình sáng tạo ra : "Sáu khoá niệm : Lễ Phật tụng kinh sáu lần theo sáu thì trong một ngày đêm. Theo cách tính thời gian của âm lịch thì mỗi ngày đêm gồm 12 thì, có các tên là : tí, sửu, dần, mão, thìn, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi; nhưng ở đây Trần Cảnh chỉ chia làm sáu thì; ông chọn những thời điểm tiêu biểu cho mỗi buổi, đó là : sáng sớm, giữa trưa, hoàng hôn, chập tối, nửa đêm và lúc sắp qua đêm. Mỗi thì có một khoá lễ riêng. Đào Duy Anh chú sáu niệm là : niệm Phật, niệm Pháp, niệm tăng, niệm trời, niệm giới, niệm bố thí." Rồi từ suy luận đó, nhóm biên soạn đi thêm bước nữa và đặt đầu đề cho bài thơ là Dần thì cảnh sách chúng kệ (Kệ khuyên răn lúc giờ dần) mặc dầu văn bản cổ đã ghi sẵn cho bài thơ đầu đề Sơ nhật thì. Thật ra lục niệm trong thuật ngữ nhà chùa chỉ có một nghĩa như Đào Duy Anh ghi nhận. A Dictionary of Chinese Buddhist Terms (op.cit.) trang 135, giảng : "The six thoughts to dwell upon : Buddha, the Law, the Order, the commands, almsgiving, and heaven with its prospective joys." Tomohiro Matsuda, trong A Dictionary of Buddhist Terms and Concepts, Nichiren Shoshu International Center, Tokyo, 1983, trang 401 cho rằng lục niệm là "six kinds of contemplation : six types of meditation referred to in the Fugen Sutra (Phổ Hiền kinh) and in the Nirvana Sutra. They are contemplations on the Buddha, the Law, the Order, the observance of the precepts, the benefit of almsgiving, and rebirth in heaven."

 

Tương tự như vậy, bát thủy trong từ vựng thiền học là nhằm chỉ tám con sông của Ần độ, chứ không phải như Tập II, trang 51 hiểu thành "nước tám tính" với lời giảng giải dài dòng qua chú thích số 40 : "Nước tám tính (bát thủy) : thuật ngữ đạo Phật chỉ có từ bát công đức thủy, tức thứ nước có tám tính chất tốt như trong sạch, mát ngọt..., nhưng ở đây có thể tác giả nói gọn. Hoà thượng Phúc Điền dịch là vào nước, tức là nhập thủy." Câu văn có chữ bát thủy thuộc bài Phổ thuyết tứ sơn trong Khoá hư lục của vua Trần Thái Tông, phần Tứ sơn :

 

Âm tinh cực thịnh, nhất thiên vũ tuyết cánh phân phi,

Dương khí tiềm tiêu, bát thủy ngưng ba tăng lẫm liệt.

 

được nhóm biên soạn dịch thành :

 

Âm tinh cực thịnh, khắp một trời mưa tuyết bời bời,

Dương khí tan dần, nước tám tính đóng băng càng giá lạnh.

 

Vua Trần dành phần Tứ sơn cho tướng của sự chết, nó là mùa đông trong năm (Nhân chi tử tướng, tuế nãi đông thì). Mùa đông âm khí tăng trưởng, dương khí tiêu tán, mưa tuyết khắp trời nước sông đông đá. Hai câu thơ nhà vua dùng để tả cảnh thiên nhiên cụ thể. Đó là những thông tin vật lý, khí tượng, thời tiết cho nên không thể dính dáng đến tính chất nước trong nước ngọt, như nhóm chủ biên tưởng tượng suy diễn. Và hoàng đế chủ nhân nguyên tác chắc chắn không hề "nói gọn". Còn Hoà thượng Phúc Điền thì vì không hiểu thuật ngữ bát thủy nên đã sửa lại cổ văn để biến bát thành nhập, do hai chữ hán này vốn rất giống nhau! A Dictionary of Chinese Buddhist Terms (op.cit.) giảng nghĩa dứt khoát rõ ràng nơi trang 38 : "Bát thủy : eight rivers of India - Ganges, Jumna, Sarasvatì, Hiramyavatì or Ajiravatì, Mahi, Indus, Oxus, and Sità." Trong số tám con sông này có những con sông quen thuộc hay có tên chữ hán : Hằng hà (Ganges), Ần hà (Indus), Ma hà (Mahi), Tát la (Sarasvatì). Tóm lại, hai câu thơ phải dịch lại là :

 

Âm tinh cực thịnh, khắp một trời mưa tuyết bời bời,

Dương khí tan dần, nước tám sông đóng băng càng giá lạnh.

 

Trang 214, Tập II, chú thích số 3 : "Quy giáp : chưa rõ là loại hương gì, theo mạch văn có thể đoán đây cũng là một thứ hương thơm." Qui giáp được vua Trần Thái Tông nhắc đến trong Lục thì sám hối khoa nghi, phần Hậu dạ thì, nội dung mô tả buổi lễ dâng hương lúc tảng sáng, qua đó đề cập đến nhiều loại hương thơm cúng Phật :

 

Viễn ti Ngô quốc chi tước đầu,

Cao quán Quế lâm chi qui giáp.

 

Dịch giả Đỗ Văn Hỷ chuyển thành :

 

Vượt xa tước đầu Ngô quốc,

Quí hơn qui giáp Quế lâm.

 

Theo sách Thái bình ngự lãm, Thuật dị ký thì qui giáp hương là loại hương quế tốt (qui giáp hương tức quế hương gia giả), nó còn có tên là tử mộc hương, kim đỗ hương, nghiệt hương; sản xuất ở hai quận Thương ngô và Quế lâm (đúng như vua Trần Thái Tông viết trong nguyên tác : "Quế lâm chi qui giáp"). Đó là một loài hương quế rất thơm, theo phần sách dẫn từ Hương phổ, Dị hương trong Thuyết phu: "Qui giáp hương tức quế hương chi thiện giả." (Hương qui giáp là hương quế hạng tốt).

 

Có những khái niệm đặc thù thuộc văn hoá Hán tộc mà có lẽ khi chuyển sang Việt ngữ nên để nguyên chứ không nên dịch. Trong đông y chẳng hạn, khí là khí, huyết là huyết; nếu dịch khí thành hơi, huyết thành máu thì vừa ngô nghê vừa sai lệch. Đơn vị đo lường chuyên biệt của khoa châm cứu, thốn, là thốn đồng thân, không thể dịch thành tấc. Thơ văn Lý Trần đôi khi chuyển khí thành hơi, ví dụ câu thơ thứ hai bài Nguyệt của vua Trần Nhân Tông (Tập II, trang 465) :

 

Lộ trích thu đình dạ khí hư.

 

được dịch thành văn xuôi là :

 

Móc rơi trên sân thu, hơi đêm thoáng mát.

 

Trong khi đó thì ở một số bài thơ bài văn khác, khí được chuyển nguyên văn sang Việt ngữ :

 

Dạ khí phân lương nhập hoạ bình.

(Huyền Quang. Tảo thu. Tập II, trang 699)

 

dịch nghĩa là :

 

Khí đêm chia hơi mát vào bức rèm vẽ.

 

nhưng lại dịch thơ thành :

 

Hơi mát đêm thâu lọt tới mành.

 

Một câu thơ khác :

 

Thu lai lương khí sảng hung khâm.

(Tịnh Giới. Hãn tri âm. Tập I, trang 536)

 

dịch thành thơ :

 

Thu về hơi mát dạ lâng lâng.

 

Trong cả hai câu thơ dịch sang Việt ngữ, thay hơi bằng khí thì cũng không phạm luật bằng trắc.

 

Cổ nhân có câu Trí giả thiên lự tất hữu nhất thất, người thông minh suy nghĩ một nghìn điều tất nhiên cũng có một đôi điều thiếu sót. Cho nên phiên âm, dịch nghĩa, chú thích hàng ngàn bài thơ chữ hán cho dẫu là qua khả năng của một tập thể, thì sai lầm hay thiếu sót cũng là điều có thể thấu hiểu được, có thể chấp nhận được. Như đã trình bày ở phần mở đầu, đọc kỹ những bài thơ, bài kệ, bài phú v.v..trong ba tập Thơ văn Lý Trần, không thể nghi ngờ, càng không thể phủ nhận công trình tìm hiểu kỹ lưỡng, tra cứu cẩn thận của nhóm biên soạn. Nhưng mặc dù vậy, việc đưa ra những nhận xét bổ túc, việc đóng góp các ý kiến cụ thể về mặt này hay mặt khác, về điểm này hay điểm kia, vẫn rất cần thiết, nhằm mục đích bổ sung cho tập sách được hoàn chỉnh hơn. Cho dẫu rằng những ý kiến đưa ra, những luận điểm trình bày có thể mang tính chủ quan nhiều ít.

 

Một vài thí dụ về mặt thiếu sót của quá trình tiếp thu các câu thơ câu văn cho thấy khi dịch văn chương chữ Hán, chỉ cần hiểu sai một chữ, chuyển sai một ý, phiên âm sai một từ, chú thích trật một điển, nhận nhầm một kết cấu ngữ pháp là sẽ đưa câu thơ câu văn đến một nội dung khác với nội dung mà tác giả muốn ký thác, là sẽ dẫn người đọc, người tham khảo tài liệu, người nghiên cứu văn bản đến những suy luận rất xa với nguyên ý của người xưa. Cho nên bất cứ bản phiên âm, dịch nghĩa nào thuộc lĩnh vực thơ văn chữ hán cũng cần có nhiều ý kiến đóng góp mới mong đỡ phần thiếu sót.

 

Nhưng nhiều khi vẫn không làm được đến nơi đến chốn. Đấy là trường hợp hai câu thực trong bài Đăng Thiên kỳ sơn lưu đề (Lên núi Thiên kỳ đề thơ lưu niệm) của Phạm Sư Mạnh (Tập III, trang 103) :

 

Vân thâm long ngự liểu nan phan.

 

dịch sang văn xuôi là :

 

Màu xanh che ruộng (5) chim hạc, nay lại đến thăm,

Mây phủ kín nơi rồng ngự, thật khó mà vin tới.

 

Nội dung bài thơ ghi lại những cảm nghĩ của tác giả khi lên núi Thiên kỳ ở châu Đông triều, một ngọn núi có nhiều cảnh đẹp, có lắm di tích.

 

Về hai chữ hạc điền, chú thích 3, trang 105, ghi như sau : "Ruộng chim hạc (hạc điền) : chưa rõ là ruộng gì. Bd.HVTVT chú thích là : ruộng nhà". Chữ hạc điền không có trong Hán ngữ đại từ điển, nhưng Trung văn đại từ điển thì có ghi ở mục từ 48157.27, trang 16847, quyển 36. Tuy nhiên nó chỉ có một nghĩa duy nhất : Hạc Điền là tự hiệu của một số nhân vật lịch sử như Lý Giác đời Tống; Xa Vạn Dục, Đoan Mộc Quốc Hồ, Trương Hạc, Lục Quang Húc và Lữ Hiền Cơ đời Thanh. Tất nhiên nếu có sự liên hệ văn học sử giữa các danh tính vừa kể với bài thơ Phạm Sư Mạnh thì chỉ có thể là trường hợp Lý Giác đời Tống, vì lẽ nhà Thanh sau hai triều đại Lý Trần. Lý Giác vốn là chỗ quen thuộc của văn chương Lý Trần qua câu chuyện đi sứ Việt nam được sư Đỗ Pháp Thuận thù tiếp và cùng làm thơ vịnh ngỗng. Vậy phải chăng có mối tương quan nào đó giữa con người này và ý thơ Phạm Sư Mạnh? Tuy nhiên tìm hiểu sâu hơn thì thấy là không vì : (1) chữ giác trong tên Lý Giác sứ giả sang Việt nam viết với bộ kiến, chữ giác trong tên Lý Giác có tự Hạc Điền viết với bộ ngọc; (2) Lý Giác sang nước ta năm 987, còn Lý Giác trong Trung văn đại từ điển lại sinh năm 1219, mất năm 1307. Vậy là tắc tị với chữ hạc điền.

 

Nhưng chưa hết. Trong hai câu thơ, đối với hạc điền là long ngự. Chữ này, như đã trích dẫn, được dịch là "nơi rồng ngự". Long ngự không hề có nghĩa này mà chỉ có nghĩa là xa giá nhà vua6, và từ đấy hiểu rộng ra, chỉ hành vi của bậc đế vương (quân lâm thiên hạ, đế vương chí thế; Hán ngữ đại từ điển, quyển 12, trang 1481). Đào Phương Bình dịch thơ câu này chính xác hơn :

Xe rồng mây khuất, khó đường lên.

 

Long ngự được Bạch Cư Dị dùng trong bài Trường hận ca khi cực tả tâm trạng đau đớn của Đường Minh Hoàng tiếc thương Dương Quí Phi lúc dừng xe nơi Mã ngôi :

 

Thiên tuyền địa chuyển hồi long ngự,

Đáo thử trù trừ bất năng khứ.

 

(Trời đất xoay vần, xe vua trở về,

Đến đây tần ngần không nỡ dời chân).

 

Phạm Sư Mạnh từng nhiều năm làm quan to, tất có lắm cơ hội theo vua hỗ giá, và trong một dịp hầu vua đó, đã cùng xa giá lên núi Thiên kỳ; nay làm thơ hồi tưởng lại. Hai câu thơ, hai chữ khó, tôi chỉ tạm tìm được nghĩa lý của một chữ để giảng được một câu, câu thứ hai. Còn câu thứ nhất thì đành chịu.

 

Bài viết này vẫn còn tồn nghi.

 

Trần Văn Tích

02.07.2002

 

1 Loại thư là sách phân loại, vận thư là sách về vần. Bội văn vận phủ vừa là loại thư vừa là vận thư.

 

2 Hán ngữ đại từ điển, La Trúc Phong chủ biên, Joint Publishing Co., Ltd., Hongkong, 1988, 12 quyển. Trung văn đại từ điển, Chủ nhiệm Ủy viên Trương Kỳ Hu, Trung quốc Văn hoá Nghiên cứu sở, Trung hoa dân quốc ngũ thập nhị niên nhị nguyệt xuất bản, The Encyclopedic Dictionary of the Chinese Language, The Institute for Advanced Chinese Studies, Feb. 1963, 40 quyển.

 

3 Thơ Đỗ Phủ. Nhượng Tống dịch. Lê Đức Niệm sưu tầm, giới thiệu. Nhà Xuất bản Văn hoá Thông tin. Hà nội. 1966. tr. 190.

 

4 Cheng Win fu & Hervé Collet. Carrément Zen (Dứt khoát thiền). Moundarren. Millemont. 1997. :139.

 

5 Thơ văn Lý Trần ghi "mộng chim hạc", tôi chủ động đính chính lại.

 

6 Thơ văn Lý Trần ghi chữ ngự này với bộ sách, nhưng nó cũng được viết với bộ mã (theo cách viết của Hoàng Việt thi tuyển và Hán ngữ đại từ điển).

■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■ ■

Nhân Văn | Tin Văn | Phỏng Vấn | Ðiểm Sách | Ðọc Sách

Thư Viện | Thư Quán | Nối Vòng Tay | Biên Tập